Chế Độ:  
       Trang chủ     Diễn đàn     Gửi bài     Tìm kiếm      
SỐ LƯỢT TRUY CẬP
Hội thảo Cao học In Ấn  
HÀI HƯỚC ĐEN TRÊN PHƯƠNG DIỆN HỘI THOẠI TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN HUY THIỆP
Đinh Văn Thuần - CHK19


1. Đặt vấn đề

Trong vận động thẩm mĩ của văn xuôi Việt Nam sau 1975, truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp có một vị trí đặc biệt quan trọng[1]. Truyện ngắn của ông đóng góp quan trọng trong vận động cách tân theo khuynh hướng đa dạng hóa, hiện đại hóa thẩm mĩ của văn xuôi Việt Nam sau 1975. Từ những đổi mới nổi bật từ chiều sâu quan niệm nghệ thuật về cuộc đời và con người mang dấu ấn của cảm quan hậu hiện đại đến những biểu hiện thẩm mỹ hài độc đáo tạo thành nét đặc trưng riêng cho truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp.

Quan niệm hoài nghi “đại tự sự”[2] với việc chối bỏ những tín điều bất biến khiến biến cố hài trong truyện ngắn của nhà văn này chủ yếu tập trung ở phương diện hội thoại mang tinh thần giễu nhại. Cảm quan phi lí chi phối mạnh mẽ, tạo nên sắc thái hài hước đen trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp. Sắc thái hài hước đen trong truyện ngắn của nhà văn này biểu hiện nổi bật nhất trên phương diện ngôn ngữ. Những cuộc giao tiếp với sự sơ cứng đến hài hước ẩn chứa trong nó những tấn bi kịch mất lời của con người hiện đại dệt nên màu sắc hài hước đen. Trong bài viết này, chúng tôi hướng đến tiếp cận những biểu hiện thẩm mỹ độc đáo này của nhà văn từ phương diện ngôn ngữ hội thoại – một trong những phương diện đặc sắc nhất của truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp.

2. Phần nội dung

2.1. Hòa mình trong vận động cách tân của của văn xuôi Việt Nam sau 1975, Nguyễn Huy Thiệp đóng vai trò quan trọng trong xu hướng dân chủ hóa đời sống văn học. Bản chất của thể nghiệm này biểu hiện ở việc nhà văn không còn giữ quyền uy tối cao. Tác giả xác lập thế đứng ngang hàng với nhân vật và độc giả trên cùng một thang bậc giá trị.

Với quan niệm ấy, Nguyễn Huy Thiệp trong tác phẩm của mình rất ít miêu tả ngoại hình và nội tâm nhân vật. Con người hiện lên qua những trang văn trong hiện trạng mờ nhòa các đường viền lịch sử và số phận. Đây là một hướng khai phá mới của tác giả so với các nhà văn dòng ý thức. Cõi tâm tư thầm kín của nhân vật, dưới cái nhìn của người kể chuyện khách quan và bị tước bỏ quyền năng tuyệt đối, vì thế luôn tồn tại như những bí ẩn trước bạn đọc. Thế giới nhân vật của Nguyễn Huy Thiệp vì vậy ít suy nghĩ, trăn trở nhưng bù lại hành động rất mạnh mẽ và quyết liệt. Nhà nghiên cứu Đặng Anh Đào có một nhận định rất đáng lưu ý: “Nhân vật của Nguyễn Huy Thiệp giống như con khỉ chúa trong Muối của rừng, văng mình rất nhanh đến nỗi gần như không có phút nghỉ ở mỗi chặng dừng. Chúng giống như những hình nhân cắt bằng giấy gián trên đèn cù, không có bề dày của quá khứ, của thời gian (chỉ vẻn vẹn trong khoảnh khắc của hiện tại, chiều dài của truyện ngắn), không được bồi tiếp thêm về nội tâm (bởi nội tâm đã trút ra ngoài hành động). Họ đi lại, nhố nhăng, hành động”[3].

Cùng với hành động, ngôn ngữ là phương diện được Nguyễn Huy Thiệp đặc biệt quan tâm khi khắc họa nhân vật. Với giọng kể trung hòa, khách quan gần như tuyệt đối của người trần thuật, ngôn ngữ và giao tiếp luôn tạo lập nên những góc nghiêng với con người bên trong, thúc đẩy người đọc nhập cuộc, trải nghiệm, giải mã tư tưởng tác giả. Thế giới nhân vật của Nguyễn Huy Thiệp, bởi thế nghĩ ít mà nói nhiều. Độc giả có thể không nhớ nhân vật của nhà văn mang hình hài, dáng vẻ, suy nghĩ ra sao, nhưng trái lại, nhớ rất rõ chúng đã nói những gì. Ngay cả những nhân vật được xây dựng với cảm hứng bi kịch cũng không nằm ngoài đặc điểm mang tính quan niệm này.

