Chế Độ:  
       Trang chủ     Diễn đàn     Gửi bài     Tìm kiếm      
SỐ LƯỢT TRUY CẬP
Hội thảo Cao học In Ấn  
CHẤT DÂN GIAN TRONG THƠ TRẦN DẦN
Đinh Minh Hằng CHK18 - VHVN hiện đại


 

I. Trần Dần có thể được coi là nhà thơ tiên phong trong công cuộc làm mới thơ hiện đại, là nhà cách tân thơ số 1, là người dành cả cuộc đời mình để sáng tạo nghệ thuật với con chữ, làm một thứ tiếng Việt riêng. Từ những: Bài thơ Việt Bắc, Cổng tỉnh, Mùa sạch, sau này đến Thơ Mini, Jờ joạc, Thơ không lời..., người đọc đã thấy những cách làm thơ – làm tiếng Việt độc đáo, kì lạ. Vượt qua ranh giới định tính của quan niệm thơ phải dễ hiểu, phải tải nghĩa, phải dễ cảm, dễ đón nhận, thơ Trần Dần ngày càng đi vào địa phận của cái khác biệt, của bề sâu chữ nghĩa. Tất nhiên, đổi mới thơ không có nghĩa là làm lạ, làm khác. Người đọc vẫn cảm nhận được đằng sau những kết hợp từ kì lạ, trong những kết cấu mà thơ mượn của âm nhạc, của hội họa... là những rung cảm rất đời, rất người. Cái tôi của Trần Dần, dù biểu trưng cho những kiếp đời đóng chai, những người bay không có chân trời, thì vẫn là một trong những cái tôi nằm trong cái bản ngã chung của thời đại. Chỉ có điều, thời đại ấy lại không phải là thời đại mà thơ Trần Dần ra đời, ấy được gọi lại là những chân trời không có người bay.

Nhưng không phải vì thế mà cho rằng, những gì Trần Dần làm được, chỉ là nền móng cho thơ hiện đại Việt Nam sau này, và rằng, nó hoàn toàn đứt rời với quá khứ, với dòng mạch thơ dân tộc. Để nghiên cứu sự tiếp nối từ nguồn mạch thơ dân tộc đến Trần Dần, quả là điều không dễ dàng. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi chỉ đề cập đến một vấn đề nhỏ, đó là chất dân gian, điều có thể dễ thấy hơn, nhưng khó nhận diện và cắt nghĩa được hơn trong thơ Trần Dần, vốn được coi là thơ của một thời đại khác, mang một âm hưởng khác.

Dọc theo hành trình sáng tạo của thi nhân, chúng tôi nhận ra rằng: nguồn mạch dân gian chảy trong thơ Trần Dần tuy không phải có thể trở thành một dòng mạch lớn, nhưng nó cứ âm ỉ, trôi chảy trong thơ ông, như một minh chứng của cái đẹp quá khứ, của sự tiếc nhớ truyền thống, của lòng yêu quê hương, của sự thờ phụng và ngưỡng vọng những giá trị cũ một đi không trở lại. Đó phải chăng cũng là một cách để chúng ta nhìn nhận Trần Dần ở một mặt khác, mặt rất nhỏ, nhưng sâu lắng, da diết và đầy tình yêu trong tháp bayon bốn mặt mà ông mang đến cho cuộc đời, cho thơ.

Đi qua những bài thơ quảng trường hào khí, hùng tráng, những tiếng thơ sôi nổi trong hình thức thơ bậc thang theo cách của Maiacôpxki, Trần Dần trở về với Cổng tỉnh, với Mùa sạch, những tập thơ mà ngay tựa đề cũng mang đến cho người đọc ấn tượng trìu mến về sự tìm về nguồn cội.

II. 1. Hình tượng mang âm hưởng dân gian được kiến tạo bởi hội họa ý niệm và nghệ thuật sắp đặt.

1.1  Hình tượng dân gian

Không khó để tìm ra trong những bài thơ của Trần Dần, những hình tượng: Cổng đồn, cổng chợ, dãy nhà quan, phố hàng Kênh, đò trưa bến vắng, tiếng hò đò, ngõ cũ cổng then cài, tiếng pháo hội, tích hát mùa xuân, đào kép hội xuân; những biểu tượng của làng quê Kinh Bắc như: chiếc yếm, thắt lưng mỡ gà, ánh mát lúng liếng trong đêm hội chèo... Có điều, những hình tượng ấy được nhắc đến, được gợi về không phải với ý nghĩa là một nét văn hóa của một miền quê nào cụ thể. Không phải là Kinh Bắc trong ám ảnh của Bên kia sông Đuống, ám gợi của Mưa Thuận Thành trong thơ Hoàng Cầm; cũng không phải những âm hưởng dân gian ngập tràn trong thơ Nguyễn Bính: Bắt đầu là cái thắt lưng xanh... Với Trần Dần, đây đều là những hình tượng xuất hiện theo lối vụt hiện (tên một tập thơ sau này của Hoàng Hưng), tất cả những nét văn hóa ấy, đều gợi về trong kí ức, trong cái gọi là đôi ngày thơ ấu của thi nhân. Thơ ấu mà tác giả đã viết nên đầy ai oán:

Đâu? Đâu? Sao đã oái oăm cho tôi đôi ngày thơ ấu ấy?

Sao đã cho tôi trong trắng làm gì?

Để trong trắng lại qua đi?

Những hình ảnh thuộc một dòng mạch nào đó, nằm ngoài cái cảm quan bình thường của các loại giác quan, nó chồng chéo, xô đẩy, không gắn kết, không biểu hình, biểu ý. Trần Dần, vừa mong muốn gọi tên, tìm thấy nó, vừa mong muốn đừng chạm vào nó, đừng đánh vỡ tất cả những gì đẹp đẽ của dân gian, của quê hương nguồn cội đã tồn tại một cách vốn dĩ rất mỏng manh trong tâm thức nhà thơ:

Ai đứng bến đò Quan hò đò trưa bến vắng?

Đừng hò! Đừng hò!

Không biết lệnh cấm đò?

Còn rát cổ gọi sang sông?

1.2 Trần Dần đã tạo nên hệ thống hình tượng dân gian có tính chất phản đề, nhắc đến cũng là khi đã đánh mất nó. Hình tượng được xây dựng chủ yếu qua các phương thức: sắp đặt, lắp ghép, tạo cảm giác về cái đẹp mỏng manh, cái đẹp kí ức: thoảng thốt, đau đớn, mất hút.

 Đọc những dòng thơ mang âm hưởng dân gian trong thơ ông, người đọc không chỉ tìm thấy đây đó một vài biểu tượng quen thuộc, cũng không phải là sự điểm mặt chỉ tên một vài nét đẹp của văn hóa truyền thống. Người đọc có cảm nhận, trong một hình thức thơ dường như rất giản tiện, rất ngắn gọn, không phô bày, không liệt kê, chủ yếu là những câu thơ đứt gãy, gián cách, kết cấu không chủ ngữ hoặc có chủ ngữ thì hầu hết là đại từ phiếm chỉ, những câu mệnh lệnh thức: đừng hò, hãy bảo, hãy nhủ... là một mạch nguồn văn hóa dân gian đang trôi chảy. Có điều, đó không phải là những nét văn hóa cụ thể trong cảm nhận của nhiều người; là cổng chợ, là tích hát, là áo lụa... theo đúng những gì được định danh trong từ điển văn hóa Việt Nam.

Ngược lại hành trình của Trần Dần, nếu ông làm tiếng Việt với những con chữ, thì chúng tôi, xin mạn phép nhận định rằng, ông làm văn hóa với các biểu tượng. Do vậy, những hình ảnh văn hóa truyền thống mà chúng tôi khảo sát được trong thơ ông, phần nhiều là những hình ảnh chỉ mong manh cái gốc ý nghĩa ban đầu, còn phần lớn là những nét nghĩa tạo sinh, những cảm nhận đẹp và giàu chất nhân văn ở những mặt khác. Trần Dần đã thổi hồn vào những cái đã cũ những cảm quan rất mới, rất hiện đại, mang văn hóa từ chân trời cộng đồng trở lại với cái bề sâu bề sa trong tâm khảm mỗi con người. Văn hóa đi vào thơ ông đã cộng hưởng với cái tôi nội cảm để trở thành một sản phẩm tâm hồn đích thực.

Trong một trường đoạn của Cổng tỉnh, Trần Dần đã thể hiện cái bơ vơ của con người trước bối cảnh tan tác của đất nước và cái lạc lõng của kiếp đời thông qua hình ảnh hội chèo mùa xuân:

Cô đơn pháo đánh trống lấp. Để mùa xuân

Đổi tích hát ê a đào kép cũ.

