Văn học Việt Nam trung đại

[Từ khóa: Nghĩa sĩ , nghĩa sĩ Cần Vương, văn học yêu nước nửa cuối thế kỷ XIX.]

NGƯỜI NGHĨA SĨ CẦN VƯƠNG TRONG VĂN HỌC YÊU NƯỚC NỬA CUỐI THẾ KỶ XIX


07-01-2026
Tóm tắt: Lịch sử Việt Nam thời trung đại có một phần quan trọng gắn liền với công cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, bảo vệ đất nước. Do đó, nhân vật nghĩa sĩ giúp vua chống giặc đã xuất hiện từ sớm với số lượng không nhỏ trong tác phẩm văn chương trung đại; đồng thời nhân vật nghĩa sĩ còn chịu ảnh hưởng của tư tưởng và bối cảnh thời đại, nên có sự biến đổi qua các giai đoạn, triều đại khác nhau. Quan sát nhân vật nghĩa sĩ Cần Vương trong văn học yêu nước cuối thế kỷ XIX, chúng ta có thể nhận ra điểm khác biệt độc đáo của những người nghĩa sĩ thời hậu kì trung đại và sự phản ánh một quan niệm mới về chữ "nghĩa", việc "nghĩa", đạo "nghĩa" của họ. Nhân vật nghĩa sĩ Cần Vương vừa mang nét kế thừa từ hào khí dân tộc được chung đúc qua nhiều thế hệ, vừa mang đặc điểm riêng biệt của thời đại mình. Tham luận mong muốn dựng lại bức chân dung nghĩa sĩ Cần Vương trong văn học yêu nước nửa cuối thế kỷ XIX; từ đó nhận diện sự khác biệt, độc đáo của người nghĩa sĩ Cần Vương so với "người đánh giặc" đã xuất hiện trước đó.

Trần Đức Dũng

PGS.TS. Trần Thị Hoa Lê

          Trong bộ phận văn học Việt Nam yêu nước chống ngoại xâm, nhân vật “người đánh giặc” luôn có sự vận động theo ý thức hệ của mỗi thời kỳ. Trong đó, chúng tôi quan tâm hơn cả đến người nghĩa sĩ thuộc phong trào Cần Vương, một giai đoạn đặc biệt trong sự nghiệp bảo vệ đất nước của dân tộc. Ở phong trào Cần Vương, cùng thời điểm nhưng tồn tại đến hai vị vua trên cùng một quốc gia, một vùng lãnh thổ, một triều đại, chính hoàn cảnh lịch sử đặc biệt này đã đặt những người nghĩa sĩ yêu nước vào một tình thế lựa chọn vị quân chủ với tiêu chí vì dân, vì nước. Đây chính là quan điểm chính trị độc đáo riêng, khác với các thời kỳ trước ở người nghĩa sĩ cuối thế kỷ XIX. Nó không chỉ còn là cái nhìn nhị phân đơn giản, phân biệt hai bên chiến tuyến mà còn là cái nhìn phân biệt “hai phe” trong cùng một đất nước, tạo thế đối lập giữa bên chủ chiến - gắn với lòng nhiệt thành yêu nước và bên chủ hòa được nhìn nhận như những kẻ xu nịnh thực dân Pháp, bán nước cầu vinh. Chính điều này đã chi phối ngòi bút và quan niệm sáng tác của những tác giả yêu nước thuộc phong trào Cần Vương.

        Từ hoàn cảnh thực tế của đất nước, sự quy định đến ý thức hệ của người nghĩa sĩ Cần Vương còn đến từ kẻ thù mà họ đối mặt: thực dân Pháp. Một kẻ thù xa lạ đến từ phương Tây với trình độ quân sự tiên tiến hơn quân ta. Nó tạo nên trong tư tưởng người nghĩa sĩ không chỉ là sự bất mãn mà còn là cả sự bất lực trước sự chênh lệch giữa ta và địch cùng sự thất vọng dành cho triều đình thân Pháp. Chính yếu tố này đã tạo nên bi kịch lạc thời đi cùng với hình tượng người trung nghĩa vốn ám ảnh trong văn học Cần Vương.

        Không phải chỉ có hai lý do trên tạo nên sự đặc biệt của người nghĩa sĩ trong phong trào Cần Vương, nhưng theo chúng tôi, đây là hai lý do chủ yếu và quan trọng nhất đóng vai trò trung tâm hình thành ý thức của giai đoạn. Từ sự khác biệt chưa từng có này, trong phạm vi bài viết, chúng tôi lựa chọn đối tượng là người nghĩa sĩ Cần Vương và đặt họ trong tiến trình văn học chống ngoại xâm thời trung đại nói chung văn học yêu nước chống ngoại xâm cuối thế kỷ XIX nói riêng để làm nổi bật sự độc đáo của loại hình người anh hùng nghĩa sĩ Cần Vương trong nền văn học nước nhà.

1. Từ “người đánh giặc” thế kỷ X - nửa đầu XIX đến người nghĩa sĩ nửa cuối thế kỷ XIX trong văn học yêu nước thời trung đại

        Để làm rõ quan niệm người nghĩa sĩ cuối thế kỷ XIX. Trước tiên chúng tôi tìm hiểu về “người đánh giặc” trong tiến trình văn học chống ngoại xâm thời trung đại Việt Nam. Chúng tôi sẽ mô tả những đặc điểm cơ bản, chung nhất từ thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XIX của loại hình nhân vật này, lấy đó làm cơ sở so sánh với người nghĩa sĩ cuối thế kỷ XIX trong dòng văn học chống ngoại xâm của dân tộc, và “người đánh giặc” giai đoạn trước cuối thế kỉ XIX, chúng tôi tạm khái quát qua ba đặc điểm:

Thứ nhất, vì vua đánh giặc, bị quy định bởi tư tưởng trung quân thuần nhất.

Thứ hai, vì dân đánh giặc như một trách nhiệm của trang dẹp loạn”, nhưng thực tế vẫn gắn liền với vua, với một ý thức triều đại. Dân với họ là một lý do để chinh chiến, là đối tượng để giữ nước, “giữ triều”, “lập triều”.

Thứ ba, là hào khí của người nhà binh nơi chiến trường. Đây có thể xem là một đặc trưng xuyên suốt trong con người đánh giặc từ xưa đến nay. Đến văn học nửa sau thế kỷ XIX, chúng ta vẫn sẽ tiếp tục bắt gặp hùng tâm tráng chí ấy ở những nghĩa sĩ nhưng đã có phần ảm đạm đi vì thời cuộc, mang nét bi hùng, có phần bế tắc ở giai đoạn sau.

        Ba đặc điểm đó của “người đánh giặc” trong hơn chín thế kỷ trước đã cho thấy nét khác biệt, độc đáo riêng của người nghĩa sĩ cuối thế kỷ XIX. Sự khác biệt mà chúng tôi nói đến không phải một sự khác biệt tuyệt đối, rạch ròi giữa hai giai đoạn mà nó sự biến chuyển, đổi thay dần dần. Nó như một tiền đề đánh dấu sự thoát ly khỏi tư tưởng trung đại và bước vào thời kỳ hiện đại mang tính cách mạng sau này, nó có yếu tố thời đại riêng biệt của những con người nghĩa sĩ cuối thế kỷ XIX.