Với nhãn quan dân chủ, phá bỏ những ngăn trở về khoảng cách và thứ bậc giá trị, nhà văn tiếp cận và khắc họa cuộc sống trong quan hệ suồng sã với quan niệm con người đa diện. Nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp không bao giờ “đơn trị”, thuần nhất một nét tính cách mà luôn lưỡng phân, đa diện dưới cái nhìn “tán sắc” của một “tọa độ soi ngắm” dân chủ đặt trên nền tảng bản thể tự nhiên con người. Cái nhìn và quan niệm ấy khiến con người trong sáng tác của nhà văn luôn dôi ra những phần dư thừa, không bao giờ ôm chứa hết trong những bộ áo mà xã hội mang khoác cho nó. Từ những bậc đế vương như Quang Trung, Nguyễn Ánh (Phẩm tiết, Kiếm sắc) cho đến những nhân vật khiếm khuyết như Bường (Những người thợ xẻ), anh giáo Triệu (Những bài học nông thôn), Cún (Cún), Lài (Tướng về hưu),... hiện lên trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp trước hết là những con người với cả những điều tốt đẹp bên cạnh những lầm lạc, xấu xa,...

Quan niệm sâu sắc về con người đa diện trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp là sản phẩm của một tư duy văn xuôi đổi mới. Dỡ bỏ khoảng cách sử thi, tiếp cận cuộc sống bằng quan hệ suồng sã, nhà văn đã tạo lập những khả năng, đường hướng mới trên hành trình truy tìm tận đáy sâu bản thể con người. Quan niệm ấy là cơ sở để Nguyễn Huy Thiệp thể nghiệm thẩm mĩ hài trong những sáng tạo của mình.

Tuy vậy vấn đề khác được đặt ra, phải chăng tiếng cười trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp chỉ đơn thuần là sự phản ứng lại với những tư duy văn học, ý thức thẩm mĩ ít nhiều đơn điệu và xơ cứng của văn học sử thi, góp cho một diện mạo văn xuôi mới trẻ trung, năng động và bớt trịnh trọng hơn? Hay cái hài trong sáng tác của nhà văn còn chịu sự quy định của một cảm quan nghệ thuật khác?

2.1.2. Dòng chảy xuyên suốt thể hiện quan niệm bao trùm thế giới nghệ thuật Nguyễn Huy Thiệp là: cuộc đời với những vòng xoáy bất tận của nó chỉ là phù du, vô nghĩa.

Thể hiện quan niệm này, Nguyễn Huy Thiệp trong sáng tác của mình quan tâm đặc biệt, dụng công khắc họa kiểu nhân vật ra đi, kiếm tìm. Tôi trong Chảy đi sông ơi “mặc kệ sách vở và những lời khuyên của mẹ”, cứ tối tối lại theo đám người đánh cá mòi ra sông. Chương trong Con gái thủy thần bỏ lại mẹ và em, “nhằm hướng mặt trời mọc mà đi” và cứ đi, đi mãi, mặc cho “hôm qua mưa. Hôm nay nắng đẹp. Ngày mai nắng”. Điểm chung trong mỗi cuộc ra đi ấy là những cố gắng vùng vẫy của nhân vật nhằm thoát khỏi hiện trạng bế tắc của đời sống. Họ ra đi mang theo những ham muốn và niềm tin vào một cuộc sống tốt đẹp ở ngày mai. Trong Giọt máu, ông cháu dắt díu nhau đi tìm thầy học chữ, những mong một ngày kia vinh hiển, “cờ tiến sĩ về tay” khiến thiên hạ phải nể phục cái đức của dòng họ. Bường trong Những người thợ xẻ hăm hở cùng con cháu, họ hàng lên tận chốn ma thiêng nước độc để “kéo cưa lừa xẻ”. Còn nữa rất nhiều những nhân vật mang tham vọng trong mỗi cuộc lên đường như vậy. Những tay thợ săn trong: Trái tim hổ, Con thú lớn nhất, Muối của rừng,...theo đuổi ham muốn hạ gục “con thú lớn nhất” của đời mình. Các bậc vua chúa tham gia “trò chơi đế vương” để mưu cầu quyền lực tuyệt đối. Những nhân vật trí thức như Ngọc (Những người thợ xẻ), Hiếu (Những bài học nông thôn),...lại ra đi tìm tri kỉ, tri âm, hay ý nghĩa cho cuộc sống tù túng.... Họ, mỗi người có những lí do khác nhau để ra đi, kiếm tìm, có thể vì ham hố trần tục, dục vọng lợi danh hay vì những khát vọng về một cuộc sống tinh thần giàu ý nghĩa. Nhưng rồi kết cục họ nhận được ở cuối mỗi hành trình đầy gian nan ấy chỉ là những thất bại thảm hại, những ê chề, nhục nhã. Trò chơi đế vương rốt cuộc cũng chỉ là trò của trời mà cả Quang Trung và Nguyễn Ánh cuối cùng đều sực tỉnh bởi “trò chơi nào chẳng vô công”(Phẩm tiết). Những tay súng cuối đời thức tỉnh, mình mới là “con thú lớn nhất”, biển không có thuỷ thần, mặt đất không có vua...

