|
|
|
|
|
|
|
|
Hội thảo Cao học
|
|
|
|
|
|
MÔ TÍP CON SỐ 3 TRONG TIỂU THUYẾT TAM QUỐC DIỄN NGHĨA CỦA LA QUÁN TRUNG
|
|
Nguyễn Thư
CHK18 - Văn học nước ngoài
Thực ra các con số không chỉ đơn giản là những ký hiệu của toán học. Chúng còn là những biểu tượng văn hóa tích chứa những quan niệm nguyên sơ của con người về nhân sinh, vũ trụ. Ở một khía cạnh nào đó, có thể nói hệ thống nhân vật, sự kiện trong tiểu thuyết Tam quốc diễn nghĩa (gọi tắt là Tam quốc) của La Quán Trung được tóm lược vào các con số. Chẳng hạn, Ngũ hổ tướng, lục xuất Kỳ Sơn, thất cầm thất túng,… Trong đó, số 3 có vị trí quan trọng nhất với việc tổ chức cốt truyện, xây dựng nhân vật và truyền tải tư tưởng, đạo lí. Tam quốc dày đặc những sự kiện liên quan đến con số bí ẩn này: tam phân, tam kết nghĩa, tam cố thảo lư, tam khí khích Chu Du, tam mã đồng tàu, tam tuyệt, tam tài,… Điểm sơ qua như vậy cũng đủ chứng tỏ rằng, đây là một hiện tượng lí thú. Đã có một số nhà nghiên cứu - kể cả văn hóa và văn học như Uông Trung, Bành Trọng Phóng,… có nhắc đến những bí ẩn của những con số trong tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc nhưng phần lớn những công trình của họ mới chỉ đề cập đến khía cạnh tư tưởng chứ chưa thấy được sự thâm nhập của số 3 vào nghệ thuật tổ chức tác phẩm. Vì thế đây vẫn là một vấn đề cần quan tâm, lí giải.
Số 3 là một trong những biểu tượng mang nhiều ý nghĩa thú vị với rất nhiều nền văn hóa. Song do giới hạn đề tài, ở đây chúng tôi chỉ bàn tới sự khởi nguồn từ văn hóa Trung Hoa tới tác phẩm. Với người Trung Hoa, đây là con số tâm linh có ý nghĩa quan trọng. Rất nhiều khái quát văn hóa được đúc kết trong số 3. Chẳng hạn, vũ trụ có “tam giới”, phẩm chất có “tam tài”, lí số có “tam hợp”, đạo lí có “tam cương”, vũ trụ luận có “tam vị nhất thể”,…. Sự khái quát, đúc kết ấy có nguyên do từ những quan niệm về vũ trụ, nhân sinh. Theo Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, số 3 là biểu tượng của trật tự trí tuệ và tâm linh, là biểu hiện của sự hoàn chỉnh, sáng tạo. Trong Chu dịch, số 3 là tượng trưng của trời, là số thiếu dương, đang ở thế vận động, biến đổi. Đồng thời, số 3 cũng trưng cho sự vững vàng. Để cụ thể hóa ý nghĩa chỉ sự vững vàng, người Trung Quốc thường gọi là “thế chân vạc” còn người Việt hay gọi là “chân kiềng”. Người Trung Quốc coi số 3 là quan trọng không hẳn chỉ do dựa vào những quan sát tự nhiên mà do nét đặc thù về tôn giáo, tư tưởng. Cùng ngự trị, chi phối đời sống tinh thần của họ là tam giáo. Trong tam giáo, cả Nho, Phật và Đạo hầu như không loại trừ mà bổ sung cho nhau, kết dệt nên một đời sống tinh thần bền vững. Điều đó càng khiến họ có cơ sở để đặt nhiều ý nghĩa vào biểu tượng số 3.
Vì là biểu tượng chỉ trật tự thế giới nên chỉ cần một yếu tố biến đổi lập tức dẫn đến sự biến đổi các yếu tố khác. Ba yếu tố thiên - địa – nhân thể hiện trật tự của vũ trụ. Chỉ cần quan sát những biến động của thiên, địa sẽ biết hiện trạng của nhân, nghĩa là hiểu được xã hội trị hay loạn. Khi Đỗ Phủ viết: “Giang gian ba lãng kiêm thiên dũng / Tái thượng phong vân tiếp địa âm” (Giữa lòng sông sóng vọt tung lên thẳng bầu trời, trên cửa ải mây sa sầm che mờ mặt đất – Thu hứng 1) tức là viết về đời sống con người. Có hai vận động ngược hướng trong cặp câu thơ này. “Sóng” từ mặt sông muốn vọt lên trời, “mây” từ trên trời lại đổ ùn xuống mặt đất. Miêu tả sự hỗn loạn của thiên địa, người đọc có thể suy ra yếu tố thứ ba là con người (nhân) đang trong tình trạng xã hội loạn li.
Vì là biểu tượng của sự hoàn chỉnh, trọn vẹn nên theo nguyên lí “tròn quá ắt sẽ khuyết”, số 3 vừa là hợp vừa báo hiệu tan, vừa là sự vững vàng lại vừa dự báo sự suy yếu. Tục ngữ có câu “Ba người thợ da hợp sức có thể thành một Gia Cát Lượng” nhưng ngược lại, người ta cũng luôn lưu ý “Tam nhân bất đồng hành” (ba người không thể đi chung đường). Mối quan hệ tan - hợp trong số 3 cũng như hai mặt của âm - dương luôn vận động, biến dịch từ cực nọ sang cực kia cũng giống như “tam hợp biến tam tai”.