       Bàn về quan niệm “nghĩa sĩ”, chúng ta cần chú trọng trước hết đến khái niệm “nghĩa” trong văn hóa phương Đông. Từ sớm, “nghĩa” đã được Nho gia khẳng định là một trong các đức tính của người quân tử. Tìm về nghĩa trong những cuốn từ điển chữ Hán, ta có thể thấy từ này xuất hiện từ sớm và có những lý giải khác nhau nhưng chúng tôi sẽ tập trung tìm hiểu những cách lý giải thống nhất với cách hiểu thuật ngữ “nghĩa sĩ” sau này trong văn học yêu nước cuối thế kỷ XIX ở Việt Nam. Theo cuốn, Tìm về cội nguồn chữ Hán - Gồm nhiều từ đã gia nhập vào kho tiếng Việt của tác giả Lý Lạc Nghị, “Nghĩa [] là chữ gốc của chữ []] (nghĩa là mẫu mực)” (Lý Lạc Nghị 1998: 469). Hình chữ được tạo ra bằng cách đặt đầu con dê lên trên vũ khí để biểu thị một sự uy nghi. Trong Hán Việt tự điển của Thiều Chửu, chúng ta có thể thấy các nét nghĩa của Nghĩa [] liên quan đến từ “nghĩa sĩ” sau này:

“1. Sự phải chăng, lẽ phải chăng, nên. Định liệu sự vật hợp với lẽ phải gọi là nghĩa.

3. Vì nghĩa, làm việc không có ý riêng vì mình nghĩa.

5. Làm việc vì người là nghĩa...” (Thiều Chửu 2002: 452-453)

          “Nghĩa” theo quan điểm của Nho gia cũng thống nhất với những ý nghĩa trên, xem đó là lẽ phải, là một quy chuẩn đạo đức của con người, là biểu hiện của người quân tử: “Quân tử dụ ư nghĩa, tiểu nhân dụ ư lợi (Quân tử thông hiểu đạo nghĩa, tiểu nhân thông hiểu lợi) (Quốc Trung biên soạn 2023: 137). Trong luận ngữ thiên Lý Nhân, Khổng Tử đã bàn đến điều nghĩa trong tương quan với “lợi”. Khổng Tử xem “nghĩa” như một phương cách ứng xử khác biệt giữa kẻ tiểu nhân và người quân tử với cộng đồng. “Nghĩa” chỉ sự tham dự của cá nhân [我 - Ngã] vào cộng đồng tạo nên những tương quan tốt đẹp trong mối quan hệ giữa người với người. Người quân tử thấy việc nghĩa thì không thể không làm - “kiến nghĩa bất vi. Sau Khổng Tử, Mạnh Tử bàn nhiều đến “nghĩa” hơn trong phạm trù “nhân nghĩa”. Ông phân biệt “nhân” là lòng người, là “ngôi nhà” tâm hồn, còn “nghĩa” là con đường mà lòng người đi: “Nhân, nhân chi an trạch dã. Nghĩa, nhân chi chính lộ dã” (Nhân là nơi trú ngu an toàn nhất của con người, nghĩa là con đường đúng đắn nhất của con người) (Quốc Trung biên soạn 2023: 468). Mối quan hệ giữa “nhân” và “nghĩa” là mối quan hệ giữa nguyên tắc và biểu hiện. Xác định quan điểm của “nghĩa” như một đức tính tốt đẹp trong phép ứng xử nhưng Nho giáo dường như vẫn khuôn nó vào phẩm chất của người làm vua, đạo quân tử: “Vương hà tất viết lợi? Diệc hữu nhân nghĩa nhi dĩ hỹ.(Đại vương chỉ nên để ý đến lòng nhân nghĩa, hà tất phải bàn đến lợi ích) (Quốc Trung biên soạn 2023: 354). Trong chính nền văn học trung đại Việt Nam, Nguyễn Trãi cũng từng sử dụng yếu tố “nghĩa” kết hợp với yếu tố “nhân” tạo thành một thông điệp có giá trị muôn đời dành cho các bậc quân vương trị vì đất nước: Nhân nghĩa chi cử, yếu tại an dân/ Điếu phạt chi , mạc tiên khử bạo (Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân/ Quân điếu phạt trước lo trừ bạo - Bình Ngô đại cáo - Nguyễn Trãi) (Trần Thị Băng Thanh 2004:146).

         Như vậy, ta có thể thấy, lúc này, khái niệm “nghĩa” là một yếu tố đạo đức gắn liền với ý niệm Nho giáo về thuật cai trị, là một yếu tố đạo đức của người thực hành chính trị. “Nghĩa” trong “nghĩa sĩ” vẫn chưa thực sự xuất hiện và phải đến nửa cuối thế kỷ XIX, gặp hoàn cảnh lịch sử đặc biệt - Triều đình nhà Nguyễn có thái độ đầu hàng thực dân Pháp, nhân dân Nam Bộ tự giác đứng lên kháng Pháp mà không cần đợi ý chỉ của triều đình, đòi hỏi một sự mở rộng hơn về nghĩa để giải thích cho hiện tượng đó. Từ đây, “nghĩa” không chỉ còn là một phẩm chất gắn liền với thuật cai trị, nó không chỉ còn là một phẩm chất đạo đức mà nó chuyển hóa trở thành “nghĩa khí” trong ý niệm hành động của con người đứng lên bảo vệ lẽ phải như sau này, Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh định nghĩa: “nghĩa sĩ” được giải thích là người nghĩa khí, hay hy sinh vì nước hoặc vì nhân loại (Đào Duy Anh 2005: 503). Người đầu tiên có “công” đưa ra một quan niệm phù hợp trong hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ là Nguyễn Đình Chiểu khi ông viết Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc. Như vậy, “nghĩa sĩ” trong thời điểm nửa cuối thế kỷ XIX được sử dụng chỉ những người dân chống Pháp cứu nước, xem đó là một việc đạo nghĩa và không thể chối từ gắn liền với tư tưởng hành động vì nhân dân. Nó khác với người đánh giặc trước đây, gắn lòng nhiệt thành, mối nhục quốc sỉ với vua. Giờ đây, lòng người nghĩa sĩ hướng về nhân dân và vì nhân dân: Mực sớ lãnh binh lờ mắt giặc/ Son bằng ứng nghĩa thắm lòng dân (Điếu Trương tướng quân liên hoàn thập nhị thủ - Bài số 2 - Nguyễn Đình Chiểu (Cao Tự Thanh và cộng sự 2023: 54).

        Chính bản thân thuật ngữ “nghĩa sĩ” đã hàm ẩn một bối cảnh đặc biệt và trong bối cảnh ấy đã tạo nên “thời đại đánh giặc mới”- một thời đại đích thực vì dân đánh giặc. Từ đây, “người đánh giặc” sẽ bao gồm tất cả mọi người trong xã hội chỉ cần có ý chí kháng Pháp “giúp nước vì dân” thì chính là nghĩa sĩ, nghĩa quân. Người dân bình thường đã bước chân vào địa hạt của văn học như một đối tượng được phản ánh, một nhân vật trung tâm của thời đại.