Trở về với chính mình sau những kết cục thảm hại ấy, con người tồn tại với tâm trạng hoài nghi, bất an và cô đơn trong một thế giới vô nghĩa. Hầu hết những nhân vật trong thế giới truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp đều cô đơn như vậy. Họ dường như không thể xác lập được mối dây liên hệ với đồng loại. Tướng Thuấn (Tướng về hưu) là nhân vật tiêu biểu cho quan niệm này của Nguyễn Huy Thiệp. Nhân vật phục viên, trở về hòa nhập với cuộc sống mới đầy lạ lẫm ngay giữa ngôi nhà và những người ruột thịt của ông. Hành trang sau mấy chục năm trốn nhà đi bộ đội trở về là những lí tưởng sống, quan niệm đạo đức của cả một thế hệ mà ông là đại biểu ưu tú. Nhưng giữa vô vàn những tiếng nói lạc điệu, lỗi nhịp, những phát ngôn nghiêm túc, những quan niệm đạo đức của ông bị cô lập đến thảm hại, biến ông trở thành kẻ xa lạ đáng thương ngay trong gia đình và xã hội. Tướng Thuấn bước ra khỏi môi trường ấy trong tư thế của kẻ chiến bại, gói ghém những phát ngôn lỗi bè của mình, ra đi... Trong truyện ngắn Tướng về hưu, không chỉ mình tướng Thuấn cô đơn, mà ngay cả Thuần, con người của cuộc sống hôm nay cũng không thoát khỏi bi kịch mất lời khi thấu hiểu nỗi cô đơn của kiếp người giữa sự vô nghĩa của cuộc đời: “Tôi thấy cô đơn quá. Các con tôi cũng cô đơn. Cả đám đánh bạc, cả cha tôi nữa”.

Thế giới nghệ thuật Nguyễn Huy Thiệp còn rất nhiều những nhân vật thất bại, cô đơn giữa dòng đời như vậy. Thắm (Chảy đi sông ơi) cô đơn giữa cuộc thế mà “con người vô tâm nhiều như cát bụi bên đường”. Sinh (Không có vua) cô đơn trong thế giới “không có vua”. Đăng (Tâm hồn mẹ) cô đơn trong mặc cảm mồ côi. Ngọc (Những người thợ xẻ) cô đơn trong tâm thế “chỉ một tôi thôi còn đâu là chúng nó”.... Đẩy mạch văn đi xa hơn, từ quan niệm con người cô đơn, Nguyễn Huy Thiệp tìm về với những kiếp người cô đơn ngay trong những khối rubich hào quang của lịch sử, huyền thoại. Nguyễn Trãi thức nhận sự vô nghĩa của “trật tự bầy đoàn” để rồi còn lại là một khối “cô đơn giữa dòng đời, như một hành tinh hoặc một ngọn gió” (Nguyễn Thị Lộ). Hồ Xuân Hương ngồn ngộn sức sống trong tâm thức dân gian, trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp lại hiện hữu trong bộ xô gai thân phận mà “nức nở khóc cho nỗi cô đơn mênh mang của cõi đời” (Chút thoáng Xuân Hương). Từ những bậc đế vương sống giữa đỉnh cao quyền lực, những “khối cô đơn khổng lồ”, đến những nghệ sĩ dân gian chân chính, không ai thoát khỏi nỗi cô đơn mênh mang giữa những xoáy hút đen bạc, “vụn vặt và vô nghĩa lí” của dòng đời, Trương Chi “chỉ có một mình. Ngày cũng một mình. Đêm cũng một mình”(Trương Chi)....

Như một vòng xoay khép kín, từ trong thất bại, cô đơn, con người trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp thức nhận càng sâu sắc sự hư ảo, vô nghĩa của cuộc đời. Tôi trong Chảy đi sông ơi, sau khi “hăm hở đuổi theo bao điều phù du”, chỉ còn biết “gào lên chua xót” mà nhận thấy “hiện giờ cuộc sống của tôi vô nghĩa xiết bao”. Ngọc trong Những người thợ xẻ thốt lên: “Tôi chỉ căm giận, căm giận những phù vân trong toàn bộ hoàn cảnh sống của thời đại tôi”. Đề Thám trong những phút yếu lòng nhất, người nhất, ý thức sâu sắc về những gánh nặng mà bổn phận đặt lên vai mình, nhân vật đã òa khóc, “ông khóc cho mình, cho tất cả những hữu hạn của chính mình, của mỗi người” (Mưa Nhã Nam). Nguyễn Huy Thiệp trong sáng tác của mình có những mạch thơ thể hiện đậm đặc cảm quan bao trùm ấy. Tất thảy đều hướng đến thể nghiệm quan niệm chi phối, xuyên suốt: “Cuộc sống của con người đầy bất trắc và vô nghĩa, họ sống như cún, như lão Hạ, như con giun, con dế, như con ong cái kiến...” (Cún).