Đôi câu thơ được diễn đạt theo kiểu vắt dòng, trung thành với cách kết cấu mở đầu vô định: cô đơn, đổi tích hát. Hình tượng lồng ghép: pháo, trống, hành động trùng điệp: đánh, lấp. Ấn tượng bao trùm: cô đơn. Sự vật được hoán đổi: pháo - đánh, trống - lấp. Có cảm giác như tiếng pháo, tiếng trống đang cố khỏa lấp đi nỗi trống vắng u buồn. Lại nữa, chủ thể phiếm chỉ đang cô đơn, hay chính pháo, chính trống cũng đang khỏa lấp sự cô đơn bằng một phương thức rời rạc, cô đơn khác? Mùa xuân do đó, chìm trong âm hưởng dìu dặt, nhỏ nhẹ và buồn sầu của tích hát ê a đào kép cũ. Ê a được động từ hóa tạo nên sự song trùng của âm điệu: đào kép cũ ê a, tích hát ê â. Cảm giác ê â kết hợp với ấn tượng cũ của đào kép không nguôi gợi ấn tượng về mùa xuân cũ, về âm thanh cũ, người đào kép cũ đang ngân nga khúc hát hay chính là tích hát đang trở mình buồn rầu ca lại những âm vang đã mất của dĩ vãng. Từng ấy hình ảnh, âm thanh cứ nhập nhòa vào nhau, lẩn khuất vào nhau, gợi lại nhau, tìm thấy nhau trong một hiện thực đang tự đánh mất dần đi, đang xa dần đi những giá trị văn hóa cũ. Những giá trị vốn đã từng được thể hiện một cách đầy tình tứ và lúng liếng đẹp trong một câu thơ khác của Trần Dần: Đâu? Đêm hội chèo mắt nam chìm mắt nữ. Hoán đổi bản chất sự vật: “mắt chìm trong mắt” là cách để Trần Dần diễn tả về sự hòa hợp đến sâu thẳm của những tâm hồn. Câu thơ có cái lả lướt, đong đưa, tình tứ của sân chèo, vừa có cái ý nhị mà nồng thắm của tình yêu trai gái thôn quê, thứ tình yêu rất đỗi mộc mạc và gần gũi như bất cứ câu ca dao yêu thương tình nghĩa nào của dân tộc Việt.

Cái hay là Trần Dần đã không đi quá sâu vào bất cứ thể hiện nào trên mỗi vùng, mỗi không gian, mỗi bối cảnh và hiện thực văn hóa. Nhà thơ chỉ làm công việc của một người tìm lại. Vì thế, người đọc có thể thả hồn vào những cảm nhận rất khác nhau, bởi nó mang tên những kí ức riêng, mỗi kí ức của cá nhân sẽ vẽ nên, tấu nên những hình ảnh, những âm vang riêng của văn hóa, không áp đặt không cụ thể. Trần Dần lặng lẽ là người khơi mở một thế giới riêng mỏng manh, đẹp đẽ, thoắt ẩn hiện của dân gian. Bằng cách này, Trần Dần làm những người yêu văn học hiện đại nhớ tới “Chút thoáng Xuân Hương” của Nguyễn Huy Thiệp: Xuân Hương xuất hiện trong bóng dáng của thứ rượu quê Kinh Bắc, mâm bánh trôi vừa làm xong bốc nóng, có bàn tay nàng trong bàn thờ sạch sẽ với nải chuối trứng cuốc; nhưng nàng ở đó mà dường như vô tăm tích, Xuân Hương đã tan biến vào văn hóa, vào các giá trị nghìn đời của dân tộc. Và vì thế, trong loạt 3 câu chuyện về Xuân Hương của Nguyễn Huy Thiệp, nhiều người đã cố tình tìm kiếm nàng: Tổng Cóc, Người đóng vai Chiêu Hổ, tri huyện Thăng... cuối cùng mỗi người lại tìm thấy một Xuân Hương cho riêng mình, nhưng không bao giờ tìm thấy Xuân Hương thật, không bao giờ có được một Xuân Hương toàn vẹn. Cái đẹp, đặc biệt là cái đẹp văn hóa và người đi tìm nó cứ chơi trò ú tim nhau, chẳng bao giờ nắm bắt được, nó ở trong cảm nhận riêng của mỗi người, nó tạo sinh và cũng sẵn sàng kết thúc cuộc đời nếu người ta không còn cảm nhận thấy rằng nó đang lẩn khuất đâu đây, khi người ta thôi nghĩ suy về nó. 

Đã rách yếm rồi làng Bạch

Thắt lưng mỡ gà xé áo đùm con

Bộ áo khi đi không còn mảnh vụn

Đâu? Sao trắng quê xưa?

Đâu? Đêm hội chèo mắt nam chìm mắt nữ

Đâu? Đom đóm đêm hè nhu nhú ngực đầm sen

Đâu? Đâu? Sao đã oái oăm cho tôi đôi ngày thơ ấu ấy?

Sao đã cho tôi trong trắng làm gì?

Để trong trắng lại qua đi?

                                                (Đâu sao trắng quê xưa)

          Trần Dần, một nhà thơ hiện đại tiên phong, hóa ra lại là người suy nghĩ nhiều về văn hóa truyền thống của dân tộc. Nhà thơ mặc định cho những âm hưởng dân gian xuất phát từ đôi ngày thơ ấu ấy, để khắc khoải kiếm tìm. Những câu thơ không có chủ ngữ, cũng rất ít động từ, phần nhiều được tạo nên bởi sự hoán đổi chức năng từ loại: Đom đóm đêm hè nhu nhú ngực đầm sen. Trần Dần đã lấy chất liệu dân gian để thể hiện một tứ thơ rất hiện đại. Một từ láy nhu nhú kết nối lại 2 bờ hình ảnh tưởng như không mấy liên quan đến nhau: đom đóm đêm hèngực đầm sen. Sự tạo hình đầy e ấp và quyến rũ trong ngực đầm sen, lối thoắt ẩn hiện của nhu nhú phát xuất từ ấn tượng của đom đóm đêm hè: Cả một đêm hè thôn quê thơ mộng đang chuyển động, câu thơ sống với thì đang – nghĩa của nó. Trần Dần đi tìm kí ức, hóa ra, kí ức vẫn cứ tồn tại, vẫn đang sống từ lâu trong tâm hồn của thi nhân, trong cách cảm riêng của mỗi người.

          Nhưng đó lại là những kí ức đẹp đẽ về dân gian, về quá khứ êm đẹp mà nhà thơ sợ vô tình chạm phải, nó vỡ, sẽ tan đi mất. Vì thế, âm hưởng dân gian trong thơ Trần Dần chủ yếu là cảm thức tìm lại, rất khắc khoải. Sự vật hiển hiện là nó mà không phải là nó. Những Ngõ Chỉ, Phố Hàng Kênh, bến đò Quan đã hơn một lần xuất hiện trong ca dao. Đó là những địa danh đẹp đẽ của một miền kí ức thăm thẳm, những địa danh mà chỉ nhắc đến đã tự thân mang trong mình những ấn tượng văn hóa riêng:

Phố nhà mồ thông sang phố nhà mồ

Ai lên phố hàng Kênh

Đừng bước chông chênh đôi hè phố đóng

Ai về ngõ Chỉ?

Đừng uổng công tìm ngõ cũ cổng cài then

Ai đứng bến đò Quan hò đò trưa bến vắng?

Đừng hò! Đừng hò!

Không biết lệnh cấm đò?

Còn rát cổ gọi sang sông?

                                                                             (Vắng – Cổng tỉnh)