         Bàn thêm về từ “nghĩa sĩ”, ban đầu thuật ngữ này được Nguyễn Đình Chiểu sử dụng hàm ý để chỉ những người dân đứng lên chống lại thực dân Pháp xâm lược, không quản ngại hy sinh vì nghĩa lớn nhưng theo chúng tôi, phạm vi từ “nghĩa sĩ” nên được mở rộng hơn bao gồm cả những chủ soái, những người đứng đầu các nghĩa quân trong phong trào Cần Vương vì họ hoàn toàn phù hợp và mang đặc điểm mới của người đánh giặc cuối thế kỷ XIX.

2. Nghĩa sĩ Cần Vương - sự mở rộng trong phạm vi và sự đổi mới trong tư tưởng người đánh giặc

         Bàn về sự mở rộng “người đánh giặc” trong giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX, chúng ta trước tiên có thể thấy hình bóng của người nông dân trong Văn tế nghĩa Cần Giuộc. Nguyễn Đình Chiểu đã cho chúng ta thấy hình ảnh những người nông dân chưa từng đến “trường nhung nhưng họ vẫn sẵn sàng đứng lên chiến đấu kẻ thù xâm lược với vũ khí thô sơ:

“Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tẩu, bầu ngòi; trong tay một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gỗ.

Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia; gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ” (Bảo Định Giang 1973:41)

         Ở đây, Nguyễn Đình Chiểu đã làm nổi bật lên tấm gương trung nghĩa của người nông dân áo vải trong trường đối lập có và không. Tuy không được trang bị đầy đủ nhưng họ lại đủ sức đại diện cho cả một lớp người của thời đại, sẵn sàng hy sinh vì nghĩa, họ chính là lớp người mở đầu và mở đường đại diện tinh thần nghĩa sĩ của thời đại, chủ động tự đứng lên để cứu chính mình. Tuy nhiên, hệ tư tưởng Nho giáo vẫn phần nào chi phối những người đánh giặc giai đoạn này, trong lòng họ vẫn mang một nỗi niềm gắn với vua nhưng tư tưởng “vì dân” dần chiếm ưu thế hơn trong tư duy và hành động của những người nghĩa sĩ. Chính vì thế, Trương Định có thể sẵn sàng không nghe theo lệnh vua ở lại kháng Pháp cùng nhân dân: Bởi lòng chúng chẳng theo Thiên tử chiếu, đón ngăn mấy dặm mã tiền; Theo bụng dân phải chịu Tướng quân phù, gánh vác một vai khổn ngoại” (Điếu Trương tướng quân văn - Nguyễn Đình Chiểu) (Cao Tự Thanh và cộng sự 2023: 49). Như vậy, quan niệm “người đánh giặc” không còn là câu chuyện quân thân, ơn chúa như thuở trước mà đang xoay chuyển trở thành câu chuyện lòng dân. Không chỉ gắn “nghĩa” với “dân”, Nguyễn Đình Chiểu còn kết hợp “dân” vào trong khái niệm “trung nghĩa”, “trung thần” để chỉ một lớp người trung thành với vua nhưng cần đáp ứng điều kiện theo ý muốn của nhân dân: “Nguyễn Đình Chiểu cũng định danh những anh hùng đứng lên lãnh đạo nhân dân Nam Bộ đánh pháp trong bối cảnh triều đình yêu cầu giải giáp là những người trung nghĩa”, một khái niệm diễn tả lòng trung thành với triều đình có điều kiện. Điều kiện đó là lòng dân, ý dân” (Trần Nho Thìn 2018:102).

          Tiếp nối mạch nghĩa sĩ trong không khí thời đại cuối thế kỷ XIX từ thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, người nghĩa sĩ Cần Vương đã hướng về dân và quan tâm đến nguyện vọng của người dân. Trong Chiếu Cần Vương (Hàm Nghi Đế Chiếu), “theo nghĩa mà làm” đã trở thành một tiêu chí duy nhất và mở rộng phạm vi chiêu mộ đến khôn cùng, bình đẳng giữa các tầng lớp nhân dân, mong cầu sự giúp sức đến từ bách tính trong thiên hạ. Không chỉ trong Chiếu Cần Vương mà từ trước đó, sức mạnh của những người dân thường cũng đã được Nguyễn Xuân Ôn chú ý. Ông không chỉ đề cao vai trò đến nhân dân miền xuôi mà còn chú ý đến cả những người dân miền thượng du như một lực lượng vững mạnh để giúp đỡ triều đình chống địch trong các tờ biểu, bản tâu lên vua Tự Đức. Chính điều này đã tạo cơ hội để những người dân bình thường cùng với ý nguyện của họ được tiến dần vào văn học Cần Vương và trở thành một hình tượng về người nghĩa sĩ - người đánh giặc tự giác, chủ động vì nghĩa của nhân dân mà hành động

         Trong thơ văn Cần Vương, người nghĩa sĩ còn hiện lên trong hình tượng nhà nho áo vải, họ vốn là những người đọc sách vậy mà nhờ lòng căm thù giặc họ sẵn sàng đứng lên bảo vệ đất nước trong một tư thế oai nghiêm, kiêu hùng. Bài thơ Vãng hạt nội Mỹ Lộc duyệt đoàn dũng giản bang biện cử nhân Võ Bá Liêm, Nguyễn Xuân Ôn đã cho ta thấy một lớp người nghĩa sĩ nho sinh với khí khái hào hùng, anh dũng: Xuẩn nhĩ dương di hám hải quan,/ Tư hoàng cộng phấn hãn bang gian,/ Tinh kỳ phật ngạn phong vân biển,/ Khởi kích lâm giang thủy nguyệt hàn./ Giới trụ phi nho giả phục,/ Chương phùng nhân trước tướng quân quan./ Khả tri địch khái thần tâm hiệp,/ Bất tác tầm thường kiếm mã khan (Lũ người Tây ngu xuẩn kia dám dòm dỏ cửa biển của ta,/ Nhiều người hăng hái chống đỡ bước gian nan cho nước nhà./ Cờ xí phất phơ trên bến, gió mây dường như đổi sắc,/ Gươm giáo dàn bày bên sông, trăng nước ngó cũng lạnh lùng./ Người lính giáp trụ chính là kẻ mặc áo thư sinh,/ Khánh chương phùng nay đội mũ tướng võ./ Phải biết, mọi người đều chung lòng căm giận chống giặc,/ Không nên xem chỉ là hạng đeo gươm cưỡi ngựa tầm thường) (Nguyễn Đức Vân và cộng sự 1977:122).

          Nếu như, bốn câu đầu của bài thơ đã dựng nên một khung cảnh duyệt binh tráng lệ của một quân đội thiện chiến thì bốn câu sau, tác giả lại làm ta bất ngờ bởi đội quân đó hóa ra lại là những người học trò chưa từng tham gia huấn luyện quân đội. Cái làm cho họ có một khí chất hùng tráng như vậy là nhờ vào sự “địch khái thần tâm hiệp đã tạo nên sự đoàn kết và chủ động, giúp cho những người nho sĩ trở thành những người nghĩa sĩ trên chiến trường. Đây chính là sự mở rộng phạm vi người đánh giặc, đồng thời cũng cho chúng ta thấy một tinh thần ứng nghĩa của thời đại Cần Vương. Sự ứng nghĩa không chỉ đến từ những người học trò mà còn đến từ những người nông dân trong bối cảnh lúc bấy giờ: “Y quan sĩ tận nhẫm kim cách Sao lạp nhân giai thi trạch bào” (Phường phu áo mũ đều ăn nằm trong chốn áo giáp và gươm đao,/ Người nông dân tơi nón cũng thề chung áo để giết giặc - Khấp Thanh Hóa, Hải Phòng tham biện Nguyễn Phương nghĩa tử - Nguyễn Xuân Ôn) (Nguyễn Đức Vân và cộng sự 1977:177). Có thể nói, sự mở rộng phạm vi đưa những con người bình phàm trở thành đối tượng miêu tả trong thơ văn chống ngoại xâm chính là một bước tiến trong nhận thức chính trị của thời đại, những người dân từ vị trí vai trò của một “bộ lọc” chính nghĩa đã chủ động tham gia bảo vệ đất nước và cứu lấy cuộc sống của bản thân mình.