Lã Nguyên đã có một nhận xét rất đáng chú ý : ““Cuộc đời vô nghĩa” là tứ truyện chi phối mạch vận động của câu chữ, hình ảnh trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp”[4]. Quan niệm cuộc đời vô nghĩa, con người cô đơn bao trùm và chi phối mạnh mẽ đến thế giới nghệ thuật Nguyễn Huy Thiệp trong đó có sự biểu hiện phạm trù cái hài. Chiều sâu ý thức nghệ thuật mang dấu hiệu cảm quan hậu hiện đại này khiến tiếng cười trong truyện ngắn của ông không còn là biểu hiện cho sự thắng lợi tuyệt đối của lí tưởng thẩm mĩ như cái hài truyền thống. Tiếng cười toát ra từ những vô nghĩa, phi lí của cuộc đời là biểu thị trạng huống thấu triệt, vượt thoát của chủ thể thẩm mĩ trước cuộc đời.

2.1.3. Thế giới trong quan niệm của Nguyễn Huy Thiệp tồn tại phân mảnh, rời rạc, hỗn độn, hậu quả của sự đổ vỡ những định chế và tín niệm có tham vọng bao trùm mọi quy luật tồn tại. Trước đây con người tồn tại, sống với niềm tin nguyên thủy vào những lí thuyết và kinh nghiệm mang tính quy luật có tham vọng ôm trùm, can thiệp vào mọi mối quan hệ và ý thức xã hội. Những định chế, “đại tự sự” là điểm tựa để con người xã hội lựa chọn cách ứng xử với tồn tại. Tuy nhiên, cùng sự phát triển vượt bậc của kĩ thuật, văn minh, con người hiện đại dần nhận chân sự bất lực, ảo tưởng của những tín điều ấy. Tâm trạng hoài nghi, lo âu xâm chiếm con người trong một thời đại kĩ trị đầy khủng hoảng và bất trắc. Những định chế, “đại tự sự” vì thế trở nên bất lực, tồn tại xơ cứng và khôi hài trước hiện sinh đời sống.

Thể hiện quan niệm này, Nguyễn Huy Thiệp đã xây dựng nhân vật theo nguyên tắc đối lập giữa “bộ áo” mà xã hội mang khoác với những biểu hiện mang bản chất bên trong của chúng. Những biểu hiện thực tế ấy luôn tạo độ vênh và lật tẩy những định chế mà ý thức xã hội đã tạo đặt cho nhân vật. Ở Sang sông, trên con đò vốn là một ẩn dụ của cuộc đời, nhà sư, tín đồ của đức Bồ Đề Lạt Ma, trước sức hút của món đồ cổ cũng “ngước mắt lên, trong ánh nhìn lóe lên một tia sáng thậm chí giống hệt dục vọng”; nhà thơ, nhà giáo với mớ lí thuyết cao siêu, huyền bí, bỗng chốc trở thành những người ngớ ngẩn, bất lực và khôi hài trước chú bé gặp nạn trong tay hai kẻ vô lại. Trong khi đó, một tướng cướp lại trở thành anh hùng khi quả quyết và dũng mãnh đập vỡ chiếc bình giải cứu đứa trẻ. Trong Không có vua, Đoài mang “mác” trí thức, làm việc ở bộ giáo dục nhưng lại là nhân cách tha hóa, suy đồi nhất. Nhân vật này chủ trương biểu quyết để bố chết. Trong khi đó, Khiêm là nhân viên lò mổ nhưng lại là người giữ bản lề phong hóa vốn tồn tại mong manh trong thế giới không có vua. Cùng quan niệm này, Nguyễn Huy Thiệp đặc biệt dụng công khắc họa hệ thống những nhân vật khuyết tật. Điều đáng bàn, ở đây, chính họ là những người cuối cùng mang giữ tình thương hoặc chân lí đời sống. Trong đối trọng với những bỉ ổi của “bọn có học” theo cách nói của tác giả, tất cả nhằm hướng tới thể hiện quan niệm về một mô hình thế giới mảnh vỡ, hỗn độn, phi trung tâm của Nguyễn Huy Thiệp.      Mang tinh thần hoài nghi tồn tại với những “đại tự sự” như thế, Nguyễn Huy Thiệp thể nghiệm bước đột phá trong nghệ thuật tổ chức kết cấu với ưu thế tuyệt đối của kiểu cốt truyện phân mảnh, lắp ghép. Cốt truyện truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp giờ đây chỉ như cái cớ cho sự tồn tại hình thức thể tài mà không còn ý nghĩa điểm tựa cho tư tưởng tác giả. Cùng quan niệm dân chủ thiên về xây dựng nhân vật hành động với ưu tiên  tối cao cho ngôn ngữ đối thoại được định vị từ điểm nhìn bên ngoài, khách quan khiến cho sự thể hiện cái hài trong truyện ngắn của ông trên phương diện cốt truyện, sự kiện là rất mờ nhạt. Biến cố gây cười vì vậy được thể hiện tập trung ở phương diện đối thoại mang tinh thần giễu nhại chủ yếu trên cấp độ phát ngôn.