Trần Dần dường như van vỉ trong thơ: đừng bước, đừng (uổng công) tìm, đừng hò... Nhà thơ sợ chạm vào cái nguyên khởi đẹp đẽ của các giá trị dân gian. Nhưng chính nhà thơ, trong quá trình kêu gọi đừng lật lại những giá trị ấy, lại đã làm đẹp thêm cho những giá trị ấy. Người đọc chợt nhận ra rằng, vì quá quý yêu mà nhà thơ không muốn nó bị tổn thương, hay không muốn chính mình bị tổn thương khi gợi lại một cái đẹp đã không còn tồn tại, để phải nhớ tiếc, xa xót. Cũng vì nhìn nhận qua cảm thức nhớ nên những địa danh xuất hiện trong Vắng không hoàn toàn tương đồng với cái đẹp nền nã, duyên dáng từng thấy trong ca dao. Những địa danh dân gian vào thơ Trần Dần biến ảo, chấp chới, không đẹp vẻ đẹp dịu dàng, toàn thiện mà nó chông chênh, trống vắng và khắc khoải, nó đã được phủ lên tâm thức hiện đại. Càng về sau, con phố trong thơ Trần Dần càng thiên về cái đời sống bên trong của nó. Phố là kí ức, là tâm trạng, là “TÔI” trong trạng thái nguyên bản nhất, sâu kín nhất: Phố trăng chênh trồng hoa trồng nụ, phố trăng non trẻ thơ chơi rồng rắn… Trong Vắng, Phố hàng Kênh – kết vần với Chông chênh, đây là một cách chơi chữ của Trần Dần, nhằm thể hiện cái chơi vơi, mất mát của nhân vật trữ tình trước đôi hè phố đóng. Ngõ Chỉ lại xuất hiện trong ấn tượng của Ngõ cũ cổng cài then. Hai lần đóng: Một lần đóng cửa sự vật, hiện tượng: cổng cài then, một lần đóng cửa thời gian: ngõ cũ. Ngõ Chỉ sẽ chỉ còn tồn tại trong kí ức bâng khuâng về một không gian nhộn nhịp xưa cũ. Nhà thơ đã đóng cửa một giá trị văn hóa cũ, hay cũng là một cách để giữ cho nó không bị thời gian và cuộc đời làm xô lệch, tan tác đi? Nhưng hình ảnh đẹp nhất của Vắng trong Cổng tỉnh, cái nức nở của một trái tim đầy tình yêu đối với các giá trị văn hóa cũ phải được thể hiện ở Ai đứng bến đò Quan hò đò trưa bến vắng?/ Đừng hò, đừng hò. Những tiếng đò lặp đi lặp lại trong câu thơ, được gián cách bởi chữ: Quan mang âm hưởng của Khoan khiến cho câu thơ dường như có một cách ngắt nhịp bất định, cả câu thơ nối dài như một tiếng hò đò cứ ngút ngát, thẳm xa trên bến vắng, giữa trời trưa tĩnh lặng. Điệu hò dân gian một cách tự nhiên nhất cứ thẩm thấu, lẩn khuất trong từng câu chữ và trong cả mạch cảm xúc trường đoạn thơ. Ấy là nét đẹp văn hóa mộc mạc và bản nguyên nhất được khơi gợi một cách khéo léo thông qua cuộc chơi bất tận với những con chữ dưới bàn tay mang ấn tượng của nghệ thuật sắp đặt Trần Dần.

2.     Nhạc tính dân gian trong hình thức biểu đạt

Mối quan hệ giữa âm nhạc và văn học, không phải đến thơ hiện đại mới xuất hiện. Những điệu hò, câu ví, bài dân ca phần nhiều đã xuất phát từ các bài ca dao. Chỉ khác là, nếu ca dao - văn bản trên giấy đẹp bởi những biện pháp nghệ thuật, bởi hình tượng dân gian thì dân ca, hò, ví dặm... đẹp chủ yếu bởi phương thức biểu đạt, hình thức thể hiện. Đặt văn bản vào hoàn cảnh diễn xướng, văn bản lập tức trở nên sống động lạ lùng, cái sống động và đẩy đưa đến duyên có khi xuất phát từ chính những câu đệm: à ơi, ơ hò, ố mấy tang tình... ngân nga không dứt hoặc say sưa lúc lắc theo nhịp điệu ngắn gọn, cách bắt vần chân liên tục, đều đặn của những bài vè mà trẻ em vẫn đem rao khắp đầu làng cuối xóm. Bằng cách ấy, chúng ta đã thấy thơ ca dân gian tạo nên một chất nhạc đặc biệt, chất nhạc cũng có thể coi là một loại hình thức mang tính nội dung của loại thể này. Trần Dần cũng đã mượn chất nhạc của văn học dân gian, để tạo nên âm hưởng cho những tác phẩm của mình, hoặc nhìn theo một hướng khác, cái cách mà Trần Dần diễn xướng hóa một số bài thơ của mình, đã lẩn khuất mạch ngầm dân gian ở đó.

Trần Dần không chỉ làm mới với những con chữ bằng cách gợi ra từ chúng những lớp nghĩa tạo sinh khả nhận, ông còn biến hóa với những con âm. Như Huy, một nhà thơ cũng miệt mài theo xu hướng “làm tiếng Việt” cho rằng: từ chữ “trặm”, có thể nảy ra chữ “mẩy”, chữ “mẵng”... Tiếng Việt có một khả năng biến âm kì lạ mà từ xưa đến nay, vì mải trung thành với nghĩa tự vị, nghĩa tiêu dùng, với những thanh âm mang nghĩa vốn có mà người nghệ sĩ tạm quên đi rằng, đã có thời, chỉ với ơi, nhỉ, nhé, tang tính, tang tình... người ta có thể chuyển tải cho nhau nhiều hơn trăm lời nói yêu thương, nghĩa tình. Trần Dần không phát làm sống nhạc tính từ cách hiệp vần trơn tru, chuẩn mực. Cũng như ca dao, phát xuất từ một tứ nào đó, mà hàng loạt lời thơ được khơi mở; trong thơ Trần Dần, từ một nốt nhạc mở đầu, Trần Dần đã tạo nên cả một bản hợp xướng. Chỉ có điều, nếu ca dao chỉ dừng lại ở việc mượn tứ để diễn lời, thì Trần Dần làm thơ từ chính những nốt nhạc chủ âm, những tiết tấu nền ấy. Nhà thơ tận dụng và sáng tạo từ những cái tưởng như chỉ đơn thuần là yếu tố đưa đẩy, đưa nó lên, chẻ nhỏ nó ra hàng trăm mảnh, để mỗi mảnh nhỏ ấy lại là một điểm nhấn, dẫn nhập nên hàng loạt những tâm tư xúc cảm khác. Nhà thơ đã mượn cái cách biến âm đầy biến ảo của ngôn ngữ văn học dân gian để từ hình thức đến nội dung, đưa người đọc từ cái huyền hồ này đến cái huyền hồ khác, trong bề sâu, bề rộng không cùng của chữ nghĩa đang tự do làm một hành trình riêng:

Tôi thích nhất công tác ở Việt Nam mùa

Nơi bắc cầu mùa

Nơi ngâm hạt mùa

Nơi chăm tằm mùa

Nơi bửa núi mùa

Nơi vượt biển mùa

Xào xạc gió mùa

Mùa Việt Nam trên quả đất mùa

(Mùa sạch)

Nơi – mùa: kết cấu ấy cứ trở đi trở lại trong bài thơ trường thiên mà có cảm giác rằng nếu nhà thơ để cho con chữ cứ tiếp tục sống đời sống tự do, cứ tiếp tục chảy trôi theo dòng thực tại thì nó không biết sẽ còn đưa người đọc đến đâu, liệu đã dừng lại ở nơi: nhìn trong vắt cả phía thất bát mùa hay chưa? Cách viết vừa mang âm hưởng đồng dao: vừa nhịp nhàng như tiếng gõ phách, vừa phiêu du tự tại đã mang đến cho thơ phơi phới âm điệu, trào dâng xúc cảm tin yêu vào ngàn vạn mùa đang sinh sôi, nảy nở ngay từ trong hình thức thơ. Cũng sử dụng phương thức chủ âm, được diễn đạt chủ yếu bằng hình thức lặp của ca dao, dân ca, Trần Dần đã láy vào lòng người những âm điệu đẹp đẽ của chín nhớ, mười thương trong một cách sắp đặt rất hiện đại mang tên: Chín bức mưa thư:

Ai xui nhà ươm chín mái

Tơ ngâm chín vại

Đậu xanh chín bãi

Tằm ngã  - Chín nong

Ai xui cửa chín chấn song

Đường về phố em đèn lên chín ngả

Thư đi ngỡ ngàng chín ngõ...

Vườn hoa chín cửa

Đợi chờ - chín đêm

Ai xui hồ chín lá sen?

Thuyền bơi chín sải

Ca đêm chín người chạy

Còi tầm chín ngả gọi

Hẹn nhau chín tối

Xưởng xa chín ống khói

Chín người – tìm thư

Cách trách móc mang âm hưởng vừa nhẹ nhàng, vừa day dứt khắc khoải của ca dao: Ai xui..., Ai làm cho..., Cách nói đợi chờ, mời gọi, nhớ nhung trong: Ai về..., Ai lên... đã xuất hiện không ít trong thơ Trần Dần. Phần nhiều là cách nhà thơ tạo âm điệu:

Ai lên cổng đồn?

Hãy nhắn cơn giông đừng chớp giật!

Ai về xuôi dãy nhà quan?

Hãy bảo chòi canh đừng gióng trống

Ai qua cổng chợ?

Hãy nhủ heo may về

Đừng quét phố để đau cây!