Trong Tam quốc, số 3 là nhân tố vừa góp phần tạo nên một kết cấu tác phẩm chặt chẽ lại vừa giúp tác giả thể hiện sinh động hóa, cụ thể hóa những tư tưởng triết học, quân sự thời phong kiến. Tam quốc là một trong số không nhiều những tác phẩm mà tư tưởng triết học hóa thân thành hình tượng nghệ thuật ít để lại dấu vết. Cũng như phần lớn tiểu thuyết chương hồi, tư tưởng chủ đạo của Tam quốc nằm ở ngay những dòng mở đầu: “thế lớn trong thiên hạ cứ tan lâu rồi lại hợp, hợp lâu rồi lại tan”. Tiếp đó, tác giả dẫn ra ba điềm báo tai ương để nói chính sự nhà Hán đổ nát rồi sự xuất hiện của ba thủ lĩnh Hoàng Cân tự xưng là Thiên công, Địa công, Nhân công. Trong quan niệm triết học và tư tưởng quân sự cổ Trung Quốc, ai càng gồm thâu được ba yếu tố Thiên thời, Địa lợi, Nhân hòa, khả năng đạt được mục đích của người đó càng lớn. Anh em họ Trương (Trương Bảo, Trương Lương, Trương Giác) lấy thiên, địa, nhân làm tên hiệu là muốn dùng chiêu bài thuận lòng trời, ý người để thay đổi triều đại, muốn bố cáo cho toàn thiên hạ biết họ đã nắm cả tam tài, tức là có chân mệnh đế vương. Trong mạch vận động cốt truyện, sự xuất hiện của ba thủ lĩnh Hoàng Cân nhằm báo hiệu thiên hạ chia ba còn trong mạch tư tưởng, sự kiện này đánh một dấu mốc mà rồi đây sẽ chi phối xuyên suốt tác phẩm khi viết về những diễn biến chính trị, quân sự thời Tam quốc - Tư tưởng Thiên - Địa - Nhân. Trong bất kỳ cuộc đấu trí nào của Tam quốc, phần thắng luôn thuộc về người nắm được nhiều nhất ba yếu tố này. Ở thế tam phân, mỗi lực lượng đều có đủ cả Thiên, Địa, Nhân nhưng sự phân phát ba yếu tố ấy cho mỗi phía không giống nhau. Tào Tháo chớp được Thiên thời, Tôn Quyền mạnh vì Địa lợi còn Lưu Bị dựng nghiệp bằng Nhân hòa. Vì mỗi lực lượng chỉ nắm được trọn vẹn một yếu tố trong tam tài nên chỉ hùng cứ được một phương. Khi cục diện “thế chân vạc” đã tương đổi ổn định, nghĩa là mỗi nước đều đang trong giai đoạn vững mạnh thì cũng là lúc giấc mơ “tam mã đồng tàu” (ba con ngựa cùng ở một tàu) của Tào Tháo lại dự báo thiên hạ hợp nhất. Giấc mộng của Tào Tháo ứng vào việc ba cha con họ Tư Mã sẽ là cướp ngôi nhà Tào (“Tam mã” là Tư Mã Ý, Tư Mã Sư và Tư Mã Chiêu) và thống nhất thiên hạ. Tuy nhiên, việc đưa giấc mơ “tam mã đồng tàu” vào giữa tác phẩm có nguy cơ phạm vào một trong những điều tối kị của tiểu thuyết chương hồi. Vốn lấy sự bất ngờ làm nguyên tắc tổ chức diễn biến cốt truyện, vì thế thể loại này rất kị việc để lộ mạch truyện. Tác giả Tam quốc đã giải quyết bằng cách dựng lên sự kiện Mã Đằng, Mã Siêu và Mã Đại dẫn quân Tây Lương với danh nghĩa Cần vương chống lại Tào Tháo. Sự việc đó khiến Tào Tháo nghi ngờ “Tam mã” trong giấc mộng chính ba thủ lĩnh Tây Lương. Việc đánh bại lực lượng này đã giải tỏa được những băn khoăn vì điềm mộng của Tào khiến Tư Mã Ý ở cạnh Tào Tháo mà vẫn bình an. Chính điều đó tạo nên tính bất ngờ, thú vị của cốt truyện. Chỉ đến khi quyền bính nước Ngụy rơi vào tay cha con Tư Mã Ý thì giấc mộng “Tam mã” mới thực sự ứng nghiệm. Lược đi những quan niệm thần bí về mệnh trời, sự “dẫn dắt” cốt truyện để đi đến sự hợp nhất của tam phân rất hợp lí trên cơ sở tư tưởng Thiên – Địa – Nhân. Họ Tư Mã thống nhất được thiên hạ vì nếu xét về Thiên thời thì đó là lúc họ Tào mất khả năng làm chủ ngai vàng, quyền bính nước Ngụy đã dần rơi vào tay cha con Tư Mã Ý; đó cũng là lúc chính sự của Ngô và Thục cực kỳ thảm bại. Lưu Thiền ham hưởng lạc, ngu muội còn Tôn Hạo tàn ác, làm mất lòng người. Xét về Địa lợi thì nước Ngụy trong tay họ Tư Mã ngày một cường thịnh,… còn Ngô và Thục càng ngày càng suy yếu,… Xét về Nhân hòa, trong khi họ Tư Mã xuất hiện nhiều nhân tài có những phẩm chất của một hoàng đế thì Lưu Thiền ở Thục là hôn quân và Tôn Hạo ở Ngô là bạo chúa. Trong khi họ Tư Mã ngày càng thu được nhiều nhân tài như Chung Hội, Đặng Ngải, Dương Hựu,… thì tâm phúc của Lưu Thiền và Tôn Hạo ngày càng thiếu vắng hiền tài,… Và như thế, nếu giấc mơ “Tam mã” dự báo thiên hạ thống nhất thì bộ ba nhân vật Tào Hoán – Lưu Thiền – Tôn Hạo đã đặt dấu chấm hết cho cục diện “thế chân vạc”. Như vậy, số 3 trong Tam quốc chính là biểu tượng chỉ sự biến đổi không ngừng. Hiểu như vậy thì sự phân chia rồi hợp nhất trong tác phẩm chỉ là một khúc đoạn luôn biến động của lịch sử. Sự phân chia, hợp nhất của đất nước được lí giải từ sự phân – hợp của tam tài.
Mặt khác, số 3 trong Tam quốc cũng là biểu tượng chỉ sự bình ổn, cân bằng tương đối vì các nhân tố trong đó vừa nương dựa vừa kiềm thúc, chế ước lẫn nhau.
Ở cấp độ tổng thể, mỗi lực lượng trong “tam phân” chỉ chiếm giữ được một yếu tố của tam tài nên cả ba luôn trong thế giằng co và mỗi khi hai lực lượng liên kết lại thì lực lượng còn lại sẽ gặp tổn thất. Lưu, Tôn liên kết khiến Tào Tháo thất bại ở Xích Bích. Tôn, Tào liên minh khiến Lưu Bị mất Kinh Châu và Quan Vũ thảm bại,… Cả ba lực lượng đều có tham vọng thống nhất thiên hạ nên một mặt vừa muốn thôn tính lại vừa muốn liên minh với lực lượng thứ hai để chống lực lượng còn lại. Trong trận Xích Bích, bề ngoài Ngô và Thục liên minh với nhau nhưng bên trong vẫn nảy sinh sự mâu thuẫn và đề phòng lẫn nhau. Chu Du vừa muốn mượn trí tuệ Khổng Minh phá Tào lại vừa ngấm ngầm âm mưu “dụ không được thì trừ”. Đó là lí do để Ngụy không thể bị diệt và cũng là lí do để thế chân vạc cân bằng. Ngụy không thể bị diệt vì liên minh Ngô Thục không phải được xây dựng trên sự tin tưởng nhau hoàn toàn. Cân bằng vì trong mỗi cuộc tranh hùng, lực lượng thắng thế cũng không dám truy đuổi kẻ bại trận đến cùng vì sợ lực lượng thứ ba thừa cơ “ngư ông đắc lợi”. Lục Tốn tuy thắng trận Hào Đình nhưng không dám truy đuổi Lưu Bị vì sợ Kiến Nghiệp bỏ trống sẽ bị Tào Phi thừa cơ đánh úp. Gia Cát Lượng vì dè chừng Đông Ngô nên mắc lừa Lý Nghiêm, Bắc tiến đang thắng thì phải rút quân để lo giữ yên mặt Đông. Nhiều lần quân Ngụy tiến xuống Đông Ngô dở dang rồi lại phải lui về vì sợ Tây Thục thừa cơ đánh chiếm Lạc Dương,…. Trong ba nhân vật tạo nên diễn biến chính của cốt truyện là Tào Tháo, Tôn Quyền, Lưu Bị, có thể dễ dàng nhận ra cả ba cùng có một tham vọng đế vương nhưng con đường đạt mục đích của mỗi nhân vật lại khác nhau. Lối hành xử của Tào Tháo và và Lưu Bị là hai thái cực đối lập như chính Lưu Bị từng nói: “tháo dĩ cấp, ngô dĩ khoan, tháo dĩ bạo, ngô dĩ nhân”. Một kẻ hành động theo nguyên tắc “thà ta phụ người chứ nhất định không để người phụ ta” còn một người thì khẳng định “ta thà chết chứ không chịu làm điều phụ nghĩa”. Trong tương quan ấy, người đọc có cảm tưởng cuộc đối đầu chính chỉ diễn ra trong quan hệ giữa Ngụy và Thục nhưng thực ra vai trò của Ngô cũng rất quan trọng. Tôn Quyền khi nghiêng về Thục, khi ngả về Ngụy. Cách hành xử ấy vừa thúc đẩy mâu thuẫn giữa Thục và Ngụy lại vừa giữ cân bằng cho thế chân vạc.