2.1.4. Trong kĩ thuật nhại của Nguyễn Huy Thiệp, đáng kể nhất là việc nhà văn thường xuyên để cho các nhân vật đối thoại với nhau mà từ đó toát lên phẩm chất nhại. Nếu như văn học nhại gắn với cái hài truyền thống đứng trên những chuẩn mực của thực tại để lột tẩy và khai trừ những biểu hiện đã trở nên lỗi thời, lạc hậu thì ở trường hợp Nguyễn Huy Thiệp, nhà văn lại không tin vào những định hướng kiểu đó. Hài và nhại trong truyện ngắn của ông bởi vậy là một cố gắng để phản lại chính những nỗ lực khôi phục chân lí, trật tự qua những hình thức tự nhại bằng hành động viết. Nhà văn “giễu nhại chính bản thân mình bằng hành vi giễu nhại”[5]. Nhãn quan này chi phối việc tác giả xây dựng kiểu nhân vật người kể chuyện không đáng tin cậy mà nhiều công trình đã đề cập và chứng minh. Trong phép nhại, người kể chuyện liên tục di động điểm nhìn nhằm xóa bỏ mọi dấu vết của mình, mặc sức giễu nhại nhân vật nhưng rồi cuối cùng anh ta lại là nạn nhân của chính mình. Nhân vật người kể chuyện xưng “tôi” trong Mưa Nhã Nam, với giọng điệu thản nhiên, khinh bạc, đã giễu nhại người đọc, giễu nhại ý thức tôn thờ của mọi người với Đề Thám, giễu nhại Đề Thám, để rồi cuối cùng anh ta giễu nhại chính mình: “Hôm tôi ở Nhã Nam trời cũng mưa, nhưng là cơn mưa bóng mây, một thứ mưa xoàng”. Tự nhại còn được thể hiện đậm đặc trên cấp độ ngôn ngữ, như một sự chạy chốn, xóa bỏ những dấu vết tư tưởng của chính mình với một tinh thần hoài nghi triệt để.

Tự nhại với chiều sâu quan niệm như vậy khiến cho phép nhại và hài trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp chỉ với chủ đích đối chiếu hài hước giữa các hiện tượng khác nhau nhằm kiến tạo những độ vênh cần thiết cho tiếng cười toát lên. Cái hài trong thế giới nghệ thuật của nhà văn này, bởi thế, chủ yếu mang sắc thái hài hước. Lê Huy Bắc có lý khi chỉ ra hiệu ứng thẩm mỹ này trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp : “Đặc biệt là lối nhại của Nguyễn Huy Thiệp ít khi gắn với tiếng cười. Mà nếu có thì tiếng cười thực sự bi đát […]. Không có sự hả hê trong tiếng cười bởi những nhận xét cay nghiệt, chua xót trực tiếp trong đối thoại của hai nhân vật. Đây chính là phong cách nhại của Nguyễn Huy Thiệp”[6].

2.2. Kết cấu truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp chủ yếu dựa trên ngôn ngữ đối thoại của nhân vật. Tuy nhiên đối thoại, giao tiếp giữa các nhân vật trong truyện ngắn của ông phần lớn không nhằm hướng tới sự tương tác lẫn nhau qua những hành động nói. Trái lại, dường như những phát ngôn chỉ được đặt cạnh nhau dưới vỏ hình thức giao tiếp. Các nhân vật thường xuyên theo đuổi những dòng suy nghĩ, những tư tưởng riêng trong khi tham gia giao tiếp. Đối thoại trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp vì thế luôn tạo ra những trật khớp, bất hòa, lệch kênh giữa một phía là trạng thái lạc lõng của ý nghĩa tầng sâu với bề mặt cố tỏ ra ăn nhập.

Lý thuyết giao tiếp cho rằng một cuộc giao tiếp bao gồm các yếu tố : ngữ cảnh giao tiếp, ngôn ngữ và diễn ngôn. Trong đó, ngữ cảnh là những nhân tố có mặt trong cuộc giao tiếp, bao gồm nhân vật giao tiếp, hiện thực ngoài diễn ngôn. Diễn ngôn được hiểu là “tất cả những yếu tố vật chất, xã hội, văn hóa,... có tính cảm tính và những nội dung tinh thần tương ứng không được nói đến trong diễn ngôn của một cuộc giao tiếp”[7]. Trong khi đó, nhân vật giao tiếp được hiểu là “những người tham gia vào một cuộc giao tiếp bằng ngôn ngữ, dùng ngôn ngữ để tạo ra các lời nói, các diễn ngôn qua đó mà tác động vào nhau. Đó là những người tương tác bằng ngôn ngữ”[8]. Điều quan trọng nhất đối với một cuộc giao tiếp đó là hiện thực ngoài diễn ngôn phải được nhân vật giao tiếp ý thức. Khi đã trở thành hiểu biết của những người giao tiếp thì hiện thực ngoài diễn ngôn hợp thành tiền giả định bách khoa hay tiền giả định giao tiếp của diễn ngôn. “Một cuộc giao tiếp chỉ đạt hiệu quả khi các nhân vật giao tiếp có một lượng tiền giả định bách khoa chung nào đấy mặc dầu về chất lượng và số lượng tuyệt đối thì hiểu biết về hiện thực ngoài diễn ngôn của các nhân vật giao tiếp không đồng nhất […] Về mặt thông tin mà nói, giao tiếp là nhằm làm biến đổi tiền giả định bách khoa (quan yếu và không quan yếu) của từng người. Theo diễn tiến của cuộc giao tiếp, người này cung cấp cho người kia những lượng tin mới, điều chỉnh lượng tin cũ, làm tăng dần tiền giả định bách khoa chung so với lúc khởi đầu cuộc giao tiếp”[9]. Từ đây có thể thấy, các cuộc đối thoại trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp tuy vẫn đảm bảo các nguyên tắc về mặt hình thức. Nhưng thực tế, các nhân vật tham gia diễn ngôn thường không có những tiền giả định chung. Rốt cuộc, sự trật khớp, vênh lệch, rối lẫn giữa nội dung và hình thức giao tiếp tạo lên hiệu ứng thẩm mỹ hài hước.