Ai lên - ai về - ai qua: đi từ bè cao, đến bè trầm rồi lại sang bè trung. Cả trường đoạn thơ cứ réo rắt. Những câu bắt đầu bằng ai như phần lời hát, đang tự do kiếm tìm, tự do khơi mở một miền kí ức đẹp đẽ, yên bình của cổng đồn, dãy nhà quan, cổng chợ... Những câu bắt đầu bằng hãy như phần bè đệm, dày dặn, chắc nịch và âm vang không dứt, nó như sợi dây nối kí ức, níu giữa kí ức, kết lại kí ức đang tự do bay nhảy trong những câu hỏi phía trên. Dường như những bài thơ bắt đầu bằng “Ai” của Trần Dần đều có một nỗi u buồn bảng lảng phiếm định xuất phát từ một đại từ phiếm chỉ. Cách kết cấu và cách tạo nhạc tính của nhà thơ do đó cũng được cộng hưởng từ âm điệu chung đó. Trong Chín bức mưa thư: chín mái nhà ươm, chín vại tơ ngâm, chín nong tằm, chín ngõ khuya, chín lá sen, con số chín nhảy nhót, con số chín theo quan niệm của dân gian ấp ủ tâm thức nhớ thương mòn mỏi. Trần Dần đã sáng tạo bằng cách hòa số chín vào tất cả các sự vật hiện tượng gần gũi của đời sống dân gian, để nó tự sống đời sống riêng trong thơ, để người đọc tự cảm nhận tâm trạng mòn mỏi, chín đợi mười chờ của nhân vật trữ tình. Con số chín, cùng với âm hưởng của nó cứ không nguôi len lỏi vào mọi sự vật, vào mọi hành động, băn khoăn, day dứt, khắc khoải, trùng điệp.

          Cũng có khi, Trần Dần lại mượn tiết tấu của dân gian, chủ yếu là đồng dao, vè, và những bài ca dao ngắn để tạo nên nhạc tính cho những nội dung hoàn toàn hiện đại:

 Đi chơi! Đi chơi

Đầu trọc bình vôi

Hai tay hai hòn sỏi

Đi chơi! Đi chơi

Đầu trọc bình vôi...

Đi chơi! Đi chơi

                                                                             (Bài hát người lớn)

Bài thơ hoàn toàn không mang dấu ấn của sự tạo tác, của lối hiệp vần truyền thống. Đúng theo tâm thế của câu thơ mở đầu: Đi chơi! Đi chơi, bài thơ tự nó là một cuộc chơi. Với cách lặp chủ âm và hình tượng gốc: Đầu trọc bình vôi. Bài thơ mượn cách thức diễn xướng theo lối hò vè của con trẻ để “diễn” một  nội dung mà Trần Dần gọi là: Bài hát người lớn. Bên cạnh dấu ấn rất đậm nét của phồn thực theo kiểu chơi chữ của Hồ Xuân Hương, chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng: chỉ qua âm điệu của bài thơ, qua cách mà con chữ tự do lắp vào nhau theo cách của một bài vè bất tận thấy, Trần Dần đã góp công lớn trong việc thổi vào một nội dung rất mới, những âm điệu quen thuộc của dân gian, mặt khác, từ cách nói của trẻ nhỏ tới bài hát người lớn, Trần Dần phải chăng còn muốn mượn hình thức để biểu đạt những nội dung khác? 

          Trong một bài thơ khác, nhà thơ đã kết hợp tài tình cả hội họa, âm nhạc và thơ vào cùng một hình thức diễn đạt:

Mưa rơi phay phay

Ngã tư năm ngoái

Biết tôi khờ dại

Em đi sao không chống cự nổi

Đại lộ tai hại

Em dài man dại

Em dài quên che đậy

Em dài tê tái

Em dài quên cân đối

Em dài vô tội

Em dài khổ tâm

(Không đề số 4)

          Vẫn theo phương thức lặp truyền thống để tạo âm điệu bởi những câu thơ không hiệp vần, ngắt dòng một cách dường như phi lí, kết cấu rời rạc, các mối liên hệ đứt gãy. Một bài thơ như thế, rõ ràng sẽ không mang chất nhạc. Nhưng người đọc vẫn có cảm nhận của điệu buồn da diết đến tê tái, day dứt, đổ dài theo hình bóng em: em dài quên cân đối. Khác với phương thức lặp quen thuộc theo cách nói của ca dao: chiếc khăn thương nhớ ai, dù có thực hiện hành động gì, thì vẫn cứ là chiếc khăn thương nhớ, những dòng thơ trải dài từ một chủ âm khăn chỉ là một cách để trầm bổng hóa âm điệu của cảm xúc mà thôi. Nhưng với Trần Dần, mỗi lần em dài là một lần em biến ảo trong các hình dung khác nhau, xoáy vào những chiều kích cảm xúc khác nhau, hé lộ chủ thể trữ tình ở những mặt khác nhau, những mặt có khi còn khuất lấp: em dài vô tội, em dài khổ tâm. Xoay sự vật trong một khối vuông rubic, đặt nó trong ống kính vạn hoa để tự nó làm bộc lộ những ý nghĩa là giá trị thẩm mĩ phong phú, điều này, Chế Lan Viên đã làm và rất thành công với thơ giàu chất triết lý và trí tuệ của mình. Nhưng Trần Dần không chủ đích xoay khối rubic hay ống kính vạn hoa ấy, mà nhà thơ muốn nó tự chuyển động, phó mặc cho sự chảy trôi của ngữ nghĩa, của âm điệu. Chuỗi em dài mênh mang bất tận đổ bóng xuống thơ, không nhằm minh họa bất cứ sự vật nào, không nhằm tập trung vào một nét ý nghĩa cố định xác định nào. Mỗi lần cất lên điệp khúc em dài là một lần nhân vật trữ tình rơi vào trạng thái đợi chờ phi lí: Em đi sao không chống cự nổi, rồi lại một lần được khám phá.

Cùng với Không đề số 4, Trần Dần có bức họa: Em dài quên cân đối. Đây là sự pha trộn phức hợp nhiều gam màu đối lập, nhiều đường nét đối lập, những kích thước đối lập, khác thường. Ấy là người thiếu nữ trong cảm nhận của Trần Dần, không phải con người với những đường nét xác thực ngoài đời. Và Em dài quên cân đối sẽ còn lặp lại trong thơ Trần Dần, trong cảm thức về tính man dại, phi lý của thế giới, với cách sử dụng thi ảnh, ngôn từ thật phong phú mà gợi cảm – sự gợi cảm không thể có được khi nó đi liền với tính cân đối, xác thực, nguyên bản.

III. Dọc chảy hành trình thơ Trần Dần, ta nhận ra rằng, thi nhân đã sáng tạo và cách tân, hiện đại hóa thơ không chỉ từ sự tiếp xúc thức thời với văn hóa phương Tây, bắt kịp thơ ca hậu hiện đại Thế giới. Cái hay của Trần Dần là đã xuất phát từ một nguồn mạch khác chảy trôi ngàn đời trong huyết quản của nhà thơ Việt Nam: ấy là ý thức về truyền thống và dân tộc; phần thiêng liêng, sâu thẳm, là ấu thơ sáng trong trắng mà thi nhân muốn cất giấu, sợ nó sẽ bị mai một, sợ nó sẽ bị đánh mất. Nhà thơ đã giữ lấy cái chông chênh hư ảo và đẹp đẽ ấy bằng một tâm hồn nhạy cảm, một hình thức thơ giàu âm điệu dân gian và bằng kết cấu hình tượng quen và lạ đến bất ngờ thông qua phương thức sắp đặt độc đáo. Ấy là chất dân gian của riêng Trần Dần, tinh khôi kí ức một thời thơ trẻ của con người, của thơ. Nhưng có điều chắc chắn rằng, đúng theo tinh thần sáng tạo của Trần Dần, mỗi người đọc sẽ tìm thấy cho mình những âm hưởng dân gian riêng, không áp đặt, không trùng lặp, giống như người ta đã từng tự tìm kiếm cảm xúc của riêng mình trong hành trình miệt mài với con chữ để làm mới, làm lạ, làm khác, làm đẹp cho tiếng Việt của ông./.  

TƯ LIỆU THAM KHẢO

[1] Lại Nguyên Ân, Đoàn Tử Huyến (2003), Văn học hậu hiện đại thế giới những vấn đề lý thuyết, Nxb Hội nhà văn, H.

[2] R. Barthes (1997), Độ không của lối viết, Nxb Hội nhà văn, H.

[3] Trần Dần (2008), Thơ, Nxb Đà Nẵng.

[4] Hà Minh Đức (1974), Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, Nxb Khoa học xã hội, H.

[5] Như Huy (2008), Những câu phức, Nxb Hội nhà văn, H.

[6] Đinh Gia Khánh cb (2003), Văn học dân gian Việt Nam, Nxb Giáo dục. H.