Ở cấp độ nhỏ hơn, La Quán Trung đã khéo léo tổ chức nhân vật thành các bộ ba tạo nên lí do tồn tại và chế ước lẫn nhau theo nguyên tắc trung dung. Trung dung, hiểu theo nghĩa sơ giản nhất là không thái quá vì “thái quá bất cập”. Trong bộ ba tam kết nghĩa Lưu - Quan - Trương, Lưu Bị và Trương Phi là hai tính cách đối lập: một nhu, một cương. Lưu Bị ôn hòa, Trương Phi bộc trực, Lưu Bị biết nín nhịn chờ thời còn Trương Phi nóng nảy, quyết liệt,… Cả hai tính cách này nếu tách khỏi nhau thì khó tồn tại vì “quá cương tất phá, quá nhu tất nhược”. Vì vậy Quan Vũ đóng vai trò dung hòa giữa hai thái cực của Lưu và Trương. Quan Vũ vừa có nét bình đạm của Lưu Bị lại vừa có sự khảng khái, trắng đen rạch ròi của Trương Phi. Ở mỗi sự kiện lớn có ý nghĩa bước ngoặt trong cục diện của thế chân vạc, La Quán Trung đều có dụng ý xây dựng những bộ ba nhân vật có vai trò chi phối toàn bộ sự kiện mà khi bộ ba này tan vỡ cũng là lúc sự kiện ấy chuẩn bị kết thúc. Trận Xích Bích là trận đánh quyết định cục diện Tam phân. Trận đánh này tuy lấy Xích Bích làm trọng tâm nhưng thực sự nó xảy ra trên một không gian vô cùng rộng lớn. Nó như một vòng xoáy mà rất nhiều nhân vật bị cuốn vào. Song nếu xét kĩ những diễn biến chính của cốt truyện, ta thấy nổi bật vẫn là mối quan hệ xoay quanh bộ ba Gia Cát Lượng – Lỗ Túc – Chu Du. Đây mới là mối quan hệ quyết định kết quả của trận đánh vì phần lớn những kế sách của đại cục là từ đây mà ra. Trong bộ ba này, Chu Du và Gia Cát Lượng là hai đối cực tương phản. Chu Du luôn nôn nóng tìm cách hại Khổng Minh còn Khổng Minh thì bình thản chiến thắng trong mọi cuộc đấu trí. Trong bộ ba này, nhân vật Lỗ Túc ngỡ như rất mờ nhạt nhưng chính Lỗ Túc lại giữ vai trò quan trọng trong việc “điều phối”, cần bằng mâu thuẫn giữa Chu Du và Khổng Minh. Cứ mỗi lần Chu Du tìm cách hại Khổng Minh là Lỗ Túc lại vô tình hoặc hữu ý giúp Khổng Minh thoát hiểm, mỗi lần quan hệ giữa Chu Du và Khổng Minh có nguy cơ tan vỡ thì Lỗ Túc lại tìm ra cách dàn hòa và cứ như vậy quan hệ liên minh giữa Chu Du và Khổng Minh được duy trì đến sau sự kiện “Gia Cát cầu phong” chuẩn bị kết thúc trận Xích Bích. Tương tự như vậy có thể tìm ra ngọn nguồn của những diễn biến đợt bình Tây cuối cùng của họ Tư Mã thông qua mối quan hệ giữa Chung Hội, Đặng Ngải và Khương Duy. Chung Hội và Đặng Ngải vốn không ưa nhau nhưng buộc phải “bằng mặt” với nhau vì phía trước có Khương Duy. Đường tiến quân vào Thục của Chung Hội bằng phẳng, thuận lợi về địa hình, có thể tiến nhanh hơn nhưng lại phải đối đầu trực tiếp với Khương Duy. Đường tiến quân của Đặng Ngải không gặp sự đề phòng của đối phương nhưng lại gặp địa thế hiểm trở hơn. Vì thế chính Khương Duy duy trì thế ngang phân của Chung, Đặng và sau này cũng chính Khương Duy điều khiển được quan hệ giữa Chung , Đặng với ý đồ chuyển bại thành thắng. Nhưng số ba vốn là con số hoàn chỉnh, chỉ cần mất một trong bộ ba là cục diện biến đổi. Khi Chung Hội mắc mưu Khương Duy giết Đặng Ngải cũng là lúc thế cân bằng bị phá vỡ, cả ba đều chịu kết cục thê thảm và đó cũng là lúc công cuộc bình Tây Thục của họ Tư Mã kết thúc,…
Trong Tam quốc, số 3 là con số bí ẩn liên quan đến tư tưởng Mệnh trời. Mệnh trời chi phối tất cả, từ sự việc nhỏ cho đến số phận mỗi con người, mỗi triều đại.