Trong Những người thợ xẻ có đoạn đối thoại giữa Bường và Kháng sau khi Bường kể chuyện giết gấu: “Em trai ông Thuyết tên là Kháng ở Hà Nội lên chơi cũng ngồi uống rượu, hỏi đùa anh Bường: “Thế là bác làm việc thiện, việc nghĩa hoàn toàn chỉ do chán đời, có phải không?” Anh Bường vặn lại: “Thưa bác, bác hỏi em thế là hỏi thật hay hỏi xỏ?” Ông Kháng cười: “Tôi hỏi thật”. Anh Bường nghiêm nét mặt lại: “Em hỏi khí không phải, thế bác làm nghề nghiệp gì?”. Ông Kháng bảo: “Tôi dạy mĩ học ở dưới Hà Nội”. Anh Bường bảo: “Đấy cũng là nghề nghiệp hay sao? Theo tôi, khoa học về cái Đẹp là thứ hết sức vô hình, không có thực. Về thực chất, chuyên môn của bác là thứ bịp bợm. Hồi trước, tôi có đọc quyển sách của một tay Trecnôbưn nào đó (Anh Bường nhầm, thực ra đấy là N.G. Tsecnưsepxki), hắn nói: “Cái đẹp là cuộc sống”, điều ấy ẩn chứa một nụ cười lớn lao trong đó. Bác giảng dạy mĩ học, thế bác có nhận ra nụ cười ấy không?”. Ông Kháng bảo: “Xin lỗi, tôi không được trang bị kiến thức giống như của bác”. Anh Bường bảo: “Bác Kháng ạ, mời bác về bú tí mẹ””.

Tuy vậy lắng lại đằng sau những vênh lệch tạo bởi những mảng miếng cộng ghép vụng về, bất hòa ấy là những tấn bi kịch của con người do không thể bước qua giới hạn để hiểu nhau. Không khó để chỉ ra những dẫn chứng cho luận điểm này. Dễ dàng tìm gặp những cuộc giao tiếp không đến đích như vậy trong Tướng về hưu, Không có vua, Con gái thủy thần,… Chính âm hưởng bi kịch chiều sâu được đẩy lên bề mặt ngôn từ với tất cả sự sơ cứng đến tuyệt độ của hình thức đã phơi bày đầy đủ tấn bi kịch mất lời của con người. Âm hưởng hài hước gắn với sắc độ cay đắng dệt nên màu sắc uymua đen.

Cũng với dụng ý phá hủy ngôn ngữ nhằm diễn tả cái phi lí của trạng huống mất khả năng giao tiếp, bi kịch cô đơn, mất lời của con người, Nguyễn Huy Thiệp thường xuyên sử dụng xen kẽ với những lớp từ vựng dị biệt về phong cách nhằm tạo ra hiệu quả hài hước. Đây là lời ông Bổng trong Tướng về hưu :

“Thế là nơi này yêu nơi kia, người này yêu người kia. Tất cả đều là đất nước mình, nhân dân mình cả. Vậy thì đất nước muôn năm, nhân dân muôn năm! Hoan hô đèn cù”. (Tướng về hưu).

Ý niệm về đất nước, nhân dân trong kinh nghiệm của nhân vật được đặt cạnh những cố gắng bám đuổi cuộc giao tiếp với Thủy đã trật khấc ra những bất hòa đầy tính khôi hài. Tuy vậy, sự lệch kênh đã gợi lên đằng sau nó cảm giác tê tái bởi những khoảng trống vô hình mà cuộc giao tiếp để lại, mặc cho những dấu hiệu bề mặt tưởng chừng đã đạt được đích cuối cùng của nó.

Nhà văn đặt đồng thời nhiều điểm nhìn vào nhiều nhân vật dưới hình thức những phát ngôn đối thoại. Những tư tưởng liên tục cọ xát, xung đột và định giá lẫn nhau. Trạng huống bi kịch được nhìn từ điểm nhìn bên ngoài cho phép nhà văn tiến tới bình thường hóa những cái bất thường. Sự trật khấc những tư tưởng đẩy tình trạng bi kịch lên đến hài hước, nghịch dị, mang đến tiếng cười cay đắng, gợi nên xúc cảm về cái hài hước đen. Chúng ta có thể thấy phẩm chất thẩm mĩ đặc biệt này qua đoạn đối thoại sau:

“Sáng mồng ba, Kim Chi đi xích lô bế con về thăm. Vợ tôi mừng tuổi một nghìn. Cha tôi hỏi: “Thằng Tuân có thư từ gì không?” Kim Chi bảo: “Không”. Cha tôi bảo: “Lỗi ở bác đấy. Tao không biết mày có chửa”. Vợ tôi bảo: “Chuyện ấy là thường. Bây giờ làm gì còn có trinh nữ. Con làm ở bệnh viện sản, con biết”. Kim Chi ngượng. Tôi bảo: “Đừng nói thế, nhưng mà trinh nữ thì mệt thật”. Kim Chi khóc: “Anh ơi, đàn bà chúng em nhục lắm. Đẻ con gái ra em cứ nát ruột nát gan”. Vợ tôi bảo: “Tôi còn hai con gái cơ”. Tôi bảo: “Thế các người tưởng làm đàn ông thì không nhục à?” Cha tôi bảo: “Đàn ông thằng nào có tâm thì nhục. Tâm càng lớn, càng nhục”. Vợ tôi bảo: “Nhà mình nói năng như điên khùng cả. Thôi đi ăn. Hôm nay có cô Kim Chi, tôi đãi mỗi người một con gà hầm tâm sen. Tâm đấy. Ăn là trên hết” (Tướng về hưu).

Từ đoạn văn trích dẫn trên, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy bốn nhân vật, đi kèm với chúng là bốn tư tưởng khác nhau tham gia vào đối thoại. Nếu có sự đồng tình ít nhiều giữa các tư tưởng thì đó cũng chỉ là trạng thái lâm thời. Những phát ngôn của nhân vật là những điểm nhìn mang theo những hoàn cảnh, những trạng huống và quan niệm sống khác nhau mà chúng đại diện. Chúng tôi đặc biệt quan tâm tới nhân vật tướng Thuấn, người mang bi kịch tồn tại sâu sắc với sự mất giá lí tưởng đạo đức của cả một thế hệ mà ông mang trách nhiệm đại biểu. Tồn tại trong môi trường hoàn toàn xa lạ, tướng Thuấn mang tâm trạng “sao tôi cứ như lạc loài”. Phát ngôn của nhân vật, ở đây đã lột tả đầy đủ hiện trạng bi kịch ấy. Thế nhưng sự phản ứng lại của Thủy, con dâu ông, vốn là người đại diện cho quan niệm đạo đức khác biệt đã biến tấn bi kịch đầy đau xót của ông trở thành bình thường, hiển nhiên sau phát ngôn trật khớp mang đậm chất hài hước.

3. Kết luận

Hài hước đen với những biểu hiện đa dạng trên phương diện ngôn ngữ đối thoại ở truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp đã vượt qua ý nghĩa thủ pháp, biểu thị thái độ ứng xử mang tinh thần triết học của con người hiện đại trước những tấn bi kịch thân phận, lưu đày, cô đơn trong thế giới đổ vỡ đầy bất trắc, trong thời đại kỹ trị khủng hoảng niềm tin. Thẳm sâu dưới tiếng cười thấm đẫm bi kịch ấy, ta thấy một cái tôi lo lắng đầy tinh thần trách nhiệm và nhân bản dành cho con người trên hành trình nhọc lòng đi tìm ý nghĩa cho cuộc sống tốt đẹp hơn. Uymua đen với những biểu hiện trên phương diện ngôn ngữ đối thoại trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, như thế, là sản phẩm của một cảm quan nghệ thuật mới, thể hiện cách tân với những ý niệm nhân sinh độc đáo.



[1] Xem thêm : Phạm Xuân Nguyên (biên soạn), Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp, NXB Văn hóa thông tin, 2001

[2] Xem thêm : Nhiều tác giả, Văn học hậu hiện đại những vấn đề lý thuyết, NXB Hội nhà văn, 2003

[3] Đặng Anh Đào, Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001, Tr.393

[4] La Khắc Hòa, Những dấu hiệu của Chủ nghĩa Hậu hiện đại trong văn học Việt Nam qua sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài, www.vienvanhoc.org.vn

[5] Nhiều tác giả, Văn học hậu hiện đại những vấn đề lý thuyết, NXB Hội nhà văn, 2005, Tr.30

[6] Lê Huy Bắc, Tlđd, Tr.319

[7] Đỗ Hữu Châu, Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, NXB Giáo dục, tr.19

[8] Đỗ Hữu Châu, Tlđd, tr.15

[9] Đỗ Hữu Châu, Tlđd, tr.19

(Source: Khoa Ngữ văn - Đào tạo Cao học )
Tin khác:
  
  
  
  
  

Tin khác:
  
  
  
  
  
Hội thảo Cao học In Ấn  
HÀI HƯỚC ĐEN TRÊN PHƯƠNG DIỆN HỘI THOẠI TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN HUY THIỆP
Đinh Văn Thuần - CHK19


1. Đặt vấn đề

Trong vận động thẩm mĩ của văn xuôi Việt Nam sau 1975, truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp có một vị trí đặc biệt quan trọng[1]. Truyện ngắn của ông đóng góp quan trọng trong vận động cách tân theo khuynh hướng đa dạng hóa, hiện đại hóa thẩm mĩ của văn xuôi Việt Nam sau 1975. Từ những đổi mới nổi bật từ chiều sâu quan niệm nghệ thuật về cuộc đời và con người mang dấu ấn của cảm quan hậu hiện đại đến những biểu hiện thẩm mỹ hài độc đáo tạo thành nét đặc trưng riêng cho truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp.