(Source: Khoa Ngữ văn - Đào tạo Cao học )
Tin khác:
  
  
  
  
  

Tin khác:
  
  
  
  
  
Hội thảo Cao học In Ấn  
CHẤT DÂN GIAN TRONG THƠ TRẦN DẦN
Đinh Minh Hằng CHK18 - VHVN hiện đại


 

I. Trần Dần có thể được coi là nhà thơ tiên phong trong công cuộc làm mới thơ hiện đại, là nhà cách tân thơ số 1, là người dành cả cuộc đời mình để sáng tạo nghệ thuật với con chữ, làm một thứ tiếng Việt riêng. Từ những: Bài thơ Việt Bắc, Cổng tỉnh, Mùa sạch, sau này đến Thơ Mini, Jờ joạc, Thơ không lời..., người đọc đã thấy những cách làm thơ – làm tiếng Việt độc đáo, kì lạ. Vượt qua ranh giới định tính của quan niệm thơ phải dễ hiểu, phải tải nghĩa, phải dễ cảm, dễ đón nhận, thơ Trần Dần ngày càng đi vào địa phận của cái khác biệt, của bề sâu chữ nghĩa. Tất nhiên, đổi mới thơ không có nghĩa là làm lạ, làm khác. Người đọc vẫn cảm nhận được đằng sau những kết hợp từ kì lạ, trong những kết cấu mà thơ mượn của âm nhạc, của hội họa... là những rung cảm rất đời, rất người. Cái tôi của Trần Dần, dù biểu trưng cho những kiếp đời đóng chai, những người bay không có chân trời, thì vẫn là một trong những cái tôi nằm trong cái bản ngã chung của thời đại. Chỉ có điều, thời đại ấy lại không phải là thời đại mà thơ Trần Dần ra đời, ấy được gọi lại là những chân trời không có người bay.

Nhưng không phải vì thế mà cho rằng, những gì Trần Dần làm được, chỉ là nền móng cho thơ hiện đại Việt Nam sau này, và rằng, nó hoàn toàn đứt rời với quá khứ, với dòng mạch thơ dân tộc. Để nghiên cứu sự tiếp nối từ nguồn mạch thơ dân tộc đến Trần Dần, quả là điều không dễ dàng. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi chỉ đề cập đến một vấn đề nhỏ, đó là chất dân gian, điều có thể dễ thấy hơn, nhưng khó nhận diện và cắt nghĩa được hơn trong thơ Trần Dần, vốn được coi là thơ của một thời đại khác, mang một âm hưởng khác.

Dọc theo hành trình sáng tạo của thi nhân, chúng tôi nhận ra rằng: nguồn mạch dân gian chảy trong thơ Trần Dần tuy không phải có thể trở thành một dòng mạch lớn, nhưng nó cứ âm ỉ, trôi chảy trong thơ ông, như một minh chứng của cái đẹp quá khứ, của sự tiếc nhớ truyền thống, của lòng yêu quê hương, của sự thờ phụng và ngưỡng vọng những giá trị cũ một đi không trở lại. Đó phải chăng cũng là một cách để chúng ta nhìn nhận Trần Dần ở một mặt khác, mặt rất nhỏ, nhưng sâu lắng, da diết và đầy tình yêu trong tháp bayon bốn mặt mà ông mang đến cho cuộc đời, cho thơ.

Đi qua những bài thơ quảng trường hào khí, hùng tráng, những tiếng thơ sôi nổi trong hình thức thơ bậc thang theo cách của Maiacôpxki, Trần Dần trở về với Cổng tỉnh, với Mùa sạch, những tập thơ mà ngay tựa đề cũng mang đến cho người đọc ấn tượng trìu mến về sự tìm về nguồn cội.

II. 1. Hình tượng mang âm hưởng dân gian được kiến tạo bởi hội họa ý niệm và nghệ thuật sắp đặt.

1.1  Hình tượng dân gian

Không khó để tìm ra trong những bài thơ của Trần Dần, những hình tượng: Cổng đồn, cổng chợ, dãy nhà quan, phố hàng Kênh, đò trưa bến vắng, tiếng hò đò, ngõ cũ cổng then cài, tiếng pháo hội, tích hát mùa xuân, đào kép hội xuân; những biểu tượng của làng quê Kinh Bắc như: chiếc yếm, thắt lưng mỡ gà, ánh mát lúng liếng trong đêm hội chèo... Có điều, những hình tượng ấy được nhắc đến, được gợi về không phải với ý nghĩa là một nét văn hóa của một miền quê nào cụ thể. Không phải là Kinh Bắc trong ám ảnh của Bên kia sông Đuống, ám gợi của Mưa Thuận Thành trong thơ Hoàng Cầm; cũng không phải những âm hưởng dân gian ngập tràn trong thơ Nguyễn Bính: Bắt đầu là cái thắt lưng xanh... Với Trần Dần, đây đều là những hình tượng xuất hiện theo lối vụt hiện (tên một tập thơ sau này của Hoàng Hưng), tất cả những nét văn hóa ấy, đều gợi về trong kí ức, trong cái gọi là đôi ngày thơ ấu của thi nhân. Thơ ấu mà tác giả đã viết nên đầy ai oán:

Đâu? Đâu? Sao đã oái oăm cho tôi đôi ngày thơ ấu ấy?

Sao đã cho tôi trong trắng làm gì?

Để trong trắng lại qua đi?

Những hình ảnh thuộc một dòng mạch nào đó, nằm ngoài cái cảm quan bình thường của các loại giác quan, nó chồng chéo, xô đẩy, không gắn kết, không biểu hình, biểu ý. Trần Dần, vừa mong muốn gọi tên, tìm thấy nó, vừa mong muốn đừng chạm vào nó, đừng đánh vỡ tất cả những gì đẹp đẽ của dân gian, của quê hương nguồn cội đã tồn tại một cách vốn dĩ rất mỏng manh trong tâm thức nhà thơ:

Ai đứng bến đò Quan hò đò trưa bến vắng?

Đừng hò! Đừng hò!

Không biết lệnh cấm đò?

Còn rát cổ gọi sang sông?

1.2 Trần Dần đã tạo nên hệ thống hình tượng dân gian có tính chất phản đề, nhắc đến cũng là khi đã đánh mất nó. Hình tượng được xây dựng chủ yếu qua các phương thức: sắp đặt, lắp ghép, tạo cảm giác về cái đẹp mỏng manh, cái đẹp kí ức: thoảng thốt, đau đớn, mất hút.

 Đọc những dòng thơ mang âm hưởng dân gian trong thơ ông, người đọc không chỉ tìm thấy đây đó một vài biểu tượng quen thuộc, cũng không phải là sự điểm mặt chỉ tên một vài nét đẹp của văn hóa truyền thống. Người đọc có cảm nhận, trong một hình thức thơ dường như rất giản tiện, rất ngắn gọn, không phô bày, không liệt kê, chủ yếu là những câu thơ đứt gãy, gián cách, kết cấu không chủ ngữ hoặc có chủ ngữ thì hầu hết là đại từ phiếm chỉ, những câu mệnh lệnh thức: đừng hò, hãy bảo, hãy nhủ... là một mạch nguồn văn hóa dân gian đang trôi chảy. Có điều, đó không phải là những nét văn hóa cụ thể trong cảm nhận của nhiều người; là cổng chợ, là tích hát, là áo lụa... theo đúng những gì được định danh trong từ điển văn hóa Việt Nam.

Ngược lại hành trình của Trần Dần, nếu ông làm tiếng Việt với những con chữ, thì chúng tôi, xin mạn phép nhận định rằng, ông làm văn hóa với các biểu tượng. Do vậy, những hình ảnh văn hóa truyền thống mà chúng tôi khảo sát được trong thơ ông, phần nhiều là những hình ảnh chỉ mong manh cái gốc ý nghĩa ban đầu, còn phần lớn là những nét nghĩa tạo sinh, những cảm nhận đẹp và giàu chất nhân văn ở những mặt khác. Trần Dần đã thổi hồn vào những cái đã cũ những cảm quan rất mới, rất hiện đại, mang văn hóa từ chân trời cộng đồng trở lại với cái bề sâu bề sa trong tâm khảm mỗi con người. Văn hóa đi vào thơ ông đã cộng hưởng với cái tôi nội cảm để trở thành một sản phẩm tâm hồn đích thực.

Trong một trường đoạn của Cổng tỉnh, Trần Dần đã thể hiện cái bơ vơ của con người trước bối cảnh tan tác của đất nước và cái lạc lõng của kiếp đời thông qua hình ảnh hội chèo mùa xuân:

Cô đơn pháo đánh trống lấp. Để mùa xuân

Đổi tích hát ê a đào kép cũ.