        Sự khác biệt so với người nghĩa sĩ trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu với người nghĩa sĩ Cần Vương là ở góc độ loại hình của hình tượng nhân vật nghĩa sĩ. Trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, hình tượng người nghĩa sĩ thường là người nông dân Nam Bộ gắn với môi trường xã hội xung quanh ông, còn người nghĩa sĩ Cần Vương cùng xuất thân từ người dân bình thường nhưng họ đa phần là hình tượng của những nho sĩ gắn với sự xuất hiện của chiếu Cần Vương. Vì vậy, tuy ở trên, ta có thấy người nông dân trong thơ văn Cần Vương nhưng họ chỉ xuất hiện thoáng qua, chưa đạt đến tầm hình tượng như trong sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu. Đồng thời, vì người nghĩa sĩ Cần Vương chịu quy định về xuất thân, nên cách họ hình dung về nghĩa và thực hiện việc nghĩa có phần “sùng cổ” - gắn với vua và nợ công danh. Nhưng ở đây, ta cần chú ý vua là vị vua yêu nước và công danh là vì dân, thuận theo lòng dân. Trong lời khuyên bạn của Lê Thượng Nghĩa ta cũng có thể dễ dàng bắt gặp điều này. Với bài thơ Khuyến Hữu của mình, ông dường như muốn tách đôi bài thơ của mình thành hai phần đối lập, hai câu đầu nói đến triều đình đã cầu hòa và hai câu cuối lại chỉ đến vị vua Cần Vương, chủ chiến quyết tâm đánh giặc bảo vệ non sông. Cùng với đó, ông trực tiếp bày tỏ chí nguyện của mình một lòng theo Cần Vương dù có phải chết nơi sa trường cũng phải bảo vệ non sông và giữ gìn sơn hà: Triều đình cảt địa dĩ cầu hòa/ Bạch quỷ tiệm thôn ngã quốc gia/ Ngô bối Cần Vương nghi tử chiến/ Bất giao di dịch nhập kinh hoa (Triều đình nhường đất cốt cầu hòa/ Giặc dữ mưu dần chiếm nước ta/ Một dạ theo vua dầu phải chết/ Ra tay gìn giữ lấy sơn hà – Khuyến hữu- Lê Thượng Nghĩa) (Phan Canh và cộng sự 1997:230).

           Hay trong lời khuyên của ông với nghĩa binh, ta càng thấy rõ ông đứng về phe nhân dân, vì hạnh phúc của nhân dân và xoay chuyển tâm điểm của chữ “trung” từ vua về phía người dân: Hoàng thượng dĩ can hàng ngoại khẩu/ Vị dân ngự địch thị trung thần (Vua đà hàng lũ giặc ngoài/ Vì dân giữ nước mới là tôi trung - Khuyến nghĩa binh- Lê Thượng Nghĩa) (Phan Canh và cộng sự 1997: 231).

           Như vậy, ta có thể thấy sự đổi mới quan niệm người đánh giặc trong văn học Cần Vương, người đánh giặc giai đoạn này tuy vẫn mang ảnh hưởng của văn hóa trung đại về vị trí và vai trò của quân - quốc nhưng “nghĩa” không còn đặt trong tương quan với vua mà “nghĩa” giờ đây được xoay chuyển trọng tâm hướng về nhân dân, đồng nhất dân với nước thực hiện một lý tưởng “vì dân”. Chính từ tư tưởng này, những nghĩa sĩ Cần Vương đã vượt thoát ra khỏi phạm vi lãnh thổ công nhận những người ngoại quốc như một người bạn tri kỷ trong sự nghiệp kháng chiến bảo vệ dân tộc của mình. Điều này được thể hiện khá rõ trong thơ văn Nguyễn Quang Bích, ông đã dành một dung lượng không nhỏ trong thơ ca của mình để bày tỏ tình cảm với hai người Trung Hoa là Lưu Quân và Chu Thiết Nhai. Lưu Quân (Lưu Vĩnh Phúc) là một vị tướng của quân Cờ Đen buộc phải rút quân về nước theo lệnh triều đình nhà Thanh nhưng dùng dằng không muốn đi vì sự nghiệp kháng chiến chống Pháp của dân ta chưa thành: Văn đạo Nam - khê khứ bộ trì,/ Quân tâm bất lạc, ngã tâm bi./ Viêm thiên vũ lộ trường minh khắc,/ Do hữu lại nhân đỉnh hội kỳ (Nghe nói Nam Khê chậm vó câu,/ Lòng kia buồn bã, dạ này đau./ Trời Nam mưa móc nên ghi nhớ,/ Gặp gỡ duyên còn ước hẹn nhau - Quả Lưu Quân đệ trạch cảm tác IV) (Kiều Hữu Hỷ và cộng sự 1973: 67).

         Tương tự, với Chu Thiết Nhai, ta cũng có thể thấy một tấm lòng đồng điệu như vậy giữa ông với Nguyễn Quang Bích nên muốn cùng chung sức ra tay nhổ loài cỏ dại làm hại dân - giặc Pháp: Thuần dao kỷ độ đàm tâm xứ,/ Thệ bả phi miêu tận lực sam (Đã bao lần nhắp chén rượu tri âm tỏ bày tâm sự,/ Thề ra sức nhổ sạch loài cỏ dại - Điếu Thiết Nhai) (Kiều Hữu Hỷ và cộng sự 1973:130).

        Sự ra sức đồng lòng này có lẽ bắt nguồn từ một sự cảm thông chung hoàn cảnh giữa hai nước, Chu Thiết Nhai tuy giữ chức phiên phó sứ của triều đình Trung Quốc nhưng chính ông cùng một số quan lại miền Nam bất mãn với chính sách nhu nhược của Thanh triều nên ông rất có cảm tình với phong trào kháng chiến Cần Vương của người Việt. Có thể nói, Lưu Vĩnh Phúc và Chu Thiết Nhai là hai trường hợp tiêu biểu nhưng không phải hai trường hợp duy nhất, trong hành trình cầu viện của nghĩa sĩ Cần Vương với triều đình nhà Thanh.

3. Người nghĩa sĩ Cần Vương - một lớp người mang bi kịch lưỡng lập trớ trêu

        Bàn về người nghĩa sĩ yêu nước cuối thế kỷ XIX, các nhà nghiên cứu đa phần đều định danh họ là một lớp người đầy bi kịch. Bi kịch của họ bắt nguồn từ sự mâu thuẫn thời thế với lý tưởng con người, hay đúng hơn đó là mâu thuẫn thời đại - một thời đại Nho học suy tàn của những lớp người bị kẹt lại trong quẩn quanh và bế tắc. Chính vì vậy, ở đây, chúng tôi muốn khám phá họ qua bi kịch của một lớp người lưỡng lập trớ trêu bởi dù họ có nhận thức được thời cuộc, nhận thức được bi kịch của mình nhưng lại không thể không làm, bắt buộc phải làm, phải tuân theo con đường cứu nước của hệ hình tư tưởng phong kiến. Có thể nói, “cách mạng” chưa này sinh nhưng những tiền đề xã hội và tư tưởng của nó đã tiềm ẩn trong những con người nghĩa sĩ giai đoạn cuối mùa để bước sang giai đoạn lịch sử đầu thế kỷ XX, nó trở thành cuộc cách mạng dân tộc và dân chủ. Chính vì vậy, những người nghĩa sĩ Cần Vương mới rơi vào bi kịch của sự lưỡng lập trớ trêu.

           Khác với những con người đánh giặc thuở trước mang hùng tâm tráng chí dù có thất bại nhưng họ bi mà không lụy, giữ trọn vẹn sự hào hùng và niềm tin vững vàng của một con người giúp vua đánh giặc. Nhưng ở thời điểm cuối thế kỷ XIX, những người nghĩa sĩ đầy lòng nhiệt thành lại phải chứng kiến một hiện thực nghiệt ngã đến từ vua quan đương thời, sự vô trách nhiệm, hèn kém của những kẻ lẽ ra phải là “trang dẹp loạn” của thời đại. Trong thơ Nguyễn Xuân Ôn, ta có thể thấy hình ảnh nhà vua trong tình cảnh đất nước đang bị xâm lăng nhưng vẫn đi ngao du thưởng ngoạn và săn bắn. Qua các bài thơ cảm tác khi hộ vệ vua, ta nhận thấy các bài thơ này đều bày tỏ tấm lòng lo nước thương của người nghĩa sĩ trung nghĩa trước tình cảnh đất nước nhuốm đầy gió bụi nhưng lại thiếu đi người đồng hành chung chí hướng. Trong bài Hộ giá hạnh Thuận Trực xạ liệp, dạ khởi châu trung tác I, ta cảm nhận rất rõ sự lạc lõng của tấm lòng người nghĩa sĩ khi ở trên thuyền vua, nơi lẽ ra phải có những con người bừng cháy quyết tâm quét sạch quân thù vậy mà ông lại phải cất tiếng thở than: Giai hành thùy dữ tu qua kích/ Độc xử hà kham ức chẩm khâm (Cùng đi, ai là người cùng ta sửa cây giáo kích,/ Ở một mình, không thể nghĩ đến cái gối, cái chăn) (Nguyễn Đức Vân và cộng sự 1977:138). Qua hai câu thơ này, tuy tác giả không nói trực tiếp nhưng sự thiếu vắng người chung tấm lòng, ta cũng có thể ngầm hiểu một sự thất vọng của ông đối với người làm chủ đất nước.

        Nói về vua, ông vẫn chịu tư tưởng quân thần nên lời lẽ có phần ngầm ẩn, thất vọng nhưng chưa đến mức đả kích như khi ông nhìn những kẻ quan lại hèn kém thờ ơ trước tình cảnh nhân dân, đất nước: Thành trì phó mặc mấy thằng Tây,/ Thế cũng cân đai mũ với giầy! Một nước cơ đồ tan nát vậy,/ Muôn dân đồ thân xót xa thay./ Những phường trở đậu ngồi trơ mắt,/ Mấy lũ can thành đứng chắp tay./ Cơm nặng áo dầy thì cũng thế,/ Phong trần rứa mãi biết sao đây? (Cảm tác I - Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Đức Vân và cộng sự - 1977:245).

        Ông không ngần ngại hạ bệ những đấng bậc chỉ còn cái mã qua việc đan xen giữa lớp ngôn từ thuần Việt với Hán Việt bằng giọng chế nhạo. Nguyễn Xuân Ôn đã lật tẩy sự “lệch chuẩn” của xã hội, sự kém cỏi của những kẻ “cân đai, trở đậu, can thành” giờ đây chỉ biết “trơ mắt, “chắp tay trở thành “bù nhìn” để mặc mấy thằng Tây. Những người nghĩa sĩ ý thức rất rõ tình cảnh của mình, họ không lạc quan đến mù quáng, họ nhận ra tất cả những khó khăn “đời thường” của quân ta và đem cả những khó khăn “ghi” vào trong thơ ca. Như cách Nguyễn Quang Bích từng miêu tả về khó khăn thiếu quân lương của nghĩa quân: Tặc phân mãn địa thải xi trương,/ Sổ thập bì sư nhật sách lương” (Khắp nơi, giặc hung bạo như diều hâu giương cánh,/ Vài chục toán quân mỏi mệt hàng ngày chạy kiếm lương ăn - Quân lương khuyết phạp) (Kiều Hữu Hỷ 1973:145). Không chỉ đối mặt với những khó khăn của cuộc chiến bảo vệ dân tộc, họ còn ý thức được thời cơ không đứng về phía mình nhưng vẫn ôm mối hy vọng chờ đợi vận may tới: Thái vận vị lai ưng sĩ mệnh (Vận may chưa tới hãy nên chờ đợi - Cảm tác V- Nguyễn Xuân Ôn) (Nguyễn Đức Vân và cộng sự 1977:159).

          Bi kịch của thời đại được đẩy lên đến đỉnh điểm khi họ nhận ra điều răn của sách thánh hiền đã không thể áp dụng được vào thực tế: “Minh thế văn chương thụ quyển tri,/ Thánh hiền trung giáo tổng thành khi (Nhờ văn chương nổi tiếng với đời, được bề trên yêu và biết đến,/ Lời dạy trung thực của thánh hiền đều hình như lừa dối ta - Cảm thuật III - Nguyễn Xuân Ôn) (Nguyễn Đức Vân và cộng sự 1977: 210). Dù nằm lòng giáo lý Nho gia nhưng giờ đây, họ đã nhận ra sự khác biệt giữa xưa và nay, những lời thánh hiền dường như không thể áp dụng vì bối cảnh đã đổi thay. Điều này, giống với lời tâm sự của Phan Bội Châu trong bài thơ Xuất dương lưu biệt nhưng nếu ở thế kỷ sau Phan Bội Châu tìm con đường cứu nước mới thì những nghĩa sĩ Cần Vương bị trói chặt với con đường cứu nước phong kiến quân chủ. Họ không đi tìm và cũng không có ý thức kiếm tìm con đường mới nên quẩn quanh với con đường cứu nước truyền thống. Qua đó, ta nhận thấy rằng, một mặt những người nghĩa sĩ Cần Vương nhận thức được khó khăn mới của thời đại nhưng mặt khác chính họ thiếu đi sự uyển chuyển dẫn đến việc lạc hướng khi đồng nhất một cách cứng nhắc chính trị với tri thức tạo nên khoảng cách kỹ thuật giữa ta và địch. Chính vì vậy, ta có thể nhận thấy giọng điệu chua xót vang vọng trong sáng tác thơ ca giai đoạn này: “Báo quốc thần tâm bất cảm khuy,/ Na kham nhân sự mỗi tương vi” (Lòng tôi báo trước chẳng dám chút đơn sai, Ngán cho việc đời cứ trái ngược lòng tôi - Thuật hoài - Nguyễn Xuân Ôn) (Nguyễn Đức Vân và cộng sự 1977:161).

       Sự chua xót của họ thậm chí đã chuyển thành sự bất lực với một ước mong được buông bỏ, được tiêu dao: Phù vân thế sự cửu di vương,/ Bất tác si hồn mộng cố hương./ Đào cảnh an tri phùng Hán Tấn,/ Cúc song do tưởng ngọa Hi Hoàng./ Vô đoan phất uất duyên hà hứa,/Hổt tự chinh xung dục khiếu cuồng./ Khổ hận thiên hoài nan khiển khứ,/ Tiêu dao thùy vị chế y phương? (Việc đời như mây nổi, đã quên đi từ lâu,/ Chẳng làm mảnh hồn si dại mơ về làng cũ./ Cảnh đào nguyên ngờ đâu gặp Hán Tấn, Bên cửa sổ trông ra vườn cúc, còn ngỡ như Hi, Hoàng đang nằm đó./ Vô cớ, vì đâu mà tức tối,/ Bỗng dưng sợ hãi quá muốn thét lên như điên./ Nỗi niềm khổ hận khó lòng xua tan được,/ Có ai vì ta mà chế cho phương thuốc tiêu dao - Khách trung cảm tác - Nguyễn Cao) (Phan Văn Các 1992:61).

        Nếu Nguyễn Xuân Ôn chỉ cất lên tiếng than thở thì trong bài thơ Khách trung cảm tác, Nguyễn Cao dường như đã có ý nghĩ về ở ẩn, buông bỏ việc đời. Bốn câu thơ đầu của bài thơ, tác giả sử dụng những hình ảnh, điển tích gợi lên cái thú nhàn tản, “bỏ quên đời” của người xưa, quay trở để đắm mình trong sự thanh sạch của tự nhiên. Nhưng ước muốn quay về ẩn cư đấy chỉ xuất hiện một cách thoáng qua, lý trí đã kéo ông trở về với bổn phận, trách nhiệm của mình và khi quay về với thực tại, nhận thức được tình cảnh trớ trêu của mình mà “vô cớ” ông trở nên tức tối, “sợ hãi” rồi “hóa điên” vì nỗi khổ hận nghẹn ứ trong lòng không cách nào xua tan, không cách nào buông xuống. Ông chỉ đành cầu mong một liều thuốc tiêu dao. Trong chú thích, thuốc tiêu dao chỉ một phương thuốc mát, chữa các chứng nóng nảy bồn chồn nhưng có lẽ nên hiểu là một phương thuốc cho con người được tự do giữa trời đất. Bởi xét cho đến cùng, cái nóng nảy, bồn chồn kia là gì nếu không phải mâu thuẫn thời thế với lý tưởng nhà nho muôn thuở không thành. Ở đây, ta thấy một tâm trạng giằng xé, day dứt chứ không chỉ còn là một nỗi thở than chua xót thông thường. Nhưng sau cùng, những người nghĩa sĩ vẫn đứng lên ứng nghĩa, tin vào một ngày mai đất nước thái bình với chế độ cai trị của nhà vua: “Hà Bắc chung đương thu Quách, Lý,/ Lương kinh bất nhật phục Đường cung” (Hà Bắc thế nào cũng dùng những người như họ Quách, họ Lý,/ Chẳng bao lâu hai kinh sẽ trở về với nhà Đường - Sóc vọng bái II - Nguyễn Xuân Ôn) (Nguyễn Đức Vân và cộng sự 1977:183).

         Đây chính là điều mà chúng tôi gọi là bi kịch lưỡng lập trớ trêu. Họ nhận ra tất cả những khó khăn nhưng lại không có một “cú huých” trong tư duy để biến cải, để tìm ra con đường cứu nước mới. Dù cảm nhận được sự chua xót của thời thế, họ không thể “dứt tình ra đi” mà vẫn bám víu vào một nhà nước quân chủ theo lời dạy Khổng Mạnh. Bi kịch ấy xuất phát từ nhận thức sâu sắc về bổn phận đối với đất nước, thời cuộc và dân chúng khiến họ buộc phải đi theo con đường đã định, dù biết rằng những thất bại từ đường lối, chính sách triều đình, hiện thực xã hội và sức mạnh của quân thù luôn đè nặng. Tuy vậy, niềm tin lạc quan vào ngày xuân sắp tới vẫn không tắt trong lòng họ, dẫn đến sự bi hùng trầm mặc và mặc cảm “con người thừa” trong tư tưởng vì thiếu đi một cảm hứng “tìm đường” như ở giai đoạn sau.

          Bàn về nỗi bi hùng của thời đại như một biểu hiện của bi kịch lưỡng lập trớ trêu, chúng ta có thể thấy nó không chỉ là cảm xúc đau đớn mà còn chứa đựng sự bất lực tuyệt vọng. Trước đó, ta chỉ nhận thấy một bi kịch bất phùng thời trong Cảm hoài của Đặng Dung nhưng ở dòng văn học của người nghĩa sĩ Cần Vương lại ghi nhận một loạt sáng tác theo cảm hứng tuyệt mệnh thi, lâm hình thời tác và tư tưởng “không lấy thành bại luận anh hùng”. Dù tư tưởng ấy có phần đúng đắn nhưng nó cũng như một thông báo về những thất bại đã qua và một niềm tin chiến thắng còn mong manh phía trước.

         Trong dòng cảm xúc buồn đau thương cảm đó, các nhà thơ, nhà văn, nghĩa sĩ bộc bạch tâm sự mạc tương thành bại luận anh hùng khi nghĩ về những người đồng đội đã hy sinh, bị bắt hoặc mất tích. Trong những bài thơ mang tâm sự đó, ta thường có thể thấy bài thơ ca ngợi công lao, tài đức làm tiền đề cho sự tiếc thương phía sau để rồi khẳng định không nên lấy thành bại mà luận anh hùng, khi ra chiến trường vì nghĩa họ là anh hùng của thời đại. Các nhà thơ của thời đại Cần Vương muốn nhấn mạnh rằng giá trị của người anh hùng nằm ở hành động mà không phải kết quả. Trong bài Phỏng Thanh Đàm công tiêu tức bất kiến, bi thuật (Nguyễn Đức Vân và cộng sự 1977:110), Nguyễn Xuân Ôn đã cho ta thấy tấm lòng hào hiệp, vì dân, vì nước của ông Thanh Đàm giữa thời loạn: “Chi hướng tử sinh cầu tiết nghĩa” (Chỉ nhằm vào chỗ sống chết để tìm người tiết nghĩa). Từ đó, Nguyễn Xuân Ôn cất lên dòng suy tưởng: “Mạc tương thành bại luận anh hùng (Không nên đem việc thành bại mà đánh giá bậc anh hùng). Đây là dòng suy tư đậm chất hiện thực pha trong đó cả sự mâu thuẫn của cái lưỡng lập. Một mặt nó thể hiện tư tưởng kiên cường bất khuất hết lòng vì nghĩa lớn, mang âm hưởng “bất phục hoàn” nhưng mặt khác nó là bằng chứng của sự thất bại hiện hữu, khi nó tràn ngập trong các bài văn tế, thơ khóc thương chứ không phải thơ cổ vũ ra trận. Chính điều này đã phơi lộ dòng cảm xúc sâu kín đầy trớ trêu của những nghĩa sĩ “quyết tử” cho một đất nước “quyết sinh”.

        Cùng với cảm hứng không lấy thành bại luận anh hùng, dòng thơ tuyệt mệnh thị, lâm hình thời tác đã khắc họa bi kịch trớ trêu của những người nghĩa sĩ Cần Vương. Cảm hứng sáng tác ấy đã chảy chung dòng với tư tưởng “không lấy thành bại luận anh hùng” ở phía trên. Bởi trong đó, ta cũng thấy có một sự mâu thuẫn hiện hữu trong lời thơ. Các tác giả của dòng thơ tuyệt mệnh thi, lâm hình thời tác không hề coi cái chết là một điều đau khổ, những lời tuyệt mệnh đầy hào sảng, khẳng định cái chí khí ngút ngàn của người đánh giặc muôn thuở: “Tuyệt đại tài hoa tín thủ thân,/ Nhất sinh trung hiếu khuất nhi thân./ Nhi kim chính khí hoàn thiên địa,/ Tình phách thường tùy quân dữ thân” (Vượt hẳn tài hoa rất tự tin,/ Một đời trung hiếu dám nào kinh./ Mà nay chính khí trao trời đất/ Hồn vẫn vua, cha quấn quýt tình - Lâm hình thời tác - đặng Hữu Phổ) (Phan Canh và cộng sự 1997:192).

         Nhưng đồng thời, trong những phút lâm chung ấy, ta cũng ghi nhận cả những nỗi buồn bất lực khi hiện thực xã hội không cho phép tấm lòng cứu quốc được thăng hoa: Cần Vương thệ dữ Bắc Nam đồng,/ Vô nại khuông tương lộ vị thông./ Vạn cổ cương thường vô Nguy Thảo,/ Bách niên tâm sự hữu Quan Công./ Thiên thư phận dĩ sơn hà định,/ Địa thế sầu khan thảo mộc cùng./ Kỷ ngữ phù trầm tư thế giả,/ Hữu tương thành bại luận anh hùng (Cần Vương nam bắc kết tơ đồng,/ Cứu giúp đường kia khổ chửa thông./ Muôn thuở cương thường ai Ngụy Tháo?/ Trăm năm tâm sự có Quan Công./ Non sông phần tự thơ trời định, Cây cỏ buồn xem thế đất cùng./ Chìm nổi đời này ai đó tá?/ Chớ xem thành bại luận anh hùng - Lâm hình thời tác - Nguyễn Duy Hiệu) (Phan Canh và cộng sự 1997:194).

        Sự bất lực của họ bắt nguồn từ một thời cuộc khó lòng thay đổi; dù ra sức vì nước vì dân, cuối cùng kết quả lại là thất bại trong sự nghiệp cứu nước, khiến người nghĩa sĩ không khỏi bi ai thốt lên: “Hữu chỉ bất thành, anh hùng hĩ!/ Vị tiệp tiên tử, thiên ý vị hà?” (Có chí không thành, anh hùng thôi vậy!/ Chưa thắng đã chết, ý trời ra sao? - Khấp Cao Thắng - Phan Đình Phùng) (Phan Canh và cộng sự 1997: 63). Sự trớ trêu trong bi kịch của họ chính là đến từ sự bất lực trước thời cuộc nghiệt ngã không toại lòng người khiến những người rực cháy tấm lòng yêu nước phải “dở dang” trong một sự nghiệp cứu nước đã “lỡ làng”.

        Bi kịch lưỡng lập trớ trêu là sự bất lực của người nghĩa sĩ Cần Vương quyết tâm vì nghĩa lớn nhưng lại nhận ra mâu thuẫn giữa những giáo lý họ tu dưỡng suốt đời đã trở nên không phù hợp với thực tiễn lịch sử mới. Họ nhận ra sự bất lực và bất khả của bản thân mình trước hiện thực lịch sử đương thời làm dấy lên trong lòng họ một nỗi mặc cảm “con người thừa”, “con người vô dụng” không hoàn thành bổn phận đang mang. Chính vì vậy, ta nhận thấy một nhu cầu tuyên ngôn cho lẽ sống của bản thân mình và lời khẳng định giá trị sống của chính mình trong văn học giai đoạn này. Dường như, những người nghĩa sĩ ấy rất sợ hãi đời sống của bản thân mình trở thành một kiếp “đời thừa”, “một kẻ ăn bám” trong xã hội: “Lượng lực năng vô thi tổ si,/ Phạt đàn thùy vị khởi ca” (Tự lượng mình không đến nỗi mang nỗi thẹn là kẻ ngồi không ăn bám,/ Thơ Phạt đàn ai đã gợi cho ta - Tuế mộ khách cư thư hoài - Nguyễn Cao) (Phan Văn Các 1992: 58). Thậm chí, người nghĩa sĩ còn giãi bày tấm lòng mình khi bị giặc bắt mà không chết để giữ tiết vì muốn ôm một hy vọng chờ thời, quay trở lại cứu dân cứu nước:Lam xa bất tử phi hy hạnh,/ Bào Thúc hoàn đương lượng Quản Di” (Xe bỏ cũi không chết, không phải là cầu may/ Bào Thúc cũng nên lượng tình cho Quản Di Ngô - Hà Nội đồng niên tam nguyên Nguyễn công trưởng tử Nguyễn Hoan phó điện thí tương tỉnh kiến, tặng thập nguyên, thỉnh từ đối liên nhân ký tặng I - Nguyễn Xuân Ôn) (Nguyễn Đức Vân và cộng sự 1977.235). Ví mình giống như Quản Di Ngô, Ngọc Đường tiên sinh không chỉ thể hiện một khát vọng giúp đời mà còn bộc bạch một giá trị giữa đời. Đây có thể xem là một sự phản kháng đời thường để khẳng định bản thân vì thực tâm ông biết bản thân mình đã thất bại trước lẽ sống mà mình hằng theo đuổi, đời sống của mình thực sự đã trở thành một kiếp “thừa” mà lịch sử trăm năm Nho giáo “bỏ quên” khi lý tưởng của nó phai nhạt không còn hữu ích cho đời sống hiện tại của nhân dân. Khi nhu cầu khẳng định giá trị sống xuất hiện có lẽ chính là lúc họ nhận ra bản thân thực sự là những kẻ cuối mùa bị mắc kẹt, một kiếp sống thừa của xã hội đang từng bước chuyển mình trong nội tại mà không còn phù hợp với chính họ. Sự đấu tranh khẳng định giá trị sống ấy lại vấp phải hiện thực lịch sử khiến bản thân trở thành một kẻ “vô dụng”: “Thượng vô dĩ bảo đảo quân phụ,/ Hạ vô dĩ chửng tế sinh linh” (Trên vua cha đã không báo đáp,/ Dưới dân chúng lại chẳng bù trì - Tự phận ca - Nguyễn Cao) (Phan Văn Các 1992:112). Để rồi, người nghĩa sĩ đau xót cất lên câu hỏi ai oán: “Ta ta tạo vật, hề dĩ ngã vi sinh? (Hỡi ơi trẻ tạo, sinh ta làm chi?- Tự phận ca - Nguyễn Cao) (Phan Văn Các 1992:111). Đây là lần đầu tiên trong lịch sử khi Nho giáo ngự trị với tư cách là hệ tư tưởng chính thống của Việt Nam, những người trí giả cất lên câu hỏi nghiệt ngã về giá trị sống, ý thức sự bất lực trước hiện thực lịch sử của bản thân. Câu hỏi này của Nguyễn Cao như một tổng kết tự ý thức về thân phận, số phận của những nghĩa sĩ xuất thân từ nho sĩ trong văn học Cần Vương. Một bi kịch tự phận ca.

4. Kết luận

       Văn học yêu nước cuối thế kỷ XIX giữ vị đặc biệt trong tiến trình văn học dân tộc. Sự đặc biệt của nó được phản ánh một cách sâu sắc qua những con người đánh giặc cuối cùng của thời trung đại, lớp người nghĩa sĩ được khai sinh vào giai đoạn cuối mùa này có lẽ được thể hiện rõ ràng nhất trong những nghĩa sĩ Cần Vương cứu nước với hai đặc điểm nổi bật mà chúng tôi đã nêu ở trên- sự mở rộng phạm vi và đổi mới quan niệm người đánh giặc cùng bi kịch lưỡng lập trớ trêu mà họ đang mang.

      Sự mở rộng phạm vi và đổi mới quan niệm người đánh giặc được thể hiện trong người nghĩa sĩ Cần Vương thực chất là sự quay trở về với nhân dân một cách thực lòng mà không phải chỉ là những diễn ngôn có tính chất bệ đỡ thiết chế triều đại. Tiếp nối mạch nguồn do Nguyễn Đình Chiểu gợi dẫn, chúng ta chứng kiến hình bóng người dân thường trong dòng chảy văn học Cần Vương cứu nước đặc biệt là những nho sinh xuất hiện và trở thành hình tượng nghệ thuật độc đáo. Tuy chịu tư tưởng của văn hóa trung đại về mối quan hệ quân thần nhưng nó chỉ là một sự viện dẫn thuận theo đạo lý mà họ dùi mài đã lâu còn thực chất điều mà người nghĩa sĩ Cần Vương quan tâm hơn cả là nhân dân.

         Chúng tôi cho rằng, nói bi kịch người nghĩa sĩ Cần Vương là một bi kịch của sự lưỡng lập trớ trêu sẽ giúp khái quát một cách bao trùm toàn bộ những bi kịch của những người nghĩa sĩ cuối thế kỷ XIX. Nó bắt nguồn từ một sự hoang mang, bế tắc mang tính thời đại. Đặt những nhà nho phong kiến truyền thống vào một hoàn cảnh lịch sử hoàn toàn mới đòi hỏi một con đường cách mạng vượt ngoài nhận thức “quân thân” đã tạo ra bi kịch của họ. Việc đánh giá lựa chọn của người nghĩa sĩ đúng hay sai luôn bất khả, bởi họ chỉ có thể cuốn theo bánh xe lịch sử khắc nghiệt, khi chưa đủ điều kiện để mở ra một hướng đi mới. Điều này chính là tâm sự chưa ngã ngũ của Nguyễn Khuyến khi viết bài văn tế ai điếu vong hồn quan Tổng đốc thành Hà Nội Nguyễn Tri Phương năm 1873: Than ôi! Sự hy sinh của Tướng quân là đúng hay không đúng đây? Người bảo là đúng thì cho rằng... Người bảo không đúng thì cho rằng... Có người tiếc cho ông thì nói rằng... người hận cho ông mà nói...” (Nguyễn Văn Huyền 1984:646). Bài văn tế “phá cách” về mặt thể loại này chính là biểu hiện của một xã hội đương thời ngổn ngang tâm sự đầy bối rối của ngã ba đường “đánh - giữ - hòa” mà đường nào dường như cũng chỉ đến một điểm đích là “ngõ của sự thất bại”. Đây chính là cái “cảnh ngộ kỳ lạ” mà chói lòa chính khí hào hùng của người nghĩa sĩ Cần Vương, vẻ đẹp oanh liệt thảm sầu hậu thế còn đồng cảm và tiếc nuối.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

• Đào Duy Anh. 2005. Hán Việt từ điển. Hà Nội: NXB Văn hóa - Thông tin.

• Kiều Hữu Kỷ, Lã Xuân Mai, Nguyễn Văn Bách, Nguyễn Binh Khôi, Đinh Xuân Lâm. 1973. Thơ văn Nguyễn Quang Bích. Hà Nội: NXB Văn học.

• Phan Văn Các. 1992. Thơ văn Nguyễn Cao. Hà Nội: NXB Khoa học Xã hội.

• Phan Canh. 1997. Thi ca Việt Nam thời Cần Vương 1885-1900. Hà Nội: NXB Khoa học Xã hội.

• Cao Tự Thanh, Đoàn Lê Giang, Nguyễn Thị Dương. 2023. Nguyễn Đình Chiểu toàn tập. Hà Nội: NXB Đại học Sư phạm.

• Thiều Chửu. 2002. Hán Việt tự điển. Hà Nội: NXB Văn hóa Thông tin.

• Bảo Định Giang. 1973. Thơ văn yêu nước Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX. Hà Nội: NXB Văn học.

• Vũ Thanh Hằng, Trà Ngọc Anh, Tạ Quang Phát. 2003. Châu bản triều Tự Đức (1848-1883). Hà Nội: NXB Văn học.

• Nguyễn Văn Huyền. 1984. Nguyễn Khuyến tác phẩm. Hà Nội: NXB Khoa học Xã hội.

• Trần Thị Hoa Lê. 2017. “Bi kịch người trung nghĩa trong thơ văn Cần Vương giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX.” Tạp chí Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật 56: 32-38

• Trần Thị Hoa Lê. 2017. Văn học trào phúng Việt Nam thời trung đại. Hà Nội: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.

• Mai Quốc Liên. 2022. Mấy vấn đề tư tưởng lý luận văn nghệ Việt Nam thời trung cận đại (thế kỷ X-XIX). TP. Hồ Chí Minh: NXB Văn học.

• Nguyễn Lộc. 1999. Văn học Việt Nam (nửa cuối thế kỷ XVIII - hết thế kỷ XIX). Hà Nội: NXB Giáo dục.

• Lý Lạc Nghị (Jim Waters, Nguyễn Văn Đổng, Nguyễn Phương Nhi dịch). 1998. Tìm về cội nguồn chữ Hán - gồm nhiều từ đã gia nhập vào kho tiếng Việt. Hà Nội: NXB Thế giới.

• Nguyễn Đức Vân, Hà Văn Đại, Nguyễn Văn Bách, Đinh Xuân Lâm. 1977. Thơ văn Nguyễn Xuân Ôn. Hà Nội: NXB Văn học.

• Trần Thị Băng Thanh. 2004. Tình tuyển văn học Việt Nam tập 4 - Văn học thế kỷ XV-XVII. Hà Nội: NXB Khoa học Xã hội.

• Trần Nho Thìn. 2018. Phương pháp tiếp cận văn hóa trong nghiên cứu, giảng dạy văn học. Quảng Nam: NXB Giáo dục Việt Nam. 

• Quốc Trung (biên soạn). 2023. Tứ thư. Hà Nội: NXB Hồng Đức. 

Post by: Khoa Ngữ văn
07-01-2026