Rất nhiều sự kiện phải lặp lại đến lần thứ ba mới được xác định là thành hay bại, thịnh hay suy. Đông Ngô lập quốc phải trải từ Tôn Kiên đến Tôn Sách rồi đến Tôn Quyền, tức là đến người đứng đầu thứ ba mới đạt được sự hưng vượng. Ngược lại, ở phía Ngụy, trải từ Tào Tháo, Tào Phi, đến Tào Tuấn – tức là đến đời thứ ba thì nhà Ngụy cũng bắt đầu khủng hoảng. Lưu Bị phải đến thảo lư lần thứ ba mới gặp được Ngọa Long, Lưu Kỳ phải cầu kiến lần thứ ba mới xin được diệu kế thoát thân khỏi Sái thị. Triệu Vân phải dùng đến mật kế trong cẩm nang thứ ba của Khổng Minh mới hoàn thành sứ mệnh bảo hộ Lưu Bị và Tôn phu nhân xuất Ngô an toàn. Trong tam quốc, không hiếm những nhân vật băn khoăn tìm chân chúa mà phải đến lần thứ ba mới gặp. Triệu Vân là một trong những hiện tượng điển hình. Lúc đầu Vân định theo Viên Thiệu nhưng thấy Thiệu lòng dạ hẹp hòi liền bỏ sang theo Công Tôn Toản nhưng rồi lại thất vọng. Chỉ đến khi gặp lại Lưu Bị - người thứ ba, Vân mới vững tâm lập chí. Tam quốc vì thế không hiếm những trang cảm động về tư tưởng “kẻ sĩ sẵn sàng chết vì tri kỉ”. Quan hệ giữa những con người này về danh phận là vua tôi nhưng về tình nghĩa lại là tri kỷ. Tư tưởng này thậm chí còn giúp La Quán Trung xây dựng thành một huyền thoại về quan hệ giữa ngựa xích thố và Quan Vũ. Thiên lí mã phải gặp Quan Vũ, tức là người chủ thứ ba (lúc đầu là của Đổng Trác, kế đến là Lã Bố) dường như mới thấy tri kỉ. Thế nên khi Quan Công chết, thần vật cũng tử tiết theo chứ quyết không chịu đi theo người khác. Cũng liên quan đến con số định mệnh này, sự kiện nào trong Tam quốc đến “quá tang ba bận” mà không thành công tức là số phận đã an bài. Nói như thành ngữ Trung Quốc “sự bất quá tam”. Chu Du ba lần mưu hại Gia Cát Lượng thất bại cũng đồng nghĩa với việc không thể mưu hại được. Gia Cát Lượng dẫu đến lần thứ sáu và Khương Duy đến lần thứ chín vẫn thất bại trong công cuộc Bắc tiến vì thất bại ở lần thứ ba,…
Số 3 trong Tam quốc cũng con số có vai trò đặc biệt trong việc khắc họa nhân vật. Nhiều tình huống dừng ở số ba để hé mở dần bản chất nhân vật theo lối đặt bút “song quản tề hạ”. Sự kiện “ba lần đến lều tranh” vừa gián tiếp khẳng định Khổng Minh giống như viên ngọc quý lại vừa chứng tỏ sự nhẫn nại, khao khát cầu hiền của Lưu Bị. Sự kiện “ba lần khích Chu Du” của Gia Cát Lượng vừa bộc lộ sự hiếu thắng, nôn nóng của Chu Du lại vừa cho thấy sự khoan hòa của Khổng Minh, Sự kiện ba lần cười của Tào Tháo trên đường rút chạy khỏi Xích Bích vừa nói lên bản chất gian hùng của Tào lại vừa toát lên sự “thần cơ diệu toán” của Khổng Minh, ba điều giao ước của Quan Vũ ở Đông Thổ Sơn một mặt cho thấy Quan Vũ tín nghĩa phân minh, quyền biến linh hoạt mặt khác lại diễn tả được sự cơ trí, trọng người tài của Tào Tháo,…
Như trên đã nói, số 3 là biểu tượng của trật tự trí tuệ và tâm linh. Đây là tư tưởng được La Quán Trung hun đúc vào hình tượng Gia Cát Lượng. là hiện thân của chữ “trí”, hình tượng này là điểm hội tụ, châu tuần nhiều nhất những biến thể của biểu tượng số 3. Gia Cát Lượng là hình mẫu lí tưởng của một tướng tài thời phong kiến: quán thông tam tài “thượng thông thiên văn, hạ tường địa lí, trung tri nhân sự”. Vì được hội hợp cả tam tài nên trong những cuộc đấu trí quyết liệt, căng thẳng, Gia Cát Lượng thường rất chủ động linh hoạt, nắm phần thắng. Để tạo nên thế đối sánh, khẳng định tài năng kiệt xuất của Khổng Minh, tác giả đã dày công khắc họa các bộ ba nhân vật theo hai tuyến: trong dòng tộc và nơi triều chính. Ở tuyến dòng tộc, với bộ ba Gia Cát Cẩn, Gia Cát Lượng và Gia Cát Quân, Khổng Minh vẫn là nhân vật kiệt xuất nhất, anh không thể hơn, em không thể bằng. Với thế hệ sau, gia đình Khổng Minh xuất hiện hai nhân tài như Gia Cát Chiêm (con) và Gia Cát Thượng (cháu) nhưng xem ra vẫn kém tài Khổng Minh. Ở tuyến triều chính, Khổng Minh được đặt trong thế đối sánh với bộ ba Từ Thứ, Bàng Thống và Khương Duy. Trước khi Gia Cát Lượng xuống núi, Lưu Bị đã có Từ Thứ giúp sức, khi xuống núi, cùng phò tá Lưu Bị với Khổng Minh có Bàng Thống và sau này, người nối chí Khổng Minh là Khương Duy. Cả ba nhân vật này đều là những nhân kiệt có tài “ngang trời dọc đất” nhưng xem ra vẫn không vượt nổi Khổng Minh. Từ Thứ có tài quyết kế thắng thua trên chiến trường nhưng không có khả năng nhìn trước cục diện chia ba và khả năng vạch đường hướng chiến lược như Khổng Minh. Ngay cả Bàng Thống vẫn được người đời đồn rằng “Phục Long, Phường Sồ, được một trong hai người đó đủ bình định thiên hạ” nhưng điềm báo sao rơi ở Kinh Châu và sự kiện gò Lạc Phượng vẫn chứng tỏ Bàng Thống còn kém Khổng Minh rất nhiều. Khương Duy được Khổng Minh chọn để kế tục sự nghiệp bình Bắc nhưng Khương Duy mới chỉ đảm đương được về mặt võ công chứ không gánh vác nổi văn trị. Như vậy, bộ ba nhân vật này đã gián tiếp khẳng định Gia Cát Lượng là nhân kiệt “vô tiền khoáng hậu”, trước sau đều không ai vượt qua.
Còn rất nhiều ý nghĩa ẩn tàng trong biểu tượng số 3 và biểu tượng này không chỉ tạo nên kết cấu mà còn thâm nhập, hóa thân vào rất nhiều tiểu tiết của tác phẩm. Tam quốc có hàng trăm nhân vật nhưng không nhân vật nào lẫn vào nhân vật nào. Tam quốc có hàng trăm sự kiện nhưng tất cả đều được tổ chức mạch lạc. Một trong những lí do để có được thành công này là do tác giả đã vận dụng rất linh hoạt ý nghĩa văn hóa, triết học của con số 3. Từ góc độ của những con số thần bí, có thể nói rằng: những tư tưởng chủ đạo trong Tam quốc được khởi phát và dung chứa trong số 3, hệ thống nhân vật của Tam quốc được kết nối với nhau qua những bộ ba và hệ thống sự kiện trong Tam quốc được chứng minh, được xác lập kết quả ở lần thứ ba.
TƯ LIỆU THAM KHẢO
1. Francois Julian, Minh triết phương Đông và triết học phương Tây, NXB Đà Nẵng 2004.
2. Trần Lê Bảo, “Tây du kí” và Kinh dịch, Tạp chí văn hóa dân gian, số 1.1995.
3. Trần Lê Bảo, Giải mã tác phẩm văn học từ mã văn hóa (dẫn chứng từ nền văn học Trung Quốc, Tạp chí nghiên cứu Trung Quốc), số 2. 2009.
4. Phương Lựu, Tuyển tập lí luận văn học cổ điển phương Đông, tập1, NXBGD 2005.
5. Nhiều tác giả, Amanach, những nền văn minh thế giới, NXB Văn hóa - Thông tin Hà Nội 1999.
6.
(Source:
Khoa Ngữ văn - Đào tạo Cao học
)
|
|
|
|
|
Hội thảo Cao học
|
|
|
|
|
|
MÔ TÍP CON SỐ 3 TRONG TIỂU THUYẾT TAM QUỐC DIỄN NGHĨA CỦA LA QUÁN TRUNG
|
|
Nguyễn Thư
CHK18 - Văn học nước ngoài
Thực ra các con số không chỉ đơn giản là những ký hiệu của toán học. Chúng còn là những biểu tượng văn hóa tích chứa những quan niệm nguyên sơ của con người về nhân sinh, vũ trụ. Ở một khía cạnh nào đó, có thể nói hệ thống nhân vật, sự kiện trong tiểu thuyết Tam quốc diễn nghĩa (gọi tắt là Tam quốc) của La Quán Trung được tóm lược vào các con số. Chẳng hạn, Ngũ hổ tướng, lục xuất Kỳ Sơn, thất cầm thất túng,… Trong đó, số 3 có vị trí quan trọng nhất với việc tổ chức cốt truyện, xây dựng nhân vật và truyền tải tư tưởng, đạo lí. Tam quốc dày đặc những sự kiện liên quan đến con số bí ẩn này: tam phân, tam kết nghĩa, tam cố thảo lư, tam khí khích Chu Du, tam mã đồng tàu, tam tuyệt, tam tài,… Điểm sơ qua như vậy cũng đủ chứng tỏ rằng, đây là một hiện tượng lí thú. Đã có một số nhà nghiên cứu - kể cả văn hóa và văn học như Uông Trung, Bành Trọng Phóng,… có nhắc đến những bí ẩn của những con số trong tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc nhưng phần lớn những công trình của họ mới chỉ đề cập đến khía cạnh tư tưởng chứ chưa thấy được sự thâm nhập của số 3 vào nghệ thuật tổ chức tác phẩm. Vì thế đây vẫn là một vấn đề cần quan tâm, lí giải.
Số 3 là một trong những biểu tượng mang nhiều ý nghĩa thú vị với rất nhiều nền văn hóa. Song do giới hạn đề tài, ở đây chúng tôi chỉ bàn tới sự khởi nguồn từ văn hóa Trung Hoa tới tác phẩm. Với người Trung Hoa, đây là con số tâm linh có ý nghĩa quan trọng. Rất nhiều khái quát văn hóa được đúc kết trong số 3. Chẳng hạn, vũ trụ có “tam giới”, phẩm chất có “tam tài”, lí số có “tam hợp”, đạo lí có “tam cương”, vũ trụ luận có “tam vị nhất thể”,…. Sự khái quát, đúc kết ấy có nguyên do từ những quan niệm về vũ trụ, nhân sinh. Theo Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, số 3 là biểu tượng của trật tự trí tuệ và tâm linh, là biểu hiện của sự hoàn chỉnh, sáng tạo. Trong Chu dịch, số 3 là tượng trưng của trời, là số thiếu dương, đang ở thế vận động, biến đổi. Đồng thời, số 3 cũng trưng cho sự vững vàng. Để cụ thể hóa ý nghĩa chỉ sự vững vàng, người Trung Quốc thường gọi là “thế chân vạc” còn người Việt hay gọi là “chân kiềng”. Người Trung Quốc coi số 3 là quan trọng không hẳn chỉ do dựa vào những quan sát tự nhiên mà do nét đặc thù về tôn giáo, tư tưởng. Cùng ngự trị, chi phối đời sống tinh thần của họ là tam giáo. Trong tam giáo, cả Nho, Phật và Đạo hầu như không loại trừ mà bổ sung cho nhau, kết dệt nên một đời sống tinh thần bền vững. Điều đó càng khiến họ có cơ sở để đặt nhiều ý nghĩa vào biểu tượng số 3.
Vì là biểu tượng chỉ trật tự thế giới nên chỉ cần một yếu tố biến đổi lập tức dẫn đến sự biến đổi các yếu tố khác. Ba yếu tố thiên - địa – nhân thể hiện trật tự của vũ trụ. Chỉ cần quan sát những biến động của thiên, địa sẽ biết hiện trạng của nhân, nghĩa là hiểu được xã hội trị hay loạn. Khi Đỗ Phủ viết: “Giang gian ba lãng kiêm thiên dũng / Tái thượng phong vân tiếp địa âm” (Giữa lòng sông sóng vọt tung lên thẳng bầu trời, trên cửa ải mây sa sầm che mờ mặt đất – Thu hứng 1) tức là viết về đời sống con người. Có hai vận động ngược hướng trong cặp câu thơ này. “Sóng” từ mặt sông muốn vọt lên trời, “mây” từ trên trời lại đổ ùn xuống mặt đất. Miêu tả sự hỗn loạn của thiên địa, người đọc có thể suy ra yếu tố thứ ba là con người (nhân) đang trong tình trạng xã hội loạn li.
Vì là biểu tượng của sự hoàn chỉnh, trọn vẹn nên theo nguyên lí “tròn quá ắt sẽ khuyết”, số 3 vừa là hợp vừa báo hiệu tan, vừa là sự vững vàng lại vừa dự báo sự suy yếu. Tục ngữ có câu “Ba người thợ da hợp sức có thể thành một Gia Cát Lượng” nhưng ngược lại, người ta cũng luôn lưu ý “Tam nhân bất đồng hành” (ba người không thể đi chung đường). Mối quan hệ tan - hợp trong số 3 cũng như hai mặt của âm - dương luôn vận động, biến dịch từ cực nọ sang cực kia cũng giống như “tam hợp biến tam tai”.
Trong Tam quốc, số 3 là nhân tố vừa góp phần tạo nên một kết cấu tác phẩm chặt chẽ lại vừa giúp tác giả thể hiện sinh động hóa, cụ thể hóa những tư tưởng triết học, quân sự thời phong kiến. Tam quốc là một trong số không nhiều những tác phẩm mà tư tưởng triết học hóa thân thành hình tượng nghệ thuật ít để lại dấu vết. Cũng như phần lớn tiểu thuyết chương hồi, tư tưởng chủ đạo của Tam quốc nằm ở ngay những dòng mở đầu: “thế lớn trong thiên hạ cứ tan lâu rồi lại hợp, hợp lâu rồi lại tan”. Tiếp đó, tác giả dẫn ra ba điềm báo tai ương để nói chính sự nhà Hán đổ nát rồi sự xuất hiện của ba thủ lĩnh Hoàng Cân tự xưng là Thiên công, Địa công, Nhân công. Trong quan niệm triết học và tư tưởng quân sự cổ Trung Quốc, ai càng gồm thâu được ba yếu tố Thiên thời, Địa lợi, Nhân hòa, khả năng đạt được mục đích của người đó càng lớn. Anh em họ Trương (Trương Bảo, Trương Lương, Trương Giác) lấy thiên, địa, nhân làm tên hiệu là muốn dùng chiêu bài thuận lòng trời, ý người để thay đổi triều đại, muốn bố cáo cho toàn thiên hạ biết họ đã nắm cả tam tài, tức là có chân mệnh đế vương. Trong mạch vận động cốt truyện, sự xuất hiện của ba thủ lĩnh Hoàng Cân nhằm báo hiệu thiên hạ chia ba còn trong mạch tư tưởng, sự kiện này đánh một dấu mốc mà rồi đây sẽ chi phối xuyên suốt tác phẩm khi viết về những diễn biến chính trị, quân sự thời Tam quốc - Tư tưởng Thiên - Địa - Nhân. Trong bất kỳ cuộc đấu trí nào của Tam quốc, phần thắng luôn thuộc về người nắm được nhiều nhất ba yếu tố này. Ở thế tam phân, mỗi lực lượng đều có đủ cả Thiên, Địa, Nhân nhưng sự phân phát ba yếu tố ấy cho mỗi phía không giống nhau. Tào Tháo chớp được Thiên thời, Tôn Quyền mạnh vì Địa lợi còn Lưu Bị dựng nghiệp bằng Nhân hòa. Vì mỗi lực lượng chỉ nắm được trọn vẹn một yếu tố trong tam tài nên chỉ hùng cứ được một phương. Khi cục diện “thế chân vạc” đã tương đổi ổn định, nghĩa là mỗi nước đều đang trong giai đoạn vững mạnh thì cũng là lúc giấc mơ “tam mã đồng tàu” (ba con ngựa cùng ở một tàu) của Tào Tháo lại dự báo thiên hạ hợp nhất. Giấc mộng của Tào Tháo ứng vào việc ba cha con họ Tư Mã sẽ là cướp ngôi nhà Tào (“Tam mã” là Tư Mã Ý, Tư Mã Sư và Tư Mã Chiêu) và thống nhất thiên hạ. Tuy nhiên, việc đưa giấc mơ “tam mã đồng tàu” vào giữa tác phẩm có nguy cơ phạm vào một trong những điều tối kị của tiểu thuyết chương hồi. Vốn lấy sự bất ngờ làm nguyên tắc tổ chức diễn biến cốt truyện, vì thế thể loại này rất kị việc để lộ mạch truyện. Tác giả Tam quốc đã giải quyết bằng cách dựng lên sự kiện Mã Đằng, Mã Siêu và Mã Đại dẫn quân Tây Lương với danh nghĩa Cần vương chống lại Tào Tháo. Sự việc đó khiến Tào Tháo nghi ngờ “Tam mã” trong giấc mộng chính ba thủ lĩnh Tây Lương. Việc đánh bại lực lượng này đã giải tỏa được những băn khoăn vì điềm mộng của Tào khiến Tư Mã Ý ở cạnh Tào Tháo mà vẫn bình an. Chính điều đó tạo nên tính bất ngờ, thú vị của cốt truyện. Chỉ đến khi quyền bính nước Ngụy rơi vào tay cha con Tư Mã Ý thì giấc mộng “Tam mã” mới thực sự ứng nghiệm. Lược đi những quan niệm thần bí về mệnh trời, sự “dẫn dắt” cốt truyện để đi đến sự hợp nhất của tam phân rất hợp lí trên cơ sở tư tưởng Thiên – Địa – Nhân. Họ Tư Mã thống nhất được thiên hạ vì nếu xét về Thiên thời thì đó là lúc họ Tào mất khả năng làm chủ ngai vàng, quyền bính nước Ngụy đã dần rơi vào tay cha con Tư Mã Ý; đó cũng là lúc chính sự của Ngô và Thục cực kỳ thảm bại. Lưu Thiền ham hưởng lạc, ngu muội còn Tôn Hạo tàn ác, làm mất lòng người. Xét về Địa lợi thì nước Ngụy trong tay họ Tư Mã ngày một cường thịnh,… còn Ngô và Thục càng ngày càng suy yếu,… Xét về Nhân hòa, trong khi họ Tư Mã xuất hiện nhiều nhân tài có những phẩm chất của một hoàng đế thì Lưu Thiền ở Thục là hôn quân và Tôn Hạo ở Ngô là bạo chúa. Trong khi họ Tư Mã ngày càng thu được nhiều nhân tài như Chung Hội, Đặng Ngải, Dương Hựu,… thì tâm phúc của Lưu Thiền và Tôn Hạo ngày càng thiếu vắng hiền tài,… Và như thế, nếu giấc mơ “Tam mã” dự báo thiên hạ thống nhất thì bộ ba nhân vật Tào Hoán – Lưu Thiền – Tôn Hạo đã đặt dấu chấm hết cho cục diện “thế chân vạc”. Như vậy, số 3 trong Tam quốc chính là biểu tượng chỉ sự biến đổi không ngừng. Hiểu như vậy thì sự phân chia rồi hợp nhất trong tác phẩm chỉ là một khúc đoạn luôn biến động của lịch sử. Sự phân chia, hợp nhất của đất nước được lí giải từ sự phân – hợp của tam tài.
Mặt khác, số 3 trong Tam quốc cũng là biểu tượng chỉ sự bình ổn, cân bằng tương đối vì các nhân tố trong đó vừa nương dựa vừa kiềm thúc, chế ước lẫn nhau.
Ở cấp độ tổng thể, mỗi lực lượng trong “tam phân” chỉ chiếm giữ được một yếu tố của tam tài nên cả ba luôn trong thế giằng co và mỗi khi hai lực lượng liên kết lại thì lực lượng còn lại sẽ gặp tổn thất. Lưu, Tôn liên kết khiến Tào Tháo thất bại ở Xích Bích. Tôn, Tào liên minh khiến Lưu Bị mất Kinh Châu và Quan Vũ thảm bại,… Cả ba lực lượng đều có tham vọng thống nhất thiên hạ nên một mặt vừa muốn thôn tính lại vừa muốn liên minh với lực lượng thứ hai để chống lực lượng còn lại. Trong trận Xích Bích, bề ngoài Ngô và Thục liên minh với nhau nhưng bên trong vẫn nảy sinh sự mâu thuẫn và đề phòng lẫn nhau. Chu Du vừa muốn mượn trí tuệ Khổng Minh phá Tào lại vừa ngấm ngầm âm mưu “dụ không được thì trừ”. Đó là lí do để Ngụy không thể bị diệt và cũng là lí do để thế chân vạc cân bằng. Ngụy không thể bị diệt vì liên minh Ngô Thục không phải được xây dựng trên sự tin tưởng nhau hoàn toàn. Cân bằng vì trong mỗi cuộc tranh hùng, lực lượng thắng thế cũng không dám truy đuổi kẻ bại trận đến cùng vì sợ lực lượng thứ ba thừa cơ “ngư ông đắc lợi”. Lục Tốn tuy thắng trận Hào Đình nhưng không dám truy đuổi Lưu Bị vì sợ Kiến Nghiệp bỏ trống sẽ bị Tào Phi thừa cơ đánh úp. Gia Cát Lượng vì dè chừng Đông Ngô nên mắc lừa Lý Nghiêm, Bắc tiến đang thắng thì phải rút quân để lo giữ yên mặt Đông. Nhiều lần quân Ngụy tiến xuống Đông Ngô dở dang rồi lại phải lui về vì sợ Tây Thục thừa cơ đánh chiếm Lạc Dương,…. Trong ba nhân vật tạo nên diễn biến chính của cốt truyện là Tào Tháo, Tôn Quyền, Lưu Bị, có thể dễ dàng nhận ra cả ba cùng có một tham vọng đế vương nhưng con đường đạt mục đích của mỗi nhân vật lại khác nhau. Lối hành xử của Tào Tháo và và Lưu Bị là hai thái cực đối lập như chính Lưu Bị từng nói: “tháo dĩ cấp, ngô dĩ khoan, tháo dĩ bạo, ngô dĩ nhân”. Một kẻ hành động theo nguyên tắc “thà ta phụ người chứ nhất định không để người phụ ta” còn một người thì khẳng định “ta thà chết chứ không chịu làm điều phụ nghĩa”. Trong tương quan ấy, người đọc có cảm tưởng cuộc đối đầu chính chỉ diễn ra trong quan hệ giữa Ngụy và Thục nhưng thực ra vai trò của Ngô cũng rất quan trọng. Tôn Quyền khi nghiêng về Thục, khi ngả về Ngụy. Cách hành xử ấy vừa thúc đẩy mâu thuẫn giữa Thục và Ngụy lại vừa giữ cân bằng cho thế chân vạc.
Ở cấp độ nhỏ hơn, La Quán Trung đã khéo léo tổ chức nhân vật thành các bộ ba tạo nên lí do tồn tại và chế ước lẫn nhau theo nguyên tắc trung dung. Trung dung, hiểu theo nghĩa sơ giản nhất là không thái quá vì “thái quá bất cập”. Trong bộ ba tam kết nghĩa Lưu - Quan - Trương, Lưu Bị và Trương Phi là hai tính cách đối lập: một nhu, một cương. Lưu Bị ôn hòa, Trương Phi bộc trực, Lưu Bị biết nín nhịn chờ thời còn Trương Phi nóng nảy, quyết liệt,… Cả hai tính cách này nếu tách khỏi nhau thì khó tồn tại vì “quá cương tất phá, quá nhu tất nhược”. Vì vậy Quan Vũ đóng vai trò dung hòa giữa hai thái cực của Lưu và Trương. Quan Vũ vừa có nét bình đạm của Lưu Bị lại vừa có sự khảng khái, trắng đen rạch ròi của Trương Phi. Ở mỗi sự kiện lớn có ý nghĩa bước ngoặt trong cục diện của thế chân vạc, La Quán Trung đều có dụng ý xây dựng những bộ ba nhân vật có vai trò chi phối toàn bộ sự kiện mà khi bộ ba này tan vỡ cũng là lúc sự kiện ấy chuẩn bị kết thúc. Trận Xích Bích là trận đánh quyết định cục diện Tam phân. Trận đánh này tuy lấy Xích Bích làm trọng tâm nhưng thực sự nó xảy ra trên một không gian vô cùng rộng lớn. Nó như một vòng xoáy mà rất nhiều nhân vật bị cuốn vào. Song nếu xét kĩ những diễn biến chính của cốt truyện, ta thấy nổi bật vẫn là mối quan hệ xoay quanh bộ ba Gia Cát Lượng – Lỗ Túc – Chu Du. Đây mới là mối quan hệ quyết định kết quả của trận đánh vì phần lớn những kế sách của đại cục là từ đây mà ra. Trong bộ ba này, Chu Du và Gia Cát Lượng là hai đối cực tương phản. Chu Du luôn nôn nóng tìm cách hại Khổng Minh còn Khổng Minh thì bình thản chiến thắng trong mọi cuộc đấu trí. Trong bộ ba này, nhân vật Lỗ Túc ngỡ như rất mờ nhạt nhưng chính Lỗ Túc lại giữ vai trò quan trọng trong việc “điều phối”, cần bằng mâu thuẫn giữa Chu Du và Khổng Minh. Cứ mỗi lần Chu Du tìm cách hại Khổng Minh là Lỗ Túc lại vô tình hoặc hữu ý giúp Khổng Minh thoát hiểm, mỗi lần quan hệ giữa Chu Du và Khổng Minh có nguy cơ tan vỡ thì Lỗ Túc lại tìm ra cách dàn hòa và cứ như vậy quan hệ liên minh giữa Chu Du và Khổng Minh được duy trì đến sau sự kiện “Gia Cát cầu phong” chuẩn bị kết thúc trận Xích Bích. Tương tự như vậy có thể tìm ra ngọn nguồn của những diễn biến đợt bình Tây cuối cùng của họ Tư Mã thông qua mối quan hệ giữa Chung Hội, Đặng Ngải và Khương Duy. Chung Hội và Đặng Ngải vốn không ưa nhau nhưng buộc phải “bằng mặt” với nhau vì phía trước có Khương Duy. Đường tiến quân vào Thục của Chung Hội bằng phẳng, thuận lợi về địa hình, có thể tiến nhanh hơn nhưng lại phải đối đầu trực tiếp với Khương Duy. Đường tiến quân của Đặng Ngải không gặp sự đề phòng của đối phương nhưng lại gặp địa thế hiểm trở hơn. Vì thế chính Khương Duy duy trì thế ngang phân của Chung, Đặng và sau này cũng chính Khương Duy điều khiển được quan hệ giữa Chung , Đặng với ý đồ chuyển bại thành thắng. Nhưng số ba vốn là con số hoàn chỉnh, chỉ cần mất một trong bộ ba là cục diện biến đổi. Khi Chung Hội mắc mưu Khương Duy giết Đặng Ngải cũng là lúc thế cân bằng bị phá vỡ, cả ba đều chịu kết cục thê thảm và đó cũng là lúc công cuộc bình Tây Thục của họ Tư Mã kết thúc,…
Trong Tam quốc, số 3 là con số bí ẩn liên quan đến tư tưởng Mệnh trời. Mệnh trời chi phối tất cả, từ sự việc nhỏ cho đến số phận mỗi con người, mỗi triều đại.
Rất nhiều sự kiện phải lặp lại đến lần thứ ba mới được xác định là thành hay bại, thịnh hay suy. Đông Ngô lập quốc phải trải từ Tôn Kiên đến Tôn Sách rồi đến Tôn Quyền, tức là đến người đứng đầu thứ ba mới đạt được sự hưng vượng. Ngược lại, ở phía Ngụy, trải từ Tào Tháo, Tào Phi, đến Tào Tuấn – tức là đến đời thứ ba thì nhà Ngụy cũng bắt đầu khủng hoảng. Lưu Bị phải đến thảo lư lần thứ ba mới gặp được Ngọa Long, Lưu Kỳ phải cầu kiến lần thứ ba mới xin được diệu kế thoát thân khỏi Sái thị. Triệu Vân phải dùng đến mật kế trong cẩm nang thứ ba của Khổng Minh mới hoàn thành sứ mệnh bảo hộ Lưu Bị và Tôn phu nhân xuất Ngô an toàn. Trong tam quốc, không hiếm những nhân vật băn khoăn tìm chân chúa mà phải đến lần thứ ba mới gặp. Triệu Vân là một trong những hiện tượng điển hình. Lúc đầu Vân định theo Viên Thiệu nhưng thấy Thiệu lòng dạ hẹp hòi liền bỏ sang theo Công Tôn Toản nhưng rồi lại thất vọng. Chỉ đến khi gặp lại Lưu Bị - người thứ ba, Vân mới vững tâm lập chí. Tam quốc vì thế không hiếm những trang cảm động về tư tưởng “kẻ sĩ sẵn sàng chết vì tri kỉ”. Quan hệ giữa những con người này về danh phận là vua tôi nhưng về tình nghĩa lại là tri kỷ. Tư tưởng này thậm chí còn giúp La Quán Trung xây dựng thành một huyền thoại về quan hệ giữa ngựa xích thố và Quan Vũ. Thiên lí mã phải gặp Quan Vũ, tức là người chủ thứ ba (lúc đầu là của Đổng Trác, kế đến là Lã Bố) dường như mới thấy tri kỉ. Thế nên khi Quan Công chết, thần vật cũng tử tiết theo chứ quyết không chịu đi theo người khác. Cũng liên quan đến con số định mệnh này, sự kiện nào trong Tam quốc đến “quá tang ba bận” mà không thành công tức là số phận đã an bài. Nói như thành ngữ Trung Quốc “sự bất quá tam”. Chu Du ba lần mưu hại Gia Cát Lượng thất bại cũng đồng nghĩa với việc không thể mưu hại được. Gia Cát Lượng dẫu đến lần thứ sáu và Khương Duy đến lần thứ chín vẫn thất bại trong công cuộc Bắc tiến vì thất bại ở lần thứ ba,…
Số 3 trong Tam quốc cũng con số có vai trò đặc biệt trong việc khắc họa nhân vật. Nhiều tình huống dừng ở số ba để hé mở dần bản chất nhân vật theo lối đặt bút “song quản tề hạ”. Sự kiện “ba lần đến lều tranh” vừa gián tiếp khẳng định Khổng Minh giống như viên ngọc quý lại vừa chứng tỏ sự nhẫn nại, khao khát cầu hiền của Lưu Bị. Sự kiện “ba lần khích Chu Du” của Gia Cát Lượng vừa bộc lộ sự hiếu thắng, nôn nóng của Chu Du lại vừa cho thấy sự khoan hòa của Khổng Minh, Sự kiện ba lần cười của Tào Tháo trên đường rút chạy khỏi Xích Bích vừa nói lên bản chất gian hùng của Tào lại vừa toát lên sự “thần cơ diệu toán” của Khổng Minh, ba điều giao ước của Quan Vũ ở Đông Thổ Sơn một mặt cho thấy Quan Vũ tín nghĩa phân minh, quyền biến linh hoạt mặt khác lại diễn tả được sự cơ trí, trọng người tài của Tào Tháo,…
Như trên đã nói, số 3 là biểu tượng của trật tự trí tuệ và tâm linh. Đây là tư tưởng được La Quán Trung hun đúc vào hình tượng Gia Cát Lượng. là hiện thân của chữ “trí”, hình tượng này là điểm hội tụ, châu tuần nhiều nhất những biến thể của biểu tượng số 3. Gia Cát Lượng là hình mẫu lí tưởng của một tướng tài thời phong kiến: quán thông tam tài “thượng thông thiên văn, hạ tường địa lí, trung tri nhân sự”. Vì được hội hợp cả tam tài nên trong những cuộc đấu trí quyết liệt, căng thẳng, Gia Cát Lượng thường rất chủ động linh hoạt, nắm phần thắng. Để tạo nên thế đối sánh, khẳng định tài năng kiệt xuất của Khổng Minh, tác giả đã dày công khắc họa các bộ ba nhân vật theo hai tuyến: trong dòng tộc và nơi triều chính. Ở tuyến dòng tộc, với bộ ba Gia Cát Cẩn, Gia Cát Lượng và Gia Cát Quân, Khổng Minh vẫn là nhân vật kiệt xuất nhất, anh không thể hơn, em không thể bằng. Với thế hệ sau, gia đình Khổng Minh xuất hiện hai nhân tài như Gia Cát Chiêm (con) và Gia Cát Thượng (cháu) nhưng xem ra vẫn kém tài Khổng Minh. Ở tuyến triều chính, Khổng Minh được đặt trong thế đối sánh với bộ ba Từ Thứ, Bàng Thống và Khương Duy. Trước khi Gia Cát Lượng xuống núi, Lưu Bị đã có Từ Thứ giúp sức, khi xuống núi, cùng phò tá Lưu Bị với Khổng Minh có Bàng Thống và sau này, người nối chí Khổng Minh là Khương Duy. Cả ba nhân vật này đều là những nhân kiệt có tài “ngang trời dọc đất” nhưng xem ra vẫn không vượt nổi Khổng Minh. Từ Thứ có tài quyết kế thắng thua trên chiến trường nhưng không có khả năng nhìn trước cục diện chia ba và khả năng vạch đường hướng chiến lược như Khổng Minh. Ngay cả Bàng Thống vẫn được người đời đồn rằng “Phục Long, Phường Sồ, được một trong hai người đó đủ bình định thiên hạ” nhưng điềm báo sao rơi ở Kinh Châu và sự kiện gò Lạc Phượng vẫn chứng tỏ Bàng Thống còn kém Khổng Minh rất nhiều. Khương Duy được Khổng Minh chọn để kế tục sự nghiệp bình Bắc nhưng Khương Duy mới chỉ đảm đương được về mặt võ công chứ không gánh vác nổi văn trị. Như vậy, bộ ba nhân vật này đã gián tiếp khẳng định Gia Cát Lượng là nhân kiệt “vô tiền khoáng hậu”, trước sau đều không ai vượt qua.
Còn rất nhiều ý nghĩa ẩn tàng trong biểu tượng số 3 và biểu tượng này không chỉ tạo nên kết cấu mà còn thâm nhập, hóa thân vào rất nhiều tiểu tiết của tác phẩm. Tam quốc có hàng trăm nhân vật nhưng không nhân vật nào lẫn vào nhân vật nào. Tam quốc có hàng trăm sự kiện nhưng tất cả đều được tổ chức mạch lạc. Một trong những lí do để có được thành công này là do tác giả đã vận dụng rất linh hoạt ý nghĩa văn hóa, triết học của con số 3. Từ góc độ của những con số thần bí, có thể nói rằng: những tư tưởng chủ đạo trong Tam quốc được khởi phát và dung chứa trong số 3, hệ thống nhân vật của Tam quốc được kết nối với nhau qua những bộ ba và hệ thống sự kiện trong Tam quốc được chứng minh, được xác lập kết quả ở lần thứ ba.
TƯ LIỆU THAM KHẢO
1. Francois Julian, Minh triết phương Đông và triết học phương Tây, NXB Đà Nẵng 2004.
2. Trần Lê Bảo, “Tây du kí” và Kinh dịch, Tạp chí văn hóa dân gian, số 1.1995.
3. Trần Lê Bảo, Giải mã tác phẩm văn học từ mã văn hóa (dẫn chứng từ nền văn học Trung Quốc, Tạp chí nghiên cứu Trung Quốc), số 2. 2009.
4. Phương Lựu, Tuyển tập lí luận văn học cổ điển phương Đông, tập1, NXBGD 2005.
5. Nhiều tác giả, Amanach, những nền văn minh thế giới, NXB Văn hóa - Thông tin Hà Nội 1999.
6.
(Source:
Khoa Ngữ văn - Đào tạo Cao học
)
|
|
|
|
|
Tin tức - Sự kiện
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Khoa Ngữ Văn - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Faculty of Philology, Hanoi National University of Education
Địa chỉ: Nhà B, 136 Xuân Thủy - Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 04.7549076/04.7547424
Email: nguvan@hnue.edu.vn
|
|