Đôi câu thơ được diễn đạt theo kiểu vắt dòng, trung thành với cách kết cấu mở đầu vô định: cô đơn, đổi tích hát. Hình tượng lồng ghép: pháo, trống, hành động trùng điệp: đánh, lấp. Ấn tượng bao trùm: cô đơn. Sự vật được hoán đổi: pháo - đánh, trống - lấp. Có cảm giác như tiếng pháo, tiếng trống đang cố khỏa lấp đi nỗi trống vắng u buồn. Lại nữa, chủ thể phiếm chỉ đang cô đơn, hay chính pháo, chính trống cũng đang khỏa lấp sự cô đơn bằng một phương thức rời rạc, cô đơn khác? Mùa xuân do đó, chìm trong âm hưởng dìu dặt, nhỏ nhẹ và buồn sầu của tích hát ê a đào kép cũ. Ê a được động từ hóa tạo nên sự song trùng của âm điệu: đào kép cũ ê a, tích hát ê â. Cảm giác ê â kết hợp với ấn tượng cũ của đào kép không nguôi gợi ấn tượng về mùa xuân cũ, về âm thanh cũ, người đào kép cũ đang ngân nga khúc hát hay chính là tích hát đang trở mình buồn rầu ca lại những âm vang đã mất của dĩ vãng. Từng ấy hình ảnh, âm thanh cứ nhập nhòa vào nhau, lẩn khuất vào nhau, gợi lại nhau, tìm thấy nhau trong một hiện thực đang tự đánh mất dần đi, đang xa dần đi những giá trị văn hóa cũ. Những giá trị vốn đã từng được thể hiện một cách đầy tình tứ và lúng liếng đẹp trong một câu thơ khác của Trần Dần: Đâu? Đêm hội chèo mắt nam chìm mắt nữ. Hoán đổi bản chất sự vật: “mắt chìm trong mắt” là cách để Trần Dần diễn tả về sự hòa hợp đến sâu thẳm của những tâm hồn. Câu thơ có cái lả lướt, đong đưa, tình tứ của sân chèo, vừa có cái ý nhị mà nồng thắm của tình yêu trai gái thôn quê, thứ tình yêu rất đỗi mộc mạc và gần gũi như bất cứ câu ca dao yêu thương tình nghĩa nào của dân tộc Việt.

Cái hay là Trần Dần đã không đi quá sâu vào bất cứ thể hiện nào trên mỗi vùng, mỗi không gian, mỗi bối cảnh và hiện thực văn hóa. Nhà thơ chỉ làm công việc của một người tìm lại. Vì thế, người đọc có thể thả hồn vào những cảm nhận rất khác nhau, bởi nó mang tên những kí ức riêng, mỗi kí ức của cá nhân sẽ vẽ nên, tấu nên những hình ảnh, những âm vang riêng của văn hóa, không áp đặt không cụ thể. Trần Dần lặng lẽ là người khơi mở một thế giới riêng mỏng manh, đẹp đẽ, thoắt ẩn hiện của dân gian. Bằng cách này, Trần Dần làm những người yêu văn học hiện đại nhớ tới “Chút thoáng Xuân Hương” của Nguyễn Huy Thiệp: Xuân Hương xuất hiện trong bóng dáng của thứ rượu quê Kinh Bắc, mâm bánh trôi vừa làm xong bốc nóng, có bàn tay nàng trong bàn thờ sạch sẽ với nải chuối trứng cuốc; nhưng nàng ở đó mà dường như vô tăm tích, Xuân Hương đã tan biến vào văn hóa, vào các giá trị nghìn đời của dân tộc. Và vì thế, trong loạt 3 câu chuyện về Xuân Hương của Nguyễn Huy Thiệp, nhiều người đã cố tình tìm kiếm nàng: Tổng Cóc, Người đóng vai Chiêu Hổ, tri huyện Thăng... cuối cùng mỗi người lại tìm thấy một Xuân Hương cho riêng mình, nhưng không bao giờ tìm thấy Xuân Hương thật, không bao giờ có được một Xuân Hương toàn vẹn. Cái đẹp, đặc biệt là cái đẹp văn hóa và người đi tìm nó cứ chơi trò ú tim nhau, chẳng bao giờ nắm bắt được, nó ở trong cảm nhận riêng của mỗi người, nó tạo sinh và cũng sẵn sàng kết thúc cuộc đời nếu người ta không còn cảm nhận thấy rằng nó đang lẩn khuất đâu đây, khi người ta thôi nghĩ suy về nó. 

Đã rách yếm rồi làng Bạch

Thắt lưng mỡ gà xé áo đùm con

Bộ áo khi đi không còn mảnh vụn

Đâu? Sao trắng quê xưa?

Đâu? Đêm hội chèo mắt nam chìm mắt nữ

Đâu? Đom đóm đêm hè nhu nhú ngực đầm sen

Đâu? Đâu? Sao đã oái oăm cho tôi đôi ngày thơ ấu ấy?

Sao đã cho tôi trong trắng làm gì?

Để trong trắng lại qua đi?

                                                (Đâu sao trắng quê xưa)

          Trần Dần, một nhà thơ hiện đại tiên phong, hóa ra lại là người suy nghĩ nhiều về văn hóa truyền thống của dân tộc. Nhà thơ mặc định cho những âm hưởng dân gian xuất phát từ đôi ngày thơ ấu ấy, để khắc khoải kiếm tìm. Những câu thơ không có chủ ngữ, cũng rất ít động từ, phần nhiều được tạo nên bởi sự hoán đổi chức năng từ loại: Đom đóm đêm hè nhu nhú ngực đầm sen. Trần Dần đã lấy chất liệu dân gian để thể hiện một tứ thơ rất hiện đại. Một từ láy nhu nhú kết nối lại 2 bờ hình ảnh tưởng như không mấy liên quan đến nhau: đom đóm đêm hèngực đầm sen. Sự tạo hình đầy e ấp và quyến rũ trong ngực đầm sen, lối thoắt ẩn hiện của nhu nhú phát xuất từ ấn tượng của đom đóm đêm hè: Cả một đêm hè thôn quê thơ mộng đang chuyển động, câu thơ sống với thì đang – nghĩa của nó. Trần Dần đi tìm kí ức, hóa ra, kí ức vẫn cứ tồn tại, vẫn đang sống từ lâu trong tâm hồn của thi nhân, trong cách cảm riêng của mỗi người.

          Nhưng đó lại là những kí ức đẹp đẽ về dân gian, về quá khứ êm đẹp mà nhà thơ sợ vô tình chạm phải, nó vỡ, sẽ tan đi mất. Vì thế, âm hưởng dân gian trong thơ Trần Dần chủ yếu là cảm thức tìm lại, rất khắc khoải. Sự vật hiển hiện là nó mà không phải là nó. Những Ngõ Chỉ, Phố Hàng Kênh, bến đò Quan đã hơn một lần xuất hiện trong ca dao. Đó là những địa danh đẹp đẽ của một miền kí ức thăm thẳm, những địa danh mà chỉ nhắc đến đã tự thân mang trong mình những ấn tượng văn hóa riêng:

Phố nhà mồ thông sang phố nhà mồ

Ai lên phố hàng Kênh

Đừng bước chông chênh đôi hè phố đóng

Ai về ngõ Chỉ?

Đừng uổng công tìm ngõ cũ cổng cài then

Ai đứng bến đò Quan hò đò trưa bến vắng?

Đừng hò! Đừng hò!

Không biết lệnh cấm đò?

Còn rát cổ gọi sang sông?

                                                                             (Vắng – Cổng tỉnh)

Trần Dần dường như van vỉ trong thơ: đừng bước, đừng (uổng công) tìm, đừng hò... Nhà thơ sợ chạm vào cái nguyên khởi đẹp đẽ của các giá trị dân gian. Nhưng chính nhà thơ, trong quá trình kêu gọi đừng lật lại những giá trị ấy, lại đã làm đẹp thêm cho những giá trị ấy. Người đọc chợt nhận ra rằng, vì quá quý yêu mà nhà thơ không muốn nó bị tổn thương, hay không muốn chính mình bị tổn thương khi gợi lại một cái đẹp đã không còn tồn tại, để phải nhớ tiếc, xa xót. Cũng vì nhìn nhận qua cảm thức nhớ nên những địa danh xuất hiện trong Vắng không hoàn toàn tương đồng với cái đẹp nền nã, duyên dáng từng thấy trong ca dao. Những địa danh dân gian vào thơ Trần Dần biến ảo, chấp chới, không đẹp vẻ đẹp dịu dàng, toàn thiện mà nó chông chênh, trống vắng và khắc khoải, nó đã được phủ lên tâm thức hiện đại. Càng về sau, con phố trong thơ Trần Dần càng thiên về cái đời sống bên trong của nó. Phố là kí ức, là tâm trạng, là “TÔI” trong trạng thái nguyên bản nhất, sâu kín nhất: Phố trăng chênh trồng hoa trồng nụ, phố trăng non trẻ thơ chơi rồng rắn… Trong Vắng, Phố hàng Kênh – kết vần với Chông chênh, đây là một cách chơi chữ của Trần Dần, nhằm thể hiện cái chơi vơi, mất mát của nhân vật trữ tình trước đôi hè phố đóng. Ngõ Chỉ lại xuất hiện trong ấn tượng của Ngõ cũ cổng cài then. Hai lần đóng: Một lần đóng cửa sự vật, hiện tượng: cổng cài then, một lần đóng cửa thời gian: ngõ cũ. Ngõ Chỉ sẽ chỉ còn tồn tại trong kí ức bâng khuâng về một không gian nhộn nhịp xưa cũ. Nhà thơ đã đóng cửa một giá trị văn hóa cũ, hay cũng là một cách để giữ cho nó không bị thời gian và cuộc đời làm xô lệch, tan tác đi? Nhưng hình ảnh đẹp nhất của Vắng trong Cổng tỉnh, cái nức nở của một trái tim đầy tình yêu đối với các giá trị văn hóa cũ phải được thể hiện ở Ai đứng bến đò Quan hò đò trưa bến vắng?/ Đừng hò, đừng hò. Những tiếng đò lặp đi lặp lại trong câu thơ, được gián cách bởi chữ: Quan mang âm hưởng của Khoan khiến cho câu thơ dường như có một cách ngắt nhịp bất định, cả câu thơ nối dài như một tiếng hò đò cứ ngút ngát, thẳm xa trên bến vắng, giữa trời trưa tĩnh lặng. Điệu hò dân gian một cách tự nhiên nhất cứ thẩm thấu, lẩn khuất trong từng câu chữ và trong cả mạch cảm xúc trường đoạn thơ. Ấy là nét đẹp văn hóa mộc mạc và bản nguyên nhất được khơi gợi một cách khéo léo thông qua cuộc chơi bất tận với những con chữ dưới bàn tay mang ấn tượng của nghệ thuật sắp đặt Trần Dần.

2.     Nhạc tính dân gian trong hình thức biểu đạt

Mối quan hệ giữa âm nhạc và văn học, không phải đến thơ hiện đại mới xuất hiện. Những điệu hò, câu ví, bài dân ca phần nhiều đã xuất phát từ các bài ca dao. Chỉ khác là, nếu ca dao - văn bản trên giấy đẹp bởi những biện pháp nghệ thuật, bởi hình tượng dân gian thì dân ca, hò, ví dặm... đẹp chủ yếu bởi phương thức biểu đạt, hình thức thể hiện. Đặt văn bản vào hoàn cảnh diễn xướng, văn bản lập tức trở nên sống động lạ lùng, cái sống động và đẩy đưa đến duyên có khi xuất phát từ chính những câu đệm: à ơi, ơ hò, ố mấy tang tình... ngân nga không dứt hoặc say sưa lúc lắc theo nhịp điệu ngắn gọn, cách bắt vần chân liên tục, đều đặn của những bài vè mà trẻ em vẫn đem rao khắp đầu làng cuối xóm. Bằng cách ấy, chúng ta đã thấy thơ ca dân gian tạo nên một chất nhạc đặc biệt, chất nhạc cũng có thể coi là một loại hình thức mang tính nội dung của loại thể này. Trần Dần cũng đã mượn chất nhạc của văn học dân gian, để tạo nên âm hưởng cho những tác phẩm của mình, hoặc nhìn theo một hướng khác, cái cách mà Trần Dần diễn xướng hóa một số bài thơ của mình, đã lẩn khuất mạch ngầm dân gian ở đó.

Trần Dần không chỉ làm mới với những con chữ bằng cách gợi ra từ chúng những lớp nghĩa tạo sinh khả nhận, ông còn biến hóa với những con âm. Như Huy, một nhà thơ cũng miệt mài theo xu hướng “làm tiếng Việt” cho rằng: từ chữ “trặm”, có thể nảy ra chữ “mẩy”, chữ “mẵng”... Tiếng Việt có một khả năng biến âm kì lạ mà từ xưa đến nay, vì mải trung thành với nghĩa tự vị, nghĩa tiêu dùng, với những thanh âm mang nghĩa vốn có mà người nghệ sĩ tạm quên đi rằng, đã có thời, chỉ với ơi, nhỉ, nhé, tang tính, tang tình... người ta có thể chuyển tải cho nhau nhiều hơn trăm lời nói yêu thương, nghĩa tình. Trần Dần không phát làm sống nhạc tính từ cách hiệp vần trơn tru, chuẩn mực. Cũng như ca dao, phát xuất từ một tứ nào đó, mà hàng loạt lời thơ được khơi mở; trong thơ Trần Dần, từ một nốt nhạc mở đầu, Trần Dần đã tạo nên cả một bản hợp xướng. Chỉ có điều, nếu ca dao chỉ dừng lại ở việc mượn tứ để diễn lời, thì Trần Dần làm thơ từ chính những nốt nhạc chủ âm, những tiết tấu nền ấy. Nhà thơ tận dụng và sáng tạo từ những cái tưởng như chỉ đơn thuần là yếu tố đưa đẩy, đưa nó lên, chẻ nhỏ nó ra hàng trăm mảnh, để mỗi mảnh nhỏ ấy lại là một điểm nhấn, dẫn nhập nên hàng loạt những tâm tư xúc cảm khác. Nhà thơ đã mượn cái cách biến âm đầy biến ảo của ngôn ngữ văn học dân gian để từ hình thức đến nội dung, đưa người đọc từ cái huyền hồ này đến cái huyền hồ khác, trong bề sâu, bề rộng không cùng của chữ nghĩa đang tự do làm một hành trình riêng:

Tôi thích nhất công tác ở Việt Nam mùa

Nơi bắc cầu mùa

Nơi ngâm hạt mùa

Nơi chăm tằm mùa

Nơi bửa núi mùa

Nơi vượt biển mùa

Xào xạc gió mùa

Mùa Việt Nam trên quả đất mùa

(Mùa sạch)

Nơi – mùa: kết cấu ấy cứ trở đi trở lại trong bài thơ trường thiên mà có cảm giác rằng nếu nhà thơ để cho con chữ cứ tiếp tục sống đời sống tự do, cứ tiếp tục chảy trôi theo dòng thực tại thì nó không biết sẽ còn đưa người đọc đến đâu, liệu đã dừng lại ở nơi: nhìn trong vắt cả phía thất bát mùa hay chưa? Cách viết vừa mang âm hưởng đồng dao: vừa nhịp nhàng như tiếng gõ phách, vừa phiêu du tự tại đã mang đến cho thơ phơi phới âm điệu, trào dâng xúc cảm tin yêu vào ngàn vạn mùa đang sinh sôi, nảy nở ngay từ trong hình thức thơ. Cũng sử dụng phương thức chủ âm, được diễn đạt chủ yếu bằng hình thức lặp của ca dao, dân ca, Trần Dần đã láy vào lòng người những âm điệu đẹp đẽ của chín nhớ, mười thương trong một cách sắp đặt rất hiện đại mang tên: Chín bức mưa thư:

Ai xui nhà ươm chín mái

Tơ ngâm chín vại

Đậu xanh chín bãi

Tằm ngã  - Chín nong

Ai xui cửa chín chấn song

Đường về phố em đèn lên chín ngả

Thư đi ngỡ ngàng chín ngõ...

Vườn hoa chín cửa

Đợi chờ - chín đêm

Ai xui hồ chín lá sen?

Thuyền bơi chín sải

Ca đêm chín người chạy

Còi tầm chín ngả gọi

Hẹn nhau chín tối

Xưởng xa chín ống khói

Chín người – tìm thư

Cách trách móc mang âm hưởng vừa nhẹ nhàng, vừa day dứt khắc khoải của ca dao: Ai xui..., Ai làm cho..., Cách nói đợi chờ, mời gọi, nhớ nhung trong: Ai về..., Ai lên... đã xuất hiện không ít trong thơ Trần Dần. Phần nhiều là cách nhà thơ tạo âm điệu:

Ai lên cổng đồn?

Hãy nhắn cơn giông đừng chớp giật!

Ai về xuôi dãy nhà quan?

Hãy bảo chòi canh đừng gióng trống

Ai qua cổng chợ?

Hãy nhủ heo may về

Đừng quét phố để đau cây!

Ai lên - ai về - ai qua: đi từ bè cao, đến bè trầm rồi lại sang bè trung. Cả trường đoạn thơ cứ réo rắt. Những câu bắt đầu bằng ai như phần lời hát, đang tự do kiếm tìm, tự do khơi mở một miền kí ức đẹp đẽ, yên bình của cổng đồn, dãy nhà quan, cổng chợ... Những câu bắt đầu bằng hãy như phần bè đệm, dày dặn, chắc nịch và âm vang không dứt, nó như sợi dây nối kí ức, níu giữa kí ức, kết lại kí ức đang tự do bay nhảy trong những câu hỏi phía trên. Dường như những bài thơ bắt đầu bằng “Ai” của Trần Dần đều có một nỗi u buồn bảng lảng phiếm định xuất phát từ một đại từ phiếm chỉ. Cách kết cấu và cách tạo nhạc tính của nhà thơ do đó cũng được cộng hưởng từ âm điệu chung đó. Trong Chín bức mưa thư: chín mái nhà ươm, chín vại tơ ngâm, chín nong tằm, chín ngõ khuya, chín lá sen, con số chín nhảy nhót, con số chín theo quan niệm của dân gian ấp ủ tâm thức nhớ thương mòn mỏi. Trần Dần đã sáng tạo bằng cách hòa số chín vào tất cả các sự vật hiện tượng gần gũi của đời sống dân gian, để nó tự sống đời sống riêng trong thơ, để người đọc tự cảm nhận tâm trạng mòn mỏi, chín đợi mười chờ của nhân vật trữ tình. Con số chín, cùng với âm hưởng của nó cứ không nguôi len lỏi vào mọi sự vật, vào mọi hành động, băn khoăn, day dứt, khắc khoải, trùng điệp.

          Cũng có khi, Trần Dần lại mượn tiết tấu của dân gian, chủ yếu là đồng dao, vè, và những bài ca dao ngắn để tạo nên nhạc tính cho những nội dung hoàn toàn hiện đại:

 Đi chơi! Đi chơi

Đầu trọc bình vôi

Hai tay hai hòn sỏi

Đi chơi! Đi chơi

Đầu trọc bình vôi...

Đi chơi! Đi chơi

                                                                             (Bài hát người lớn)

Bài thơ hoàn toàn không mang dấu ấn của sự tạo tác, của lối hiệp vần truyền thống. Đúng theo tâm thế của câu thơ mở đầu: Đi chơi! Đi chơi, bài thơ tự nó là một cuộc chơi. Với cách lặp chủ âm và hình tượng gốc: Đầu trọc bình vôi. Bài thơ mượn cách thức diễn xướng theo lối hò vè của con trẻ để “diễn” một  nội dung mà Trần Dần gọi là: Bài hát người lớn. Bên cạnh dấu ấn rất đậm nét của phồn thực theo kiểu chơi chữ của Hồ Xuân Hương, chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng: chỉ qua âm điệu của bài thơ, qua cách mà con chữ tự do lắp vào nhau theo cách của một bài vè bất tận thấy, Trần Dần đã góp công lớn trong việc thổi vào một nội dung rất mới, những âm điệu quen thuộc của dân gian, mặt khác, từ cách nói của trẻ nhỏ tới bài hát người lớn, Trần Dần phải chăng còn muốn mượn hình thức để biểu đạt những nội dung khác? 

          Trong một bài thơ khác, nhà thơ đã kết hợp tài tình cả hội họa, âm nhạc và thơ vào cùng một hình thức diễn đạt:

Mưa rơi phay phay

Ngã tư năm ngoái

Biết tôi khờ dại

Em đi sao không chống cự nổi

Đại lộ tai hại

Em dài man dại

Em dài quên che đậy

Em dài tê tái

Em dài quên cân đối

Em dài vô tội

Em dài khổ tâm

(Không đề số 4)

          Vẫn theo phương thức lặp truyền thống để tạo âm điệu bởi những câu thơ không hiệp vần, ngắt dòng một cách dường như phi lí, kết cấu rời rạc, các mối liên hệ đứt gãy. Một bài thơ như thế, rõ ràng sẽ không mang chất nhạc. Nhưng người đọc vẫn có cảm nhận của điệu buồn da diết đến tê tái, day dứt, đổ dài theo hình bóng em: em dài quên cân đối. Khác với phương thức lặp quen thuộc theo cách nói của ca dao: chiếc khăn thương nhớ ai, dù có thực hiện hành động gì, thì vẫn cứ là chiếc khăn thương nhớ, những dòng thơ trải dài từ một chủ âm khăn chỉ là một cách để trầm bổng hóa âm điệu của cảm xúc mà thôi. Nhưng với Trần Dần, mỗi lần em dài là một lần em biến ảo trong các hình dung khác nhau, xoáy vào những chiều kích cảm xúc khác nhau, hé lộ chủ thể trữ tình ở những mặt khác nhau, những mặt có khi còn khuất lấp: em dài vô tội, em dài khổ tâm. Xoay sự vật trong một khối vuông rubic, đặt nó trong ống kính vạn hoa để tự nó làm bộc lộ những ý nghĩa là giá trị thẩm mĩ phong phú, điều này, Chế Lan Viên đã làm và rất thành công với thơ giàu chất triết lý và trí tuệ của mình. Nhưng Trần Dần không chủ đích xoay khối rubic hay ống kính vạn hoa ấy, mà nhà thơ muốn nó tự chuyển động, phó mặc cho sự chảy trôi của ngữ nghĩa, của âm điệu. Chuỗi em dài mênh mang bất tận đổ bóng xuống thơ, không nhằm minh họa bất cứ sự vật nào, không nhằm tập trung vào một nét ý nghĩa cố định xác định nào. Mỗi lần cất lên điệp khúc em dài là một lần nhân vật trữ tình rơi vào trạng thái đợi chờ phi lí: Em đi sao không chống cự nổi, rồi lại một lần được khám phá.

Cùng với Không đề số 4, Trần Dần có bức họa: Em dài quên cân đối. Đây là sự pha trộn phức hợp nhiều gam màu đối lập, nhiều đường nét đối lập, những kích thước đối lập, khác thường. Ấy là người thiếu nữ trong cảm nhận của Trần Dần, không phải con người với những đường nét xác thực ngoài đời. Và Em dài quên cân đối sẽ còn lặp lại trong thơ Trần Dần, trong cảm thức về tính man dại, phi lý của thế giới, với cách sử dụng thi ảnh, ngôn từ thật phong phú mà gợi cảm – sự gợi cảm không thể có được khi nó đi liền với tính cân đối, xác thực, nguyên bản.

III. Dọc chảy hành trình thơ Trần Dần, ta nhận ra rằng, thi nhân đã sáng tạo và cách tân, hiện đại hóa thơ không chỉ từ sự tiếp xúc thức thời với văn hóa phương Tây, bắt kịp thơ ca hậu hiện đại Thế giới. Cái hay của Trần Dần là đã xuất phát từ một nguồn mạch khác chảy trôi ngàn đời trong huyết quản của nhà thơ Việt Nam: ấy là ý thức về truyền thống và dân tộc; phần thiêng liêng, sâu thẳm, là ấu thơ sáng trong trắng mà thi nhân muốn cất giấu, sợ nó sẽ bị mai một, sợ nó sẽ bị đánh mất. Nhà thơ đã giữ lấy cái chông chênh hư ảo và đẹp đẽ ấy bằng một tâm hồn nhạy cảm, một hình thức thơ giàu âm điệu dân gian và bằng kết cấu hình tượng quen và lạ đến bất ngờ thông qua phương thức sắp đặt độc đáo. Ấy là chất dân gian của riêng Trần Dần, tinh khôi kí ức một thời thơ trẻ của con người, của thơ. Nhưng có điều chắc chắn rằng, đúng theo tinh thần sáng tạo của Trần Dần, mỗi người đọc sẽ tìm thấy cho mình những âm hưởng dân gian riêng, không áp đặt, không trùng lặp, giống như người ta đã từng tự tìm kiếm cảm xúc của riêng mình trong hành trình miệt mài với con chữ để làm mới, làm lạ, làm khác, làm đẹp cho tiếng Việt của ông./.  

TƯ LIỆU THAM KHẢO

[1] Lại Nguyên Ân, Đoàn Tử Huyến (2003), Văn học hậu hiện đại thế giới những vấn đề lý thuyết, Nxb Hội nhà văn, H.

[2] R. Barthes (1997), Độ không của lối viết, Nxb Hội nhà văn, H.

[3] Trần Dần (2008), Thơ, Nxb Đà Nẵng.

[4] Hà Minh Đức (1974), Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, Nxb Khoa học xã hội, H.

[5] Như Huy (2008), Những câu phức, Nxb Hội nhà văn, H.

[6] Đinh Gia Khánh cb (2003), Văn học dân gian Việt Nam, Nxb Giáo dục. H.

(Source: Khoa Ngữ văn - Đào tạo Cao học )
Tin khác:
  
  
  
  
  

Tin khác:
  
  
  
  
  
Tin tức - Sự kiện In Ấn  
Khoa Ngữ Văn - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Faculty of Philology, Hanoi National University of Education
Địa chỉ: Nhà B, 136 Xuân Thủy - Cầu Giấy - Hà Nội   Điện thoại: 04.7549076/04.7547424   Email: nguvan@hnue.edu.vn