Quan niệm hoài nghi “đại tự sự”[2] với việc chối bỏ những tín điều bất biến khiến biến cố hài trong truyện ngắn của nhà văn này chủ yếu tập trung ở phương diện hội thoại mang tinh thần giễu nhại. Cảm quan phi lí chi phối mạnh mẽ, tạo nên sắc thái hài hước đen trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp. Sắc thái hài hước đen trong truyện ngắn của nhà văn này biểu hiện nổi bật nhất trên phương diện ngôn ngữ. Những cuộc giao tiếp với sự sơ cứng đến hài hước ẩn chứa trong nó những tấn bi kịch mất lời của con người hiện đại dệt nên màu sắc hài hước đen. Trong bài viết này, chúng tôi hướng đến tiếp cận những biểu hiện thẩm mỹ độc đáo này của nhà văn từ phương diện ngôn ngữ hội thoại – một trong những phương diện đặc sắc nhất của truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp.

2. Phần nội dung

2.1. Hòa mình trong vận động cách tân của của văn xuôi Việt Nam sau 1975, Nguyễn Huy Thiệp đóng vai trò quan trọng trong xu hướng dân chủ hóa đời sống văn học. Bản chất của thể nghiệm này biểu hiện ở việc nhà văn không còn giữ quyền uy tối cao. Tác giả xác lập thế đứng ngang hàng với nhân vật và độc giả trên cùng một thang bậc giá trị.

Với quan niệm ấy, Nguyễn Huy Thiệp trong tác phẩm của mình rất ít miêu tả ngoại hình và nội tâm nhân vật. Con người hiện lên qua những trang văn trong hiện trạng mờ nhòa các đường viền lịch sử và số phận. Đây là một hướng khai phá mới của tác giả so với các nhà văn dòng ý thức. Cõi tâm tư thầm kín của nhân vật, dưới cái nhìn của người kể chuyện khách quan và bị tước bỏ quyền năng tuyệt đối, vì thế luôn tồn tại như những bí ẩn trước bạn đọc. Thế giới nhân vật của Nguyễn Huy Thiệp vì vậy ít suy nghĩ, trăn trở nhưng bù lại hành động rất mạnh mẽ và quyết liệt. Nhà nghiên cứu Đặng Anh Đào có một nhận định rất đáng lưu ý: “Nhân vật của Nguyễn Huy Thiệp giống như con khỉ chúa trong Muối của rừng, văng mình rất nhanh đến nỗi gần như không có phút nghỉ ở mỗi chặng dừng. Chúng giống như những hình nhân cắt bằng giấy gián trên đèn cù, không có bề dày của quá khứ, của thời gian (chỉ vẻn vẹn trong khoảnh khắc của hiện tại, chiều dài của truyện ngắn), không được bồi tiếp thêm về nội tâm (bởi nội tâm đã trút ra ngoài hành động). Họ đi lại, nhố nhăng, hành động”[3].

Cùng với hành động, ngôn ngữ là phương diện được Nguyễn Huy Thiệp đặc biệt quan tâm khi khắc họa nhân vật. Với giọng kể trung hòa, khách quan gần như tuyệt đối của người trần thuật, ngôn ngữ và giao tiếp luôn tạo lập nên những góc nghiêng với con người bên trong, thúc đẩy người đọc nhập cuộc, trải nghiệm, giải mã tư tưởng tác giả. Thế giới nhân vật của Nguyễn Huy Thiệp, bởi thế nghĩ ít mà nói nhiều. Độc giả có thể không nhớ nhân vật của nhà văn mang hình hài, dáng vẻ, suy nghĩ ra sao, nhưng trái lại, nhớ rất rõ chúng đã nói những gì. Ngay cả những nhân vật được xây dựng với cảm hứng bi kịch cũng không nằm ngoài đặc điểm mang tính quan niệm này.

Với nhãn quan dân chủ, phá bỏ những ngăn trở về khoảng cách và thứ bậc giá trị, nhà văn tiếp cận và khắc họa cuộc sống trong quan hệ suồng sã với quan niệm con người đa diện. Nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp không bao giờ “đơn trị”, thuần nhất một nét tính cách mà luôn lưỡng phân, đa diện dưới cái nhìn “tán sắc” của một “tọa độ soi ngắm” dân chủ đặt trên nền tảng bản thể tự nhiên con người. Cái nhìn và quan niệm ấy khiến con người trong sáng tác của nhà văn luôn dôi ra những phần dư thừa, không bao giờ ôm chứa hết trong những bộ áo mà xã hội mang khoác cho nó. Từ những bậc đế vương như Quang Trung, Nguyễn Ánh (Phẩm tiết, Kiếm sắc) cho đến những nhân vật khiếm khuyết như Bường (Những người thợ xẻ), anh giáo Triệu (Những bài học nông thôn), Cún (Cún), Lài (Tướng về hưