Chế Độ:  
       Trang chủ     Diễn đàn     Gửi bài     Tìm kiếm      
SỐ LƯỢT TRUY CẬP
Hội thảo Cao học In Ấn  
ĐẠO MẪU TRONG TIỂU THUYẾT “MẪU THƯỢNG NGÀN” CỦA NGUYỄN XUÂN KHÁNH
Bùi Kim Ánh (CHK19 - Văn học trung đại)


Với số phiếu tuyệt đối của hội đồng chung khảo, “Mẫu thượng ngàn”- cuốn tiểu thuyết về văn hóa phong tục Việt Nam của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh- đã nhận được giải thưởng tiểu thuyết Hội nhà văn Hà Nội 2006. Lấy bối cảnh ở một làng quê bán sơn địa Bắc Bộ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, tác phẩm đã dựng lại một không gian văn hóa mà hạt nhân là tín ngưỡng dân gian. Trong thời điểm thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, đạo Phật suy tàn, đạo Khổng bị gạt bỏ, đạo Thiên Chúa đang lan rộng, người dân trở về với đạo Mẫu- một tôn giáo bản địa vốn có từ ngàn đời.

Đạo Mẫu chính là mạch ngầm tư tưởng vững chắc xuyên suốt toàn bộ cuốn tiểu thuyết này. Như chính nhà văn Nguyễn Xuân Khánh đã nói thì đó là “đạo nguyên thủy của người Việt Nam: thờ mẹ, thờ mẹ núi, mẹ sông, mẹ đấ, thờ Man nương… Nó có tính chất nguyên thủy ngấm ngầm trong dân gian, không có tính tri thức gì. Nó là đạo của người nghèo khổ (http://evan.com/ ). Cuốn tiểu thuyết đã thu lại trong mình một vấn đề thuộc về tín ngưỡng dân gian của dân tộc, là sự nối tiếpcủa những tác phẩm mang đậm tính chất tôn giáo của ngững thế hệ đi trước. Lấy đạo Mẫu là hệ quy chiếu để đi vào tìm hiểu cuốn tiểu thuyết này, chúng ta không chỉ tìm được  một không gian văn hóa với những phong tục tập quán độc đáo mà còn thấy được cách nghĩ, cách cảm rất riêng của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh về thứ tôn giáo nguyên thủy này của người Việt.

I./ ĐẠO MẪU Ở VIỆT NAM

          Đạo Mẫu là một tín ngưỡng bản địa của cổ sơ của người Việt, thờ các nữ thần: Mẫu Thượng Thiên (cai quản cõi trời), Mẫu Địa (cai quản cõi đất), Mẫu Thoải (cai quản cõi nước), Mẫu thượng Ngàn (cai quản cõi rừng núi). Từ thế kỉ XV- XVI xuất hiện thêm Mẫu Liễu Hạnh. Đạo Mẫu ở Việt Nam chịu ảnh hưởng của đạo Phật, Khổng giáo và đạo Lão… Trên một số mặt cơ bản, đạo Mẫu có những đặc trưng rất riêng.

1./ Đạo Mẫu- sự xuất hiện và phát triển

          Nguồn gốc lịch sử của đạo Mẫu không được ghi lại rõ ràng trong sách vở. Có người cho rằng đạo Mẫu có nguồn gốc từ thời tiền sử khi người Việt thờ cúng các thần linh trong thiên nhiên. Điều này gắn liền với tư duy nông nghiệp, cho các nữ thần là người che chở cho con người làm ăn gặp nhiều may mắn.

Ở Việt Nam, chế độ mẫu hệ còn để lại những ảnh hưởng khá đậm trong đời sống xã hội của cư dân. Vì thế, người việt có truyền thống thờ các nữ thần. Hiện nay không khó tìm trên đất nước ta những đền chùa có thờ các nữ thần này. Chỉ tính riêng khu vực quanh vùng Dâu (Thuận Thành, Bắc Ninh) đã có đến bốn ngôi chùa thờ các nữ thần: Pháp Vân, Pháp Lôi, Pháp Vũ và Pháp Điện. Từ chỗ thờ các nữ thần mà hiện thân của nó là các hiện tượng tự nhiên như vậy; người Việt đã thờ phụng các nữ thần cai quản các vùng không gian. Dần dần tín ngưỡng thờ Mẫu xuất hiện.

Như vậy, tín ngưỡng thờ Mẫu có sự phát triển từ các hình thức sơ khai đến các hình thức phát triển cao là Mẫu tam phủ, tứ phủ. Theo giáo sư Ngô Đức Thịnh, Đạo Mẫu có các giai đoạn phát triển như sau:

1./ Thờ các nữ thần thiên nhiên riêng biệt. Các nữ thần này là các tinh thần thiên nhiên và không có đặc điểm của con người, đặc biệt là đặc điểm của người mẹ.

2./ Thờ các Thánh Mẫu. Các nữ thần này đã có các đặc điểm của con người. Ví dụ: Mẹ Âu Cơ của dân tộc Việt.

3./ Thờ Thánh Mẫu tam phủ, tứ phủ. “Phủ” ở đây là ba hay bốn thành tố của vũ trụ: trời, đất, nươc, rừng.

2./ Cấu trúc đền thờ và ban thờ

          Đạo thờ Mẫu xuất hiện khá sớm ở đất Việt. Từ thế kỉ XVI về sau, nghi thức ổn định và dần dần hội nhập vào chùa. Một ban thờ Mẫu đầy đủ bao giờ cũng gồm: bộ Tam Tòa Thánh Mẫu (Mẫu Thượng Thiên. Mẫu Thoải và Mẫu Địa) được đặt ở cao và sâu nhất, riêng Mẫu Thượng Ngàn được đặt riêng vì ngài còn gắn với người đã khuất. Trên trục chính là tam vị đức cha. Bên trái bàn thờ là Ngũ vị Tôn ông; bên phải là Tứ phủ chầu bà. Đặt xen kẽ thường có những nam nữ nhỏ tuổi , đó là các Cô và Cậu.

          Các vị thần của tín ngưỡng thờ Mẫu được phụng thờ ở các di tích mà dân gian gọi là phủ, đền, điện. Ở mọi miền trên đất nước ta đều có những nơi thờ Mẫu như vậy.

3./ Nghi lễ thờ cúng

          Các vị thần trong  đạo Mẫu phản ánh các phẩm chất của một người mẹ vừa thần thánh lại vừa con người. Đạo Mẫu không chú ý vào cuộc sống sau khi chết mà nó quan tâm đến hiện tại và câu hỏi làm thế nào để người ta có thể đạt được một cuộc sống hạnh phúc trên trần gian. Điều đó thể hiện trong các điều cầu nguyện của con người đến cửa Mẫu: họ mong muốn thời tiết thuận hòa tốt cho mùa màng, cầu mong sức khỏe  cho con người, cầu tiền tài, cầu tự…

          Đạo Mẫu có các nghi lễ tổ chức theo Âm lịch với các tín đồ và nhiều người đi lễ tham gia. Các nghi thức hành lễ chủ yếu ở truyền khẩu từ đời này qua đời khác. Nghi lễ phỏ biến nhất của đạo Mẫu là lên đồng (hay còn gọi là hầu bóng). “Về bản chất , lên đồng là hiện tượng nhập hồn nhiều lần của thần linh trong điện thần, của đạo Mẫu và các ông đồng, bà đồng để cầu sức khỏe” (5; 97). Trong nghi lễ này người ta tin rằng linh hồn của các vị thần sẽ nhập vào người lên đồng, linh hồn này sẽ được vời đến để nghe lời cầu nguyện của người đi lễ. Trong các nghi lễ, phụ nữ thường đóng vai trò chính, người lên đồng cũng là phụ nữ (bà đồng), đôi khi cũng do nam giới nhận (ông đồng).

          Nghi lễ lên đồng trong đạo Mẫu không tách rời với các điệu múa linh thiêng (các giá đồng). Đây chính là một phần quan trọng của nghi lễ. Có 72 giá đồng. Trong một buổi lễ, các giá đồng được biểu diễn cùng với hát văn (hay chầu văn). Hát văn là một thể loại hát nói. Chầu văn tạo nên một khung cảnh và âm nhạc tâm linh để giúp cho người nhập đồng vào vai mới và gắn kết với những con người và nơi chốn ở bên ngoài thế giới địa phương họ.

          Đạo Mẫu có hai dịp lễ hội quan trọng “Tháng Tám giỗ cha, tháng Ba giỗ mẹ”- nhân ngày mất của đức thánh Trần (cha) và Liễu Hạnh công chúa (mẹ). Ngoài ra người đi lễ có thể đến phủ, đền vào các ngày mùng một và ngày rằm hang tháng.

II./ ĐẠO MẪU TRONG TIỂU THUYẾT “MẪU THƯỢNG NGÀN” CỦA NGUYỄN XUÂN KHÁNH

          Với tư cách là một tín ngưỡng bản địa của dân tộc, đạo Mẫu đã theo dòng ngòi bút của Nguyễn Xuân Khánh hiện diện trên trang giấy và trở thành một điểm nhấn cho tác phẩm. Với đạo Mẫu nhà văn đã chọn được cho mình một địa hạt lí tưởng để từ đó khám phá và thể hiện đời sống tinh thần, tâm linh của người Việt. Dường như từng hơi thở, từng nếp sống văn hóa đang cựa mình sau từng câu văn con chữ trong cuốn tiểu thuyết. Lấy đạo Mẫu là mạch ngầm tư tưởng chính nhà văn không những phản ánh được tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt một cách chân thực, sinh động mà còn thể hiện được những suy nghĩ, cảm nhận của bản thân mình về tín ngưỡng nguyên thủy, rất đặc trưng của dân tộc.

1./ Đạo Mẫu và niềm tin về Mẫu

          Bối cảnh chủ đạo mà Nguyễn Xuân Khánh xây dựng của ở cuốn tiểu thuyết này là một ngôi làng Bắc Bộ vào cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX. Và một Việt Nam thuần hậu và nguyên thủy đã hiện ra trọn vẹn nơi làng Cổ Đình này. Chọn địa điểm là một ngôi làng bán sơn địa, Nguyễn Xuân Khánh muốn thể hiện sức lan tỏa mạnh mẽ của tín ngưỡng thờ Mẫu, vốn được coi là tôn giáo sản sinh từ xã hội có yếu tố thương nghiệp của vùng đồng bằng Bắc Bộ. Trong ngôi làng Cổ Đình nhỏ bé ngự trị một không gian tâm linh thành kính bao trùm lên tất cả, trong đó con người có niềm tin mãnh liệt vào Mẫu.

          Những người dân nơi Cổ Đình này có một lòng ngưỡng vọng, tôn kính đặc biệt đối với Mẫu và Mẫu là một nhân vật linh thiêng luôn sống trong tâm trí của những ngươi dân nơi đây. Lắng nghe những lời tâm sự, những tiếng lòng đầy thành kính của những người dân nghèo khổ lam lũ ở mảnh đất này, ta sẽ thấy rõ được niềm tin bất diệt của họ vào Mẫu.Ông đồ Tiết dù là một nhà nho nhưng ông khác với nhiều nhà nho khác, ông không bao giờ bổ báng đạo Mẫu. Ông đã từng nói với Nhụ: “Mẫu cho ta tất cả”. Còn Nhụ- cô gái quê non nớt ấy cũng một lòng thành kính đối với Mẫu “em chỉ hát những lời ca về Mẫu từ thưở ấu thơ, em chưa bao giờ được đi lễ, tuy nhiên cứ mỗi lần nghĩ về Mẫu, lòng em lại thấy rưng rưng. Cứ như thể Mẫu đối với em rất thân thiết, gần gũi, mặc dù em chưa bao giờ giáp mặt” (2;422). Tất cả mọi người dân quê nhỏ bé ở ngôi làng Cổ Đình này đều tôn kính Mẫu, từ già đến trẻ, bất kể trai hay gái. Không chỉ là trong suy nghĩ, Bà Tổ Cô, bà Mùi còn lên ở tại đền Mẫu để được quanh năm hương khói, hầu cận Mẫu.

          Niềm tin của người dân Cổ Đình đối với Mẫu không chỉ thể hiện trong tâm trí, trong lòng kính yêu, tri ân vô hạn đối với Mẫu mà còn thể hiện trong những câu truyện của họ về Mẫu, về những người hầu cận Mẫu. Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh đã đặt những câu truyện ấy vào nơi cửa miệng của những môn đồ, con nhang đệ tử của đạo Mẫu, của những người một lòng thành kính Mẫu để nhấn mạnh vào sự ngưỡng vọng, niềm tin mãnh liệt của họ vào Mẹ của mình. Đó là những câu chuyện về những người hầu cận Mẫu, câu chuyện về ông hắc xà đen đền Mẫu, câu chuyện về đồi rắn thần- đôi ngựa ngài của Mẫu. Những câu chuyện về phép lạ hiện hữu của Mẫu này càng làm tăng thêm sức hấp dẫn, thu hút và niềm tin của họ vào Mẫu. Điều đã từng kể cho Nhụ về các cô đồng trinh hầu cận Mẫu ở bên kia song, những bà nạ dòng hầu hạ vị đại thụ linh thần. Theo lời Điều “các cô thường đánh võng trên cây đa, đưa tít bổng lên trời. Có đêm thanh vắng, người trong làng cũng nghe thấy tiếng kẽo kẹt và cả tiếng ru con véo von thánh thót. Lúc ấy chó cũng không dám sủa, còn người thì dựng tóc gáy.” (2;22). Những lời kể đầy thần bí, hấp dẫn thể hiện niềm tin của con người vào sự hiện hữu của thần linh. Niềm tin ấy được đẩy lên cao độ khi họ được nghe những câu chuyện về sự hiện hình trực tiếp của các cô hầu cận Mẫu qua lời của một anh đi nhấc đó sớm: các cô “một áo vàng, một áo đỏ, một áo xanh. Các cô tha thướt như bay. Ba cô đều vấn tóc đuôi gà. Hai tay vung vẩy thẽo thượt” (2;222). Điều, khi kể lại câu chuyện của anh nhấc đó cho Nhụ còn nhấn mạnh thêm “các cô là quân hầu của thánh, của thần, đời nào các cô hại ai, chi là thích chòng ghẹo người trần gian cho vui những khi nhàn rỗi. Các cô dứt khoát chẳng phải là ma.” (2;222)

          Một lòng tin yêu và sùng kính đối vời Mẫu, những người dân nơi đây dù giàu dù nghèo đều tri ân với Mẫu, hay nói như cụ Đồ Tiết “Mẫu cho ta tất cả”. Vì thế họ tìm đến nơi của Mẫu để cầu khẩn, để xin Người mở lòng từ bi giúp đỡ. Bà cà Cỏn đến đền Mẫu để cầu tự, bà già nông dân đến đền Mẫu để cầu cho ông lão khỏi tật bệnh… Tất cả đều được linh nghiệm trong cuốn tiểu thuyết này. Bà cà Cỏn làm lễ cầu tự ở đền Mẫu vào đầu năm và cuối năm linh nghiệm liền “cậu ấm quý như hòn vàng, nhưng là con cầu tự nên nó khó nuôi lắm.” (2;534).

          Niềm tin mãnh liệt của người dân nơi đấy đối với Mẫu của họ còn được thể hiện sinh động qua sự mê đắm của các con nhang đệ tử: “Họ đã mang sẵn căn địa, tâm thế của lòng sùng tín. Họ sẵn sang đến để nhập cuộc, mê đắm, sẵn sang rũ bỏ tục lụy thường nhật để dấn thân vào cõi trời siêu nghiệm xa lạ, ở đó ta trở về với ta tức là ta trở về với mẹ, ở đó là sự bình yên, niềm an ủi, cái diệu kì thánh thiện…” (2; 705). Mẫu đối với họ thiêng liêng biết chừng nào, họ tìm đến với Mẫu cũng chính là một điều tất yếu, một yêu cầu chính đáng của tâm linh. Ở đây không hề có khoảng cách của những con nhang đệ tử của đạo Mẫu ngoài đời và trong cuốn tiểu thuyết. Sự mê đắm, sùng tín ấy là điểm gặp gỡ của những tâm hồn, những con người của Đạo Mẫu.

          Xây dựng những người dân với lòng sùng tín, niềm tin mãnh liệt vào Mẫu, Nguyễn Xuân Khánh đã dựng lên được một không gian tâm linh thiêng liêng trong cuốn tiểu thuyết này. Trong không gian thiêng liêng đó, người người yêu Mẫu, nhà nhà tôn sùng Mẫu. Nằm ngoài sự tôn sùng Mẫu, bổ báng đạo Mẫu, người đó chắc chắn sẽ nhận được sự trừng phạt của Mẫu. Nhấn mạnh ý này nhà văn đã xây dựng một nhân vật thực dân phải hứng chịu sự chừng phạt của Mẫu khi dám lên tiếng bổ báng Mẫu là mê tín, quàng xiên, thờ rắn là tà giáo. Tên thực dân Julien vừa lên tiếng bổ báng thì “đôi mắt ông hắc hổ liền dọi vào hắn bằng những tia  phản quang giận dữ” (2; 434). Và ngay sau đó mọi người có mặt đều khiếp hãi và sửng sốt khi tên này bị rắn (ngựa ngài) đuổi “con vật to như cổ chân, dài như đòn gánh, màu chì tỏ ra tức giận vô cùng” và đuổi theo Julien làm tên này phải chạy chí mạng mới thoát được. Đó là câu chuyện về ông hắc xà- kẻ canh giữ đền Mẫu. Đây chính là nét sáng tạo của ngòi bút Nguyễn Xuân Khánh trong chuyện. Phép thần hiện hữu chính là điểm nhấn quan trọng của tiểu thuyết.

          Và rồi theo ngòi bút của người kể chuyện, các nhà thực dân cũng thức tỉnh và họ cũng đã có những nhận thức chung, đúng đắn về đạo Mẫu. Nhà văn đã để cho Pierre- một họa sĩ thực dân tổng kết về đạo Mẫu một cách say sưa, thấm thía như người trong cuộc “Đạo của họ thờ mẹ Trời, mẹ Đất, mẹ Nước. Họ nói đó là đạo Người mẹ. Có thể nói gọn, đó là đạo thờ khí thiêng của thiên nhiên, thờ người mẹ đã sinh ra thế gian này. Thờ như vậy là thờ những điều cao quý nhất, đâu có phài là tà giáo.” (2; 427). Và để nhấn mạnh thêm, nhà văn Nguyễn Xuân Khánh còn đặt những lời lẽ tôn trọng đối với đạo Mẫu vào miệng của một người ngoại quốc khác- đó là nhà dân tộc học René: “tôi nghĩ bất kì tôn giáo nào cũng đều có trạng thái lên đồng: Cơ đốc giáo có sự thiên khải, phật giáo có trạng thái ngộ đạo. Khi đã lý thuyết hóa, ta mới coi đó là tôn giáo. Còn những sự thiên khải vô ngôn thì sao?” (2; 715). Đặt đạo Mẫu vào điểm nhìn của những người ngoại quốc với một sắc thái trân trọng như vậy, Nguyễn Xuân Khánh đã đạt được đến sự tột cùng của thành công khi xây dựng niềm tin về Mẫu ở trong tiểu thuyết.

          Có thể nói, với việc xây dựng được nhân vật với niềm tin mãnh liệt vào Mẫu như vậy nhà văn đã dựng lên được một không gian tinh thần, một không khí linh thiêng trong một ngôi làng nhỏ bé. Niềm tin ấy là phông nền, là cơ sở để nhà văn tiếp tục triển khai mạch chảy về đạo Mẫu trong thiên tiểu thuyết này.

 

2. Đền thờ Mẫu trong tiểu thuyết “Mẫu thượng ngàn”

          Là người ngay từ nhỏ đã được đắm mình trong không khí linh thiêng của đạo Mẫu, hơn ai hết nhà văn Nguyễn Xuân Khánh hiểu thấu về cái không gian tôn kính ấy của đạo. Nhờ vậy, những trang văn ông viết về đạo Mẫu thật sinh động, đền đài, tượng Mẫu trở nên sống động như hiển hiện trước mắt ta.

          Đền Mẫu của làng Cổ Đình ở một nơi cao xa, linh thiêng và mang chút bí ẩn. Đền thuộc vùng đất này nhưng lại tách ra so với làng, muốn đến được phải bơi dọc con sông Son và quà hồ Huyền. Và khi đã qua được sông,hồ đó để đến được đền Mẫu rồi thì tâm hồn con người mới được thanh tẩy, chỉ còn sự trong sạch, một lòng sùng kính với Mẫu.

          Bước vào ngôi đền Mẫu trong tiểu thuyết, ta bắt gặp một cài gì đó rất quen, rất đặc trưng của ngôi đền Mẫu ở đâu đó trên đất nước này. “Ngôi đền Mẫu hiện ra uy nghi, khói phủ rêu phong, nằm chính giữa đỉnh núi, giữa những cây dẻ. Một cây ngọc lan cổ thụ ở đầu hồi bên phải tỏa hương thơm ngát”. Đó là khung cảnh bao quát của ngôi đền Mẫu. Đi tiếp vào bên trong đền, Nhụ “sững người ngắm nghía tòa thánh điện lộng lẫy.” Nhà văn đã để Nhụ nhìn ngắm tòa thánh điện rất tỉ mỉ. Nào là tượng Thánh Mẫu sơn son thiếp vàng phủ khăn đỏ ở trên bàn thờ hậu cung cao vót, nào là hương án trên có bày bát hương, giá nến, đỉnh ở phía dưới; nào là bức phù điêu hắc hổ ở tận cùng vòm cuốn. Ở trong đền Mẫu còn có hai chú “ngựa ngài” đứng hai bên nhìn vào điện chầu Thánh Mẫu; còn có hai bức tranh lớn được vẽ lên tường... Tất cả quang cảnh của đền Mẫu được thu lại dưới con mắt đầy thích thú, ngỡ ngàng của Nhụ. Tất cả đều hiện lên lộng lẫy và linh thiêng vô cùng, nó “thật đúng như sự tưởng tượng của Nhụ về Thánh Mẫu trong giấc mơ”.

          Không chỉ tả riêng về đền Mẫu của làng Cổ Đình, nhà văn còn tiếp tục nói thêm về đền Mẫu trong dân gian. “Đền thờ Mẫu nhiều lắm, ở khắp mọi nơi” và “Thường thường dân tìm một nơi phong cảnh hữu tình, kỳ thú rồi lập đền”; “Nơi nào không lập được đền riêng rẽ, người dân kết hợp luôn vào chùa làng và đình làng. Đằng trước thờ Phật, thờ Thánh trong tòa đại điện, đằng sau thờ Mẫu trong tòa điện nhỏ.” Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh đã đưa hết vốn văn hóa, sự quan sát và trải nghiệm của mình lên trang truyện. Và nhờ đó không chỉ dựng lại được không gian văn hóa làng tại làng Cổ Đình mà còn dựng lại được cả không gian văn hóa của mọi miền đất nước.

          Như vậy, bằng vốn sống cùng những hiểu biết về đền Mẫu của mình, nhà văn Nguyễn Xuân Khánh đã tạo dựng lại trong tác phẩm của mình những ngôi đền thờ Mẫu chân thực và cũng thật sinh động. Và càng sinh động hơn nữa khi ông đã dụng công tái tạo lại trong ngôi đền ấy những nghi lễ thờ cúng đặc trưng của đạo Mẫu.

 

3. Nghi lễ thờ cúng

          Trong tác phẩm, ta có thể dễ dàng nhận thấy một nghi lễ đặc biệt của đạo Mẫu đó chính là hầu đồng (lên đồng). Đến với đạo Mẫu các con nhang đệ tử chìm đắm vào men say của đạo, ngả nghiêng theo lòng sùng kính với Mẫu. Và để đến với mỗi cuộc lên đồng họ đã “ sẵn sàng đến để nhập cuộc, mê đắm, sẵn sàng rũ bỏ tục lụy thường nhật để dấn thân vào cõi trời siêu nghiệm xa lạ, ở đó ta trở về với ta tức là ta trở về với mẹ, ở đó là sự yên bình, niềm an ủi, cái diệu kì thánh thiện” (2; 705).

Đặc biệt chú ý trong nghi thức lên đồng này là những bà đồng mà trong “Mẫu thượng ngàn” đó chính là bà Mùi. Giống như những bà đồng khác ngoài đời, bà Mùi cũng có đủ bộ khăn chầu áo ngự và bà rất hài lòng với “hòm khăn chầu áo ngự trứ danh” của mình. Nhà văn đã miêu tả rất cụ thể, sinh động những hành động cũng như trạng thái của bà Mùi khi nhập đồng. Khi ngồi trên bệ hành lễ lòng bà lâng lâng khó tả và khi bà đã trùm khăn phủ diện- chiếc khăn cách li bà khỏi thế gian thì “lòng sùng tín của bà chỉ tập trung vào một cảm giác rất linh thiêng đang dần lên cao. Tiếng đàn nguyệt của ông Huyền như dồn dập, thúc đẩy tâm hồn bà đạt đến chỗ thuần khiết. Tiếng hát của Nhụ thật trong trẻo thơ ngây, làm cho lòng bà lúc này muốn bay lên vươn tới miền tột cùng thánh thiện” (2;705). Và rồi “bà Mùi chợt nhìn thấy trong tam tưởng của mình một điểm hồng. Chẳng biết cái điểm sang nhỏ bé ấy từ đâu hiện ra. Nó sinh từ cái màu hồng của tấm khăn phủ diện, hay từ một linh điểm trong tâm thức bà mà sự sùng tín, sự khao khát thánh thiện đã nuôi dưỡng nó. Điểm sáng trong tâm từ một chấm nhỏ dần dần triển nở rồi chiếm lĩnh toàn bộ tâm hồn bà. Bà Mùi lập tức bám lấy. Cửa huyền vi đã mở, bà tung khăn phủ diện. Lúc này, bà ở trạng thái hoàn toàn siêu thoát. Thánh đã nhập đồng.” (2; 706). Những trạng thái tinh vi của con người lúc nhập đồng được nhà văn miêu tả thật chân thực mà không kém phần sinh động. Nó là trạng thái siêu thoát, hoàn toàn ngây ngất.

Cùng với trạng thái nhập đồng, Nguyễn Xuân Khánh cũng đã rất dụng công miêu tả các giá đồng. Trong lần lên đồng của bà Mùi đã có rất nhiều giá đồng đi kèm với nó. Nhà văn đã miêu tả rất tỉ mỉ các giá đồng. Đó là giá Mẫu với không khí trang nghiêm huyền diệu “bà đồng bắc ghế hầu Mẫu bao giờ cũng có cử chỉ khoan thai, đĩnh đạc. Mẫu luôn nói nhẹ nhàng, nhỏ nhẹ. Không có những tiếng hú dồn dập, phóng khích. Không có ngững cử động mạnh mẽ, phóng túng.”(2; 707). Đó còn là giá “quan lớn tuần Chanh” với sự nhập đòng rất thành công của bà Mùi, mát bà sang quắc, động tác nhanh nhẹn, bà “múa tít vun vút, loang loáng” thanh long đao bằng gỗ, cứ như thể bà là một vị tướng thực sự, trong tay có bát vạn binh hùng. Những con nhang đệ tử “ngồi quanh im lặng, ngất ngây chiêm ngưỡng một vị anh hùng giáng thế”. Và cuối cùng là giá Bà Chúa Thác Bờ với sự ngất ngây, mê đắm của toàn bộ những người tham gia.

Ứng với mỗi giá đồng ấy là những bài chầu văn- một phương tiện hưũ hiệu để cuốn con người vào cõi mơ, thoát khỏi cõi trần bụi bặm ngổn ngang, ở đó con người được hưởng những phút thăng hoa. Trong tác phẩm, nó là tiếng đàn, lời hát của cha con ông Huyền. Tiếng đàn diệu kì của cha hòa cùng tiếng hát trong trẻo của con làm tôn thêm sự huyền diệu, linh thiêng của cuộc lên đồng. Trong giá Mẫu, ông Trịnh Huyền dạo “những khổ nhạc nghiêm trang, cao thượng, tưng bừng”, hai cha con một thổ, một kim đồng thanh cất tiếng hát chầu văn:

“…Kiếp giáng sinh vào nhà Lê Thị

Cải họ Trần vận khí thiên hương

Vốn sinh vẻ cốt phi thường

Giá danh đòi một, hoa vương khôn bì…”

Theo lời ca tiếng hát của họ một cảm giác đẹp đẽ lạ thường dâng lên trong lòng tất cả mọi người trong tòa điện. Tiếng đàn, giọng hát của họ là một thứ mật ngọt mà họ phải nỗ lực, khổ luyện mới có được. Để đánh đàn bài thỉnh Mẫu, ông Huyền phải uốn nắn tỉ mỉ từng cái nhấn, cái láy. Rồi khi hát văn ông phải chữa cách lấy hơi, rồi phải nhả ra từng chữ sao cho giọng thật sang mà không kiêu, ngân nga luyến láy ngọt ngào mà không lơi lả buông tuồng.

Đến khi bước sang giá “quan lớn tuần Chanh”, hai cha con ông Huyền lại khéo léo, uyển chuyển thay lời ca, tiếng đàn cho phù hợp với giá đồng mới, ăn nhập với đọng tác của bà đồng khi nhập đồng. Giọng dâng văn của hai cha con chuyển sang hào sảng, tiếng đàn sảng khoái, dồn dập; những lời ca như một bản hùng văn:

“Sông Chanh, sông Chanh, ơi sông Chanh!

Non nước còn ghi trận tung hoành

Lẫm liệt oai phong gương tráng sĩ

Ngàn thu còn để dấu anh linh…”

Rồi buổi lên đồng bước sang giá đồng cuối cùng- giá Bà Chúa Thác Bờ thì ông Huyền lại chuyển ngay sang điệu xá thượng- một điệu hát rộn rang, tưng bừng:

“Vầng nhật nguyệt đêm ngày soi tỏ

Cảnh thác bờ rực rỡ càn khôn

Lô xô đá mọc đầu nguồn

Khen ai khéo tạc bên luồng chơi vơi.”

Những lời ca, tiếng hát chầu văn đã làm tăng thêm không khí linh thiêng, huyền diệu của buổi lên đồng. Nhờ vậy mà mọi người trong buổi lên đồng đều nhập đồng, đều đắc nhất “cô Mùi lâng lâng siêu thoát, các cô hầu thì đắm say, các con nhang đệ tử ngất ngây. Cả ông Huyền và Nhụ cũng thế, họ đã đàn hát trong sự xuất thần”(2; 712)

Với tài năng của mình, nhà văn nguyễn Xuân Khánh đã làm sống lại cả một không khí tôn kính, thiêng liêng của đạo Mẫu, đã khơi dậy được cả không gian văn hóa làng đặc sắc với hạt nhân là tín ngưỡng dân gian. Đọc những trang văn ta ngỡ như đang được xem một buổi lên đồng thực sự. Dường như từng hình ảnh, từng câu hát, tiếng đàn như đập vào tai, như mở ra trước mắt ta. Cảnh tượng diệu kì như phút chốc bừng dậy trong tâm trí ta, ru hồn người vào cõi mê đắm, tâm hồn trở nên thanh khiết.

4./ Chức năng diệu kì của đạo Mẫu

          Dưới cái nhìn của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh cũng như những người dân Cổ Đình đạo Mẫu có một sức lôi cuốn đặc biệt. Con người ngưỡng vọng và có niềm tin mãnh liệt vào Mẫu, đó không chỉ là niềm tin vào phép màu linh nghiệm mà còn là niềm tin của họ vào khả năng cứu rỗi, an ủi và giá trị thanh tẩy của đạo cao quí mà họ đang theo. Tìm về với Mẫu là tìm về với mẹ, để thể hiện ước vọng và cũng là để tâm hồn đạt đến sự tinh khiết, để chạm được tới trạng thái thăng hoa, vơi nhẹ.

          Trước hết, Mẫu hiện lên thật thiêng liêng trong niềm tin tuyệt đối của chính người kể chuyện “có sông, có núi, có cỏ cây hoa lá, lại thêm cái hồn của con người thành kính tỏa vào đó, các ngôi đền thành nơi dung chứa những khát vọng và nôĩ niềm của mọi người dân quê nghèo khổ” (2; 421).Và “cái tôn giáo dân gian ấy đã an ủi bao tâm hồn cay cực của nông dân”, vì thế họ dù giàu dù nghèo đều tri ân với Mẫu. Mẫu cho họ tất cả. Nhà văn đã rất đề cao đạo Mẫu, có cái nhìn trân trọng đối với thứ tôn giáo thuần Việt này.

          Người dân Cổ Đình tìm về với Mẫu, một lòng thành kính đối với Mẫu bởi đối với họ Mẫu có vai trò rất lớn đối với đời sống tinh thần, tâm linh của họ. Mẫu cứu rỗi họ, giải thoát cho họ khỏi những ưu phiền, giúp họ thoát khỏi những bất hạnh, uẩn ức. Mẫu vỗ về, an ủi họ, nâng họ trên đôi tay nhân hậu của mình, giúp họ vực dậy: “trong giây lát, bao nhiêu nỗi cay cực của đời người những người đàn bà thôn quê bỗng được thăng hoa, vơi nhẹ”(2; 710) và “đời người vốn nhiều bất hạnh, ưu phiền, ẩn ức. Ở một cuộc đồng bươc ra, con người đã được giải tỏa, gột rửa.”(2; 712). Tất cả những gì còn lại đối với họ lúc này là sự mê đắm hoàn toàn dối với Mẫu. cho dù là ai đi chăng nữa, dù giàu hay nghèo họ đều gặp gỡ nhau ở một điểm tựa tâm linh đó là niềm tin về Mẫu. Đến với Mẫu họ được lâng lâng siêu thoát, được Mẫu chắp thêm cho nghị lực sống “con người như được nạp thêm năng lượng mới để tiếp tục sống”(2; 712).

          Đạo Mẫu không chỉ cứu rỗi, an ủi những sinh linh bé nhỏ nơi thôn quê mà còn có vai trò thanh tẩy, giúp con người trở nên tốt đẹp hơn. Sau mỗi cuộc đồng bước ra con người dường như đã được gột rửa, thanh tẩy, con người trở nên tốt đẹp và thánh thiện hơn “tất cả đều trở nên tinh khiết. Cái linh thiêng đã cứu giúp những con người nhỏ bé” (2;712). Đạo Mẫu thiêng liêng, cao quí biết chừng nào đối với mỗi người dân nơi đây. Họ tìm đến với tín ngưỡng nguyên thủy này để sống cho thanh sạch, siêu thoát, sống tốt đẹp hơn.

          Vai trò thanh tẩy của đạo Mẫu còn thể hiện sâu sắc qua nhân vật bà Tổ Cô và bà Mùi. Bà Tổ Cô là người cải từ đạo Thiên chúa sang- trở về với tín ngưỡng tự ngàn đời của dân tộc. Trong “Mẫu thượng ngàn” bà hiện lên như một biểu tượng của sự thanh khiết. Bà đã từng nói “đạo nào cũng thế thôi. Đạo Giê- su cũng như đạo Mẫu . Tất cả đều chỉ là khuyến thiện tín ngưỡng bản địa tự ngàn đời của dân tộc, trong tiểu thuyết bà hiện lên như một biểu tượng của sự thanh khiết. Bà đã từng nói: “ Đạo nào cũng thế cả thôi. Đạo Giê-su cũng như đạo Mẫu. Tất cả đều chỉ là khuyến thiện. Người theo Đạo Gia-tô chăm chỉ sửa mình sao cho ngày càng gần Chúa hơn. Còn chúng ta thì làm sao cho mình hòa vào với Mẫu… Ta càng sạch sẽ bao nhiêu, ta càng thánh thiện bao nhiêu, ta càng rũ bỏ tục lụy bao nhiêu, thì Mẫu càng gần ta bấy nhiêu và các đệ tử cũng nhích lại bấy nhiêu” (2; 696). Bà Tổ Cô có niềm tin mãnh liệt vào Mẫu, một lòng theo Mẫu, phụng sự Mẫu, tin vào sức mạnh thanh tẩy của Mẫu, mang trong mình một khát vọng hướng thượng.

Bên cạnh bà Tổ Cô là nhân vật bà Mùi. Vai trò thanh tẩy cứu rỗi của đạo Mẫu được thể hiện rõ nhất, sâu sắc nhất qua trạng thái của bà lúc nhập đồng. Trong lúc nhập đồng “tiếng đàn nguyệt của ông Huyền như dồn dập, thúc đẩy tâm hồn bà đạt đến chỗ thuần khiết. Tiếng hát của Nhụ thật trong trẻo thơ ngây, làm cho lòng bà lúc này muốn bay lên vươn tới miền tột cùng thánh thiện” (2;705) và đối với bà Mùi “bao nhiêu sự tủi nhục, yếu đuối lúc này chợt bay đâu mất”(2;709). Đến với đạo Mẫu, bà thực sự bị cuốn vào cõi thuần khiết, thoát khỏi cõi trần bụi bặm, ngổn ngang, con người được siêu thoát, sống tốt đẹp hơn. Nhà văn đã nhìn đạo Mẫu với cái nhìn đầy ưu ái, kính trọng. Đó là đạo thiêng liêng, đạo cao quí, đạo cứu rỗi con người, đạo có giá trị thanh tẩy tâm hồn cho những người dân quê.

                              *          *        *

Có thể nói, với tiểu thuyết “Mẫu thượng ngàn” nhà văn Nguyễn Xuân Khánh đã thực sự thành công khi dựng lại một không gian văn hóa làng với hạt nhân là tín ngưỡng dân gian. Trong đó, đạo Mẫu là mạch ngầm vững chắc xuyên suốt toàn bộ tác phẩm. Đạo Mẫu- thứ tôn giáo bản địa tự cổ xưa của người Việt từ cuộc đời thực đã bước chân vào lãnh địa văn học. Dưới ngòi bút của Nguyễn Xuân Khánh, đạo Mẫu hiển hiện chân thực nhưng cũng không kém phần sinh động; không chỉ thế nó còn được soi chiếu bởi cách cảm, cách nghĩ của riêng nhà văn. Với cuốn tiểu thuyết viết về văn hóa phong tục Việt Nam này, một lần nữa nhà văn đã thể hiện được mối quan hệ gắn bó sâu sắc tự ngàn đời giữa văn hóa và dân tộc đồng thời đặt ra vắn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, tránh hiện tượng lợi dụng tôn giáo.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1./ Trần Thị An- Sức ám ảnh của tín ngưỡng dân gian trong tiểu thuyết “Mẫu thượng ngàn”, Tạp chí nghiên cứu văn học, số 6, năm 2007.

2./ Nguyễn Xuân Khánh- Mẫu thượng ngàn, NXB phụ nữ, Hà Nội, 2006.

3./ Hữu Ngọc (chủ biên)- Từ điển văn hóa cổ truyền Việt Nam, NXB thế giới, Hà Nội, 2002.

4./ Ngô Đức Thịnh- Đạo Mẫu ở Việt Nam (in trong “Đạo Mẫu và các hình thức shaman trong các tộc người ở Việt Nam và châu Á, NXB KHXH, 2004.

5./ Trần Quốc Vượng- Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB Giáo dục, 2006.

6./ Các bài viết lấy từ internet:

·        Nguyễn Lan Anh- Nguyễn Xuân Khánh gác bút sau “Mẫu thượng ngàn”, nguồn từ: http://evan.com/

·        Văn Chinh- Nơi bắt đầu “Mẫu thượng ngàn”, nguồn từ: http://vietbao.vn/

·        Các trang web khác như: http://www.vienvanhoc.org.vn...

7./ Các báo và tạp chí khác.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

MỤC LỤC

I./ Đạo Mẫu ở Việt Nam:

       1./ Đạo Mẫu- sự xuất hiện và phát triển:

       2./ Cấu trúc đền thờ và ban thờ:

       3./ Nghi lễ thờ cúng:

II./ Đạo Mẫu trong tiểu thuyết “Mẫu thượng ngàn”:

       1./ Đạo Mẫu và niềm tin về Mẫu:

       2. Đền thờ Mẫu trong tiểu thuyết “Mẫu thượng ngàn”.

       3. Nghi lễ thờ cúng:

       4./ Chức năng diệu kì của đạo Mẫu:

 

 

 

 

 

 

 

(Source: Khoa Ngữ văn - Đào tạo Cao học )
Tin khác:
  
  
  
  
  

Tin khác:
  
  
  
  
  
Hội thảo Cao học In Ấn  
ĐẠO MẪU TRONG TIỂU THUYẾT “MẪU THƯỢNG NGÀN” CỦA NGUYỄN XUÂN KHÁNH
Bùi Kim Ánh (CHK19 - Văn học trung đại)


Với số phiếu tuyệt đối của hội đồng chung khảo, “Mẫu thượng ngàn”- cuốn tiểu thuyết về văn hóa phong tục Việt Nam của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh- đã nhận được giải thưởng tiểu thuyết Hội nhà văn Hà Nội 2006. Lấy bối cảnh ở một làng quê bán sơn địa Bắc Bộ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, tác phẩm đã dựng lại một không gian văn hóa mà hạt nhân là tín ngưỡng dân gian. Trong thời điểm thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, đạo Phật suy tàn, đạo Khổng bị gạt bỏ, đạo Thiên Chúa đang lan rộng, người dân trở về với đạo Mẫu- một tôn giáo bản địa vốn có từ ngàn đời.

Đạo Mẫu chính là mạch ngầm tư tưởng vững chắc xuyên suốt toàn bộ cuốn tiểu thuyết này. Như chính nhà văn Nguyễn Xuân Khánh đã nói thì đó là “đạo nguyên thủy của người Việt Nam: thờ mẹ, thờ mẹ núi, mẹ sông, mẹ đấ, thờ Man nương… Nó có tính chất nguyên thủy ngấm ngầm trong dân gian, không có tính tri thức gì. Nó là đạo của người nghèo khổ (http://evan.com/ ). Cuốn tiểu thuyết đã thu lại trong mình một vấn đề thuộc về tín ngưỡng dân gian của dân tộc, là sự nối tiếpcủa những tác phẩm mang đậm tính chất tôn giáo của ngững thế hệ đi trước. Lấy đạo Mẫu là hệ quy chiếu để đi vào tìm hiểu cuốn tiểu thuyết này, chúng ta không chỉ tìm được  một không gian văn hóa với những phong tục tập quán độc đáo mà còn thấy được cách nghĩ, cách cảm rất riêng của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh về thứ tôn giáo nguyên thủy này của người Việt.

I./ ĐẠO MẪU Ở VIỆT NAM

          Đạo Mẫu là một tín ngưỡng bản địa của cổ sơ của người Việt, thờ các nữ thần: Mẫu Thượng Thiên (cai quản cõi trời), Mẫu Địa (cai quản cõi đất), Mẫu Thoải (cai quản cõi nước), Mẫu thượng Ngàn (cai quản cõi rừng núi). Từ thế kỉ XV- XVI xuất hiện thêm Mẫu Liễu Hạnh. Đạo Mẫu ở Việt Nam chịu ảnh hưởng của đạo Phật, Khổng giáo và đạo Lão… Trên một số mặt cơ bản, đạo Mẫu có những đặc trưng rất riêng.

1./ Đạo Mẫu- sự xuất hiện và phát triển

          Nguồn gốc lịch sử của đạo Mẫu không được ghi lại rõ ràng trong sách vở. Có người cho rằng đạo Mẫu có nguồn gốc từ thời tiền sử khi người Việt thờ cúng các thần linh trong thiên nhiên. Điều này gắn liền với tư duy nông nghiệp, cho các nữ thần là người che chở cho con người làm ăn gặp nhiều may mắn.

Ở Việt Nam, chế độ mẫu hệ còn để lại những ảnh hưởng khá đậm trong đời sống xã hội của cư dân. Vì thế, người việt có truyền thống thờ các nữ thần. Hiện nay không khó tìm trên đất nước ta những đền chùa có thờ các nữ thần này. Chỉ tính riêng khu vực quanh vùng Dâu (Thuận Thành, Bắc Ninh) đã có đến bốn ngôi chùa thờ các nữ thần: Pháp Vân, Pháp Lôi, Pháp Vũ và Pháp Điện. Từ chỗ thờ các nữ thần mà hiện thân của nó là các hiện tượng tự nhiên như vậy; người Việt đã thờ phụng các nữ thần cai quản các vùng không gian. Dần dần tín ngưỡng thờ Mẫu xuất hiện.

Như vậy, tín ngưỡng thờ Mẫu có sự phát triển từ các hình thức sơ khai đến các hình thức phát triển cao là Mẫu tam phủ, tứ phủ. Theo giáo sư Ngô Đức Thịnh, Đạo Mẫu có các giai đoạn phát triển như sau:

1./ Thờ các nữ thần thiên nhiên riêng biệt. Các nữ thần này là các tinh thần thiên nhiên và không có đặc điểm của con người, đặc biệt là đặc điểm của người mẹ.

2./ Thờ các Thánh Mẫu. Các nữ thần này đã có các đặc điểm của con người. Ví dụ: Mẹ Âu Cơ của dân tộc Việt.

3./ Thờ Thánh Mẫu tam phủ, tứ phủ. “Phủ” ở đây là ba hay bốn thành tố của vũ trụ: trời, đất, nươc, rừng.

2./ Cấu trúc đền thờ và ban thờ

          Đạo thờ Mẫu xuất hiện khá sớm ở đất Việt. Từ thế kỉ XVI về sau, nghi thức ổn định và dần dần hội nhập vào chùa. Một ban thờ Mẫu đầy đủ bao giờ cũng gồm: bộ Tam Tòa Thánh Mẫu (Mẫu Thượng Thiên. Mẫu Thoải và Mẫu Địa) được đặt ở cao và sâu nhất, riêng Mẫu Thượng Ngàn được đặt riêng vì ngài còn gắn với người đã khuất. Trên trục chính là tam vị đức cha. Bên trái bàn thờ là Ngũ vị Tôn ông; bên phải là Tứ phủ chầu bà. Đặt xen kẽ thường có những nam nữ nhỏ tuổi , đó là các Cô và Cậu.

          Các vị thần của tín ngưỡng thờ Mẫu được phụng thờ ở các di tích mà dân gian gọi là phủ, đền, điện. Ở mọi miền trên đất nước ta đều có những nơi thờ Mẫu như vậy.

3./ Nghi lễ thờ cúng

          Các vị thần trong  đạo Mẫu phản ánh các phẩm chất của một người mẹ vừa thần thánh lại vừa con người. Đạo Mẫu không chú ý vào cuộc sống sau khi chết mà nó quan tâm đến hiện tại và câu hỏi làm thế nào để người ta có thể đạt được một cuộc sống hạnh phúc trên trần gian. Điều đó thể hiện trong các điều cầu nguyện của con người đến cửa Mẫu: họ mong muốn thời tiết thuận hòa tốt cho mùa màng, cầu mong sức khỏe  cho con người, cầu tiền tài, cầu tự…

          Đạo Mẫu có các nghi lễ tổ chức theo Âm lịch với các tín đồ và nhiều người đi lễ tham gia. Các nghi thức hành lễ chủ yếu ở truyền khẩu từ đời này qua đời khác. Nghi lễ phỏ biến nhất của đạo Mẫu là lên đồng (hay còn gọi là hầu bóng). “Về bản chất , lên đồng là hiện tượng nhập hồn nhiều lần của thần linh trong điện thần, của đạo Mẫu và các ông đồng, bà đồng để cầu sức khỏe” (5; 97). Trong nghi lễ này người ta tin rằng linh hồn của các vị thần sẽ nhập vào người lên đồng, linh hồn này sẽ được vời đến để nghe lời cầu nguyện của người đi lễ. Trong các nghi lễ, phụ nữ thường đóng vai trò chính, người lên đồng cũng là phụ nữ (bà đồng), đôi khi cũng do nam giới nhận (ông đồng).

          Nghi lễ lên đồng trong đạo Mẫu không tách rời với các điệu múa linh thiêng (các giá đồng). Đây chính là một phần quan trọng của nghi lễ. Có 72 giá đồng. Trong một buổi lễ, các giá đồng được biểu diễn cùng với hát văn (hay chầu văn). Hát văn là một thể loại hát nói. Chầu văn tạo nên một khung cảnh và âm nhạc tâm linh để giúp cho người nhập đồng vào vai mới và gắn kết với những con người và nơi chốn ở bên ngoài thế giới địa phương họ.

          Đạo Mẫu có hai dịp lễ hội quan trọng “Tháng Tám giỗ cha, tháng Ba giỗ mẹ”- nhân ngày mất của đức thánh Trần (cha) và Liễu Hạnh công chúa (mẹ). Ngoài ra người đi lễ có thể đến phủ, đền vào các ngày mùng một và ngày rằm hang tháng.

II./ ĐẠO MẪU TRONG TIỂU THUYẾT “MẪU THƯỢNG NGÀN” CỦA NGUYỄN XUÂN KHÁNH

          Với tư cách là một tín ngưỡng bản địa của dân tộc, đạo Mẫu đã theo dòng ngòi bút của Nguyễn Xuân Khánh hiện diện trên trang giấy và trở thành một điểm nhấn cho tác phẩm. Với đạo Mẫu nhà văn đã chọn được cho mình một địa hạt lí tưởng để từ đó khám phá và thể hiện đời sống tinh thần, tâm linh của người Việt. Dường như từng hơi thở, từng nếp sống văn hóa đang cựa mình sau từng câu văn con chữ trong cuốn tiểu thuyết. Lấy đạo Mẫu là mạch ngầm tư tưởng chính nhà văn không những phản ánh được tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt một cách chân thực, sinh động mà còn thể hiện được những suy nghĩ, cảm nhận của bản thân mình về tín ngưỡng nguyên thủy, rất đặc trưng của dân tộc.

1./ Đạo Mẫu và niềm tin về Mẫu

          Bối cảnh chủ đạo mà Nguyễn Xuân Khánh xây dựng của ở cuốn tiểu thuyết này là một ngôi làng Bắc Bộ vào cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX. Và một Việt Nam thuần hậu và nguyên thủy đã hiện ra trọn vẹn nơi làng Cổ Đình này. Chọn địa điểm là một ngôi làng bán sơn địa, Nguyễn Xuân Khánh muốn thể hiện sức lan tỏa mạnh mẽ của tín ngưỡng thờ Mẫu, vốn được coi là tôn giáo sản sinh từ xã hội có yếu tố thương nghiệp của vùng đồng bằng Bắc Bộ. Trong ngôi làng Cổ Đình nhỏ bé ngự trị một không gian tâm linh thành kính bao trùm lên tất cả, trong đó con người có niềm tin mãnh liệt vào Mẫu.

          Những người dân nơi Cổ Đình này có một lòng ngưỡng vọng, tôn kính đặc biệt đối với Mẫu và Mẫu là một nhân vật linh thiêng luôn sống trong tâm trí của những ngươi dân nơi đây. Lắng nghe những lời tâm sự, những tiếng lòng đầy thành kính của những người dân nghèo khổ lam lũ ở mảnh đất này, ta sẽ thấy rõ được niềm tin bất diệt của họ vào Mẫu.Ông đồ Tiết dù là một nhà nho nhưng ông khác với nhiều nhà nho khác, ông không bao giờ bổ báng đạo Mẫu. Ông đã từng nói với Nhụ: “Mẫu cho ta tất cả”. Còn Nhụ- cô gái quê non nớt ấy cũng một lòng thành kính đối với Mẫu “em chỉ hát những lời ca về Mẫu từ thưở ấu thơ, em chưa bao giờ được đi lễ, tuy nhiên cứ mỗi lần nghĩ về Mẫu, lòng em lại thấy rưng rưng. Cứ như thể Mẫu đối với em rất thân thiết, gần gũi, mặc dù em chưa bao giờ giáp mặt” (2;422). Tất cả mọi người dân quê nhỏ bé ở ngôi làng Cổ Đình này đều tôn kính Mẫu, từ già đến trẻ, bất kể trai hay gái. Không chỉ là trong suy nghĩ, Bà Tổ Cô, bà Mùi còn lên ở tại đền Mẫu để được quanh năm hương khói, hầu cận Mẫu.

          Niềm tin của người dân Cổ Đình đối với Mẫu không chỉ thể hiện trong tâm trí, trong lòng kính yêu, tri ân vô hạn đối với Mẫu mà còn thể hiện trong những câu truyện của họ về Mẫu, về những người hầu cận Mẫu. Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh đã đặt những câu truyện ấy vào nơi cửa miệng của những môn đồ, con nhang đệ tử của đạo Mẫu, của những người một lòng thành kính Mẫu để nhấn mạnh vào sự ngưỡng vọng, niềm tin mãnh liệt của họ vào Mẹ của mình. Đó là những câu chuyện về những người hầu cận Mẫu, câu chuyện về ông hắc xà đen đền Mẫu, câu chuyện về đồi rắn thần- đôi ngựa ngài của Mẫu. Những câu chuyện về phép lạ hiện hữu của Mẫu này càng làm tăng thêm sức hấp dẫn, thu hút và niềm tin của họ vào Mẫu. Điều đã từng kể cho Nhụ về các cô đồng trinh hầu cận Mẫu ở bên kia song, những bà nạ dòng hầu hạ vị đại thụ linh thần. Theo lời Điều “các cô thường đánh võng trên cây đa, đưa tít bổng lên trời. Có đêm thanh vắng, người trong làng cũng nghe thấy tiếng kẽo kẹt và cả tiếng ru con véo von thánh thót. Lúc ấy chó cũng không dám sủa, còn người thì dựng tóc gáy.” (2;22). Những lời kể đầy thần bí, hấp dẫn thể hiện niềm tin của con người vào sự hiện hữu của thần linh. Niềm tin ấy được đẩy lên cao độ khi họ được nghe những câu chuyện về sự hiện hình trực tiếp của các cô hầu cận Mẫu qua lời của một anh đi nhấc đó sớm: các cô “một áo vàng, một áo đỏ, một áo xanh. Các cô tha thướt như bay. Ba cô đều vấn tóc đuôi gà. Hai tay vung vẩy thẽo thượt” (2;222). Điều, khi kể lại câu chuyện của anh nhấc đó cho Nhụ còn nhấn mạnh thêm “các cô là quân hầu của thánh, của thần, đời nào các cô hại ai, chi là thích chòng ghẹo người trần gian cho vui những khi nhàn rỗi. Các cô dứt khoát chẳng phải là ma.” (2;222)

          Một lòng tin yêu và sùng kính đối vời Mẫu, những người dân nơi đây dù giàu dù nghèo đều tri ân với Mẫu, hay nói như cụ Đồ Tiết “Mẫu cho ta tất cả”. Vì thế họ tìm đến nơi của Mẫu để cầu khẩn, để xin Người mở lòng từ bi giúp đỡ. Bà cà Cỏn đến đền Mẫu để cầu tự, bà già nông dân đến đền Mẫu để cầu cho ông lão khỏi tật bệnh… Tất cả đều được linh nghiệm trong cuốn tiểu thuyết này. Bà cà Cỏn làm lễ cầu tự ở đền Mẫu vào đầu năm và cuối năm linh nghiệm liền “cậu ấm quý như hòn vàng, nhưng là con cầu tự nên nó khó nuôi lắm.” (2;534).

          Niềm tin mãnh liệt của người dân nơi đấy đối với Mẫu của họ còn được thể hiện sinh động qua sự mê đắm của các con nhang đệ tử: “Họ đã mang sẵn căn địa, tâm thế của lòng sùng tín. Họ sẵn sang đến để nhập cuộc, mê đắm, sẵn sang rũ bỏ tục lụy thường nhật để dấn thân vào cõi trời siêu nghiệm xa lạ, ở đó ta trở về với ta tức là ta trở về với mẹ, ở đó là sự bình yên, niềm an ủi, cái diệu kì thánh thiện…” (2; 705). Mẫu đối với họ thiêng liêng biết chừng nào, họ tìm đến với Mẫu cũng chính là một điều tất yếu, một yêu cầu chính đáng của tâm linh. Ở đây không hề có khoảng cách của những con nhang đệ tử của đạo Mẫu ngoài đời và trong cuốn tiểu thuyết. Sự mê đắm, sùng tín ấy là điểm gặp gỡ của những tâm hồn, những con người của Đạo Mẫu.

          Xây dựng những người dân với lòng sùng tín, niềm tin mãnh liệt vào Mẫu, Nguyễn Xuân Khánh đã dựng lên được một không gian tâm linh thiêng liêng trong cuốn tiểu thuyết này. Trong không gian thiêng liêng đó, người người yêu Mẫu, nhà nhà tôn sùng Mẫu. Nằm ngoài sự tôn sùng Mẫu, bổ báng đạo Mẫu, người đó chắc chắn sẽ nhận được sự trừng phạt của Mẫu. Nhấn mạnh ý này nhà văn đã xây dựng một nhân vật thực dân phải hứng chịu sự chừng phạt của Mẫu khi dám lên tiếng bổ báng Mẫu là mê tín, quàng xiên, thờ rắn là tà giáo. Tên thực dân Julien vừa lên tiếng bổ báng thì “đôi mắt ông hắc hổ liền dọi vào hắn bằng những tia  phản quang giận dữ” (2; 434). Và ngay sau đó mọi người có mặt đều khiếp hãi và sửng sốt khi tên này bị rắn (ngựa ngài) đuổi “con vật to như cổ chân, dài như đòn gánh, màu chì tỏ ra tức giận vô cùng” và đuổi theo Julien làm tên này phải chạy chí mạng mới thoát được. Đó là câu chuyện về ông hắc xà- kẻ canh giữ đền Mẫu. Đây chính là nét sáng tạo của ngòi bút Nguyễn Xuân Khánh trong chuyện. Phép thần hiện hữu chính là điểm nhấn quan trọng của tiểu thuyết.

          Và rồi theo ngòi bút của người kể chuyện, các nhà thực dân cũng thức tỉnh và họ cũng đã có những nhận thức chung, đúng đắn về đạo Mẫu. Nhà văn đã để cho Pierre- một họa sĩ thực dân tổng kết về đạo Mẫu một cách say sưa, thấm thía như người trong cuộc “Đạo của họ thờ mẹ Trời, mẹ Đất, mẹ Nước. Họ nói đó là đạo Người mẹ. Có thể nói gọn, đó là đạo thờ khí thiêng của thiên nhiên, thờ người mẹ đã sinh ra thế gian này. Thờ như vậy là thờ những điều cao quý nhất, đâu có phài là tà giáo.” (2; 427). Và để nhấn mạnh thêm, nhà văn Nguyễn Xuân Khánh còn đặt những lời lẽ tôn trọng đối với đạo Mẫu vào miệng của một người ngoại quốc khác- đó là nhà dân tộc học René: “tôi nghĩ bất kì tôn giáo nào cũng đều có trạng thái lên đồng: Cơ đốc giáo có sự thiên khải, phật giáo có trạng thái ngộ đạo. Khi đã lý thuyết hóa, ta mới coi đó là tôn giáo. Còn những sự thiên khải vô ngôn thì sao?” (2; 715). Đặt đạo Mẫu vào điểm nhìn của những người ngoại quốc với một sắc thái trân trọng như vậy, Nguyễn Xuân Khánh đã đạt được đến sự tột cùng của thành công khi xây dựng niềm tin về Mẫu ở trong tiểu thuyết.

          Có thể nói, với việc xây dựng được nhân vật với niềm tin mãnh liệt vào Mẫu như vậy nhà văn đã dựng lên được một không gian tinh thần, một không khí linh thiêng trong một ngôi làng nhỏ bé. Niềm tin ấy là phông nền, là cơ sở để nhà văn tiếp tục triển khai mạch chảy về đạo Mẫu trong thiên tiểu thuyết này.

 

2. Đền thờ Mẫu trong tiểu thuyết “Mẫu thượng ngàn”

          Là người ngay từ nhỏ đã được đắm mình trong không khí linh thiêng của đạo Mẫu, hơn ai hết nhà văn Nguyễn Xuân Khánh hiểu thấu về cái không gian tôn kính ấy của đạo. Nhờ vậy, những trang văn ông viết về đạo Mẫu thật sinh động, đền đài, tượng Mẫu trở nên sống động như hiển hiện trước mắt ta.

          Đền Mẫu của làng Cổ Đình ở một nơi cao xa, linh thiêng và mang chút bí ẩn. Đền thuộc vùng đất này nhưng lại tách ra so với làng, muốn đến được phải bơi dọc con sông Son và quà hồ Huyền. Và khi đã qua được sông,hồ đó để đến được đền Mẫu rồi thì tâm hồn con người mới được thanh tẩy, chỉ còn sự trong sạch, một lòng sùng kính với Mẫu.

          Bước vào ngôi đền Mẫu trong tiểu thuyết, ta bắt gặp một cài gì đó rất quen, rất đặc trưng của ngôi đền Mẫu ở đâu đó trên đất nước này. “Ngôi đền Mẫu hiện ra uy nghi, khói phủ rêu phong, nằm chính giữa đỉnh núi, giữa những cây dẻ. Một cây ngọc lan cổ thụ ở đầu hồi bên phải tỏa hương thơm ngát”. Đó là khung cảnh bao quát của ngôi đền Mẫu. Đi tiếp vào bên trong đền, Nhụ “sững người ngắm nghía tòa thánh điện lộng lẫy.” Nhà văn đã để Nhụ nhìn ngắm tòa thánh điện rất tỉ mỉ. Nào là tượng Thánh Mẫu sơn son thiếp vàng phủ khăn đỏ ở trên bàn thờ hậu cung cao vót, nào là hương án trên có bày bát hương, giá nến, đỉnh ở phía dưới; nào là bức phù điêu hắc hổ ở tận cùng vòm cuốn. Ở trong đền Mẫu còn có hai chú “ngựa ngài” đứng hai bên nhìn vào điện chầu Thánh Mẫu; còn có hai bức tranh lớn được vẽ lên tường... Tất cả quang cảnh của đền Mẫu được thu lại dưới con mắt đầy thích thú, ngỡ ngàng của Nhụ. Tất cả đều hiện lên lộng lẫy và linh thiêng vô cùng, nó “thật đúng như sự tưởng tượng của Nhụ về Thánh Mẫu trong giấc mơ”.

          Không chỉ tả riêng về đền Mẫu của làng Cổ Đình, nhà văn còn tiếp tục nói thêm về đền Mẫu trong dân gian. “Đền thờ Mẫu nhiều lắm, ở khắp mọi nơi” và “Thường thường dân tìm một nơi phong cảnh hữu tình, kỳ thú rồi lập đền”; “Nơi nào không lập được đền riêng rẽ, người dân kết hợp luôn vào chùa làng và đình làng. Đằng trước thờ Phật, thờ Thánh trong tòa đại điện, đằng sau thờ Mẫu trong tòa điện nhỏ.” Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh đã đưa hết vốn văn hóa, sự quan sát và trải nghiệm của mình lên trang truyện. Và nhờ đó không chỉ dựng lại được không gian văn hóa làng tại làng Cổ Đình mà còn dựng lại được cả không gian văn hóa của mọi miền đất nước.

          Như vậy, bằng vốn sống cùng những hiểu biết về đền Mẫu của mình, nhà văn Nguyễn Xuân Khánh đã tạo dựng lại trong tác phẩm của mình những ngôi đền thờ Mẫu chân thực và cũng thật sinh động. Và càng sinh động hơn nữa khi ông đã dụng công tái tạo lại trong ngôi đền ấy những nghi lễ thờ cúng đặc trưng của đạo Mẫu.

 

3. Nghi lễ thờ cúng

          Trong tác phẩm, ta có thể dễ dàng nhận thấy một nghi lễ đặc biệt của đạo Mẫu đó chính là hầu đồng (lên đồng). Đến với đạo Mẫu các con nhang đệ tử chìm đắm vào men say của đạo, ngả nghiêng theo lòng sùng kính với Mẫu. Và để đến với mỗi cuộc lên đồng họ đã “ sẵn sàng đến để nhập cuộc, mê đắm, sẵn sàng rũ bỏ tục lụy thường nhật để dấn thân vào cõi trời siêu nghiệm xa lạ, ở đó ta trở về với ta tức là ta trở về với mẹ, ở đó là sự yên bình, niềm an ủi, cái diệu kì thánh thiện” (2; 705).

Đặc biệt chú ý trong nghi thức lên đồng này là những bà đồng mà trong “Mẫu thượng ngàn” đó chính là bà Mùi. Giống như những bà đồng khác ngoài đời, bà Mùi cũng có đủ bộ khăn chầu áo ngự và bà rất hài lòng với “hòm khăn chầu áo ngự trứ danh” của mình. Nhà văn đã miêu tả rất cụ thể, sinh động những hành động cũng như trạng thái của bà Mùi khi nhập đồng. Khi ngồi trên bệ hành lễ lòng bà lâng lâng khó tả và khi bà đã trùm khăn phủ diện- chiếc khăn cách li bà khỏi thế gian thì “lòng sùng tín của bà chỉ tập trung vào một cảm giác rất linh thiêng đang dần lên cao. Tiếng đàn nguyệt của ông Huyền như dồn dập, thúc đẩy tâm hồn bà đạt đến chỗ thuần khiết. Tiếng hát của Nhụ thật trong trẻo thơ ngây, làm cho lòng bà lúc này muốn bay lên vươn tới miền tột cùng thánh thiện” (2;705). Và rồi “bà Mùi chợt nhìn thấy trong tam tưởng của mình một điểm hồng. Chẳng biết cái điểm sang nhỏ bé ấy từ đâu hiện ra. Nó sinh từ cái màu hồng của tấm khăn phủ diện, hay từ một linh điểm trong tâm thức bà mà sự sùng tín, sự khao khát thánh thiện đã nuôi dưỡng nó. Điểm sáng trong tâm từ một chấm nhỏ dần dần triển nở rồi chiếm lĩnh toàn bộ tâm hồn bà. Bà Mùi lập tức bám lấy. Cửa huyền vi đã mở, bà tung khăn phủ diện. Lúc này, bà ở trạng thái hoàn toàn siêu thoát. Thánh đã nhập đồng.” (2; 706). Những trạng thái tinh vi của con người lúc nhập đồng được nhà văn miêu tả thật chân thực mà không kém phần sinh động. Nó là trạng thái siêu thoát, hoàn toàn ngây ngất.

Cùng với trạng thái nhập đồng, Nguyễn Xuân Khánh cũng đã rất dụng công miêu tả các giá đồng. Trong lần lên đồng của bà Mùi đã có rất nhiều giá đồng đi kèm với nó. Nhà văn đã miêu tả rất tỉ mỉ các giá đồng. Đó là giá Mẫu với không khí trang nghiêm huyền diệu “bà đồng bắc ghế hầu Mẫu bao giờ cũng có cử chỉ khoan thai, đĩnh đạc. Mẫu luôn nói nhẹ nhàng, nhỏ nhẹ. Không có những tiếng hú dồn dập, phóng khích. Không có ngững cử động mạnh mẽ, phóng túng.”(2; 707). Đó còn là giá “quan lớn tuần Chanh” với sự nhập đòng rất thành công của bà Mùi, mát bà sang quắc, động tác nhanh nhẹn, bà “múa tít vun vút, loang loáng” thanh long đao bằng gỗ, cứ như thể bà là một vị tướng thực sự, trong tay có bát vạn binh hùng. Những con nhang đệ tử “ngồi quanh im lặng, ngất ngây chiêm ngưỡng một vị anh hùng giáng thế”. Và cuối cùng là giá Bà Chúa Thác Bờ với sự ngất ngây, mê đắm của toàn bộ những người tham gia.

Ứng với mỗi giá đồng ấy là những bài chầu văn- một phương tiện hưũ hiệu để cuốn con người vào cõi mơ, thoát khỏi cõi trần bụi bặm ngổn ngang, ở đó con người được hưởng những phút thăng hoa. Trong tác phẩm, nó là tiếng đàn, lời hát của cha con ông Huyền. Tiếng đàn diệu kì của cha hòa cùng tiếng hát trong trẻo của con làm tôn thêm sự huyền diệu, linh thiêng của cuộc lên đồng. Trong giá Mẫu, ông Trịnh Huyền dạo “những khổ nhạc nghiêm trang, cao thượng, tưng bừng”, hai cha con một thổ, một kim đồng thanh cất tiếng hát chầu văn:

“…Kiếp giáng sinh vào nhà Lê Thị

Cải họ Trần vận khí thiên hương

Vốn sinh vẻ cốt phi thường

Giá danh đòi một, hoa vương khôn bì…”

Theo lời ca tiếng hát của họ một cảm giác đẹp đẽ lạ thường dâng lên trong lòng tất cả mọi người trong tòa điện. Tiếng đàn, giọng hát của họ là một thứ mật ngọt mà họ phải nỗ lực, khổ luyện mới có được. Để đánh đàn bài thỉnh Mẫu, ông Huyền phải uốn nắn tỉ mỉ từng cái nhấn, cái láy. Rồi khi hát văn ông phải chữa cách lấy hơi, rồi phải nhả ra từng chữ sao cho giọng thật sang mà không kiêu, ngân nga luyến láy ngọt ngào mà không lơi lả buông tuồng.

Đến khi bước sang giá “quan lớn tuần Chanh”, hai cha con ông Huyền lại khéo léo, uyển chuyển thay lời ca, tiếng đàn cho phù hợp với giá đồng mới, ăn nhập với đọng tác của bà đồng khi nhập đồng. Giọng dâng văn của hai cha con chuyển sang hào sảng, tiếng đàn sảng khoái, dồn dập; những lời ca như một bản hùng văn:

“Sông Chanh, sông Chanh, ơi sông Chanh!

Non nước còn ghi trận tung hoành

Lẫm liệt oai phong gương tráng sĩ

Ngàn thu còn để dấu anh linh…”

Rồi buổi lên đồng bước sang giá đồng cuối cùng- giá Bà Chúa Thác Bờ thì ông Huyền lại chuyển ngay sang điệu xá thượng- một điệu hát rộn rang, tưng bừng:

“Vầng nhật nguyệt đêm ngày soi tỏ

Cảnh thác bờ rực rỡ càn khôn

Lô xô đá mọc đầu nguồn

Khen ai khéo tạc bên luồng chơi vơi.”

Những lời ca, tiếng hát chầu văn đã làm tăng thêm không khí linh thiêng, huyền diệu của buổi lên đồng. Nhờ vậy mà mọi người trong buổi lên đồng đều nhập đồng, đều đắc nhất “cô Mùi lâng lâng siêu thoát, các cô hầu thì đắm say, các con nhang đệ tử ngất ngây. Cả ông Huyền và Nhụ cũng thế, họ đã đàn hát trong sự xuất thần”(2; 712)

Với tài năng của mình, nhà văn nguyễn Xuân Khánh đã làm sống lại cả một không khí tôn kính, thiêng liêng của đạo Mẫu, đã khơi dậy được cả không gian văn hóa làng đặc sắc với hạt nhân là tín ngưỡng dân gian. Đọc những trang văn ta ngỡ như đang được xem một buổi lên đồng thực sự. Dường như từng hình ảnh, từng câu hát, tiếng đàn như đập vào tai, như mở ra trước mắt ta. Cảnh tượng diệu kì như phút chốc bừng dậy trong tâm trí ta, ru hồn người vào cõi mê đắm, tâm hồn trở nên thanh khiết.

4./ Chức năng diệu kì của đạo Mẫu

          Dưới cái nhìn của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh cũng như những người dân Cổ Đình đạo Mẫu có một sức lôi cuốn đặc biệt. Con người ngưỡng vọng và có niềm tin mãnh liệt vào Mẫu, đó không chỉ là niềm tin vào phép màu linh nghiệm mà còn là niềm tin của họ vào khả năng cứu rỗi, an ủi và giá trị thanh tẩy của đạo cao quí mà họ đang theo. Tìm về với Mẫu là tìm về với mẹ, để thể hiện ước vọng và cũng là để tâm hồn đạt đến sự tinh khiết, để chạm được tới trạng thái thăng hoa, vơi nhẹ.

          Trước hết, Mẫu hiện lên thật thiêng liêng trong niềm tin tuyệt đối của chính người kể chuyện “có sông, có núi, có cỏ cây hoa lá, lại thêm cái hồn của con người thành kính tỏa vào đó, các ngôi đền thành nơi dung chứa những khát vọng và nôĩ niềm của mọi người dân quê nghèo khổ” (2; 421).Và “cái tôn giáo dân gian ấy đã an ủi bao tâm hồn cay cực của nông dân”, vì thế họ dù giàu dù nghèo đều tri ân với Mẫu. Mẫu cho họ tất cả. Nhà văn đã rất đề cao đạo Mẫu, có cái nhìn trân trọng đối với thứ tôn giáo thuần Việt này.

          Người dân Cổ Đình tìm về với Mẫu, một lòng thành kính đối với Mẫu bởi đối với họ Mẫu có vai trò rất lớn đối với đời sống tinh thần, tâm linh của họ. Mẫu cứu rỗi họ, giải thoát cho họ khỏi những ưu phiền, giúp họ thoát khỏi những bất hạnh, uẩn ức. Mẫu vỗ về, an ủi họ, nâng họ trên đôi tay nhân hậu của mình, giúp họ vực dậy: “trong giây lát, bao nhiêu nỗi cay cực của đời người những người đàn bà thôn quê bỗng được thăng hoa, vơi nhẹ”(2; 710) và “đời người vốn nhiều bất hạnh, ưu phiền, ẩn ức. Ở một cuộc đồng bươc ra, con người đã được giải tỏa, gột rửa.”(2; 712). Tất cả những gì còn lại đối với họ lúc này là sự mê đắm hoàn toàn dối với Mẫu. cho dù là ai đi chăng nữa, dù giàu hay nghèo họ đều gặp gỡ nhau ở một điểm tựa tâm linh đó là niềm tin về Mẫu. Đến với Mẫu họ được lâng lâng siêu thoát, được Mẫu chắp thêm cho nghị lực sống “con người như được nạp thêm năng lượng mới để tiếp tục sống”(2; 712).

          Đạo Mẫu không chỉ cứu rỗi, an ủi những sinh linh bé nhỏ nơi thôn quê mà còn có vai trò thanh tẩy, giúp con người trở nên tốt đẹp hơn. Sau mỗi cuộc đồng bước ra con người dường như đã được gột rửa, thanh tẩy, con người trở nên tốt đẹp và thánh thiện hơn “tất cả đều trở nên tinh khiết. Cái linh thiêng đã cứu giúp những con người nhỏ bé” (2;712). Đạo Mẫu thiêng liêng, cao quí biết chừng nào đối với mỗi người dân nơi đây. Họ tìm đến với tín ngưỡng nguyên thủy này để sống cho thanh sạch, siêu thoát, sống tốt đẹp hơn.

          Vai trò thanh tẩy của đạo Mẫu còn thể hiện sâu sắc qua nhân vật bà Tổ Cô và bà Mùi. Bà Tổ Cô là người cải từ đạo Thiên chúa sang- trở về với tín ngưỡng tự ngàn đời của dân tộc. Trong “Mẫu thượng ngàn” bà hiện lên như một biểu tượng của sự thanh khiết. Bà đã từng nói “đạo nào cũng thế thôi. Đạo Giê- su cũng như đạo Mẫu . Tất cả đều chỉ là khuyến thiện tín ngưỡng bản địa tự ngàn đời của dân tộc, trong tiểu thuyết bà hiện lên như một biểu tượng của sự thanh khiết. Bà đã từng nói: “ Đạo nào cũng thế cả thôi. Đạo Giê-su cũng như đạo Mẫu. Tất cả đều chỉ là khuyến thiện. Người theo Đạo Gia-tô chăm chỉ sửa mình sao cho ngày càng gần Chúa hơn. Còn chúng ta thì làm sao cho mình hòa vào với Mẫu… Ta càng sạch sẽ bao nhiêu, ta càng thánh thiện bao nhiêu, ta càng rũ bỏ tục lụy bao nhiêu, thì Mẫu càng gần ta bấy nhiêu và các đệ tử cũng nhích lại bấy nhiêu” (2; 696). Bà Tổ Cô có niềm tin mãnh liệt vào Mẫu, một lòng theo Mẫu, phụng sự Mẫu, tin vào sức mạnh thanh tẩy của Mẫu, mang trong mình một khát vọng hướng thượng.

Bên cạnh bà Tổ Cô là nhân vật bà Mùi. Vai trò thanh tẩy cứu rỗi của đạo Mẫu được thể hiện rõ nhất, sâu sắc nhất qua trạng thái của bà lúc nhập đồng. Trong lúc nhập đồng “tiếng đàn nguyệt của ông Huyền như dồn dập, thúc đẩy tâm hồn bà đạt đến chỗ thuần khiết. Tiếng hát của Nhụ thật trong trẻo thơ ngây, làm cho lòng bà lúc này muốn bay lên vươn tới miền tột cùng thánh thiện” (2;705) và đối với bà Mùi “bao nhiêu sự tủi nhục, yếu đuối lúc này chợt bay đâu mất”(2;709). Đến với đạo Mẫu, bà thực sự bị cuốn vào cõi thuần khiết, thoát khỏi cõi trần bụi bặm, ngổn ngang, con người được siêu thoát, sống tốt đẹp hơn. Nhà văn đã nhìn đạo Mẫu với cái nhìn đầy ưu ái, kính trọng. Đó là đạo thiêng liêng, đạo cao quí, đạo cứu rỗi con người, đạo có giá trị thanh tẩy tâm hồn cho những người dân quê.

                              *          *        *

Có thể nói, với tiểu thuyết “Mẫu thượng ngàn” nhà văn Nguyễn Xuân Khánh đã thực sự thành công khi dựng lại một không gian văn hóa làng với hạt nhân là tín ngưỡng dân gian. Trong đó, đạo Mẫu là mạch ngầm vững chắc xuyên suốt toàn bộ tác phẩm. Đạo Mẫu- thứ tôn giáo bản địa tự cổ xưa của người Việt từ cuộc đời thực đã bước chân vào lãnh địa văn học. Dưới ngòi bút của Nguyễn Xuân Khánh, đạo Mẫu hiển hiện chân thực nhưng cũng không kém phần sinh động; không chỉ thế nó còn được soi chiếu bởi cách cảm, cách nghĩ của riêng nhà văn. Với cuốn tiểu thuyết viết về văn hóa phong tục Việt Nam này, một lần nữa nhà văn đã thể hiện được mối quan hệ gắn bó sâu sắc tự ngàn đời giữa văn hóa và dân tộc đồng thời đặt ra vắn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, tránh hiện tượng lợi dụng tôn giáo.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1./ Trần Thị An- Sức ám ảnh của tín ngưỡng dân gian trong tiểu thuyết “Mẫu thượng ngàn”, Tạp chí nghiên cứu văn học, số 6, năm 2007.

2./ Nguyễn Xuân Khánh- Mẫu thượng ngàn, NXB phụ nữ, Hà Nội, 2006.

3./ Hữu Ngọc (chủ biên)- Từ điển văn hóa cổ truyền Việt Nam, NXB thế giới, Hà Nội, 2002.

4./ Ngô Đức Thịnh- Đạo Mẫu ở Việt Nam (in trong “Đạo Mẫu và các hình thức shaman trong các tộc người ở Việt Nam và châu Á, NXB KHXH, 2004.

5./ Trần Quốc Vượng- Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB Giáo dục, 2006.

6./ Các bài viết lấy từ internet:

·        Nguyễn Lan Anh- Nguyễn Xuân Khánh gác bút sau “Mẫu thượng ngàn”, nguồn từ: http://evan.com/

·        Văn Chinh- Nơi bắt đầu “Mẫu thượng ngàn”, nguồn từ: http://vietbao.vn/

·        Các trang web khác như: http://www.vienvanhoc.org.vn...

7./ Các báo và tạp chí khác.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

MỤC LỤC

I./ Đạo Mẫu ở Việt Nam:

       1./ Đạo Mẫu- sự xuất hiện và phát triển:

       2./ Cấu trúc đền thờ và ban thờ:

       3./ Nghi lễ thờ cúng:

II./ Đạo Mẫu trong tiểu thuyết “Mẫu thượng ngàn”:

       1./ Đạo Mẫu và niềm tin về Mẫu:

       2. Đền thờ Mẫu trong tiểu thuyết “Mẫu thượng ngàn”.

       3. Nghi lễ thờ cúng:

       4./ Chức năng diệu kì của đạo Mẫu:

 

 

 

 

 

 

 

(Source: Khoa Ngữ văn - Đào tạo Cao học )
Tin khác:
  
  
  
  
  

Tin khác:
  
  
  
  
  
Tin tức - Sự kiện In Ấn  
Khoa Ngữ Văn - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Faculty of Philology, Hanoi National University of Education
Địa chỉ: Nhà B, 136 Xuân Thủy - Cầu Giấy - Hà Nội   Điện thoại: 04.7549076/04.7547424   Email: nguvan@hnue.edu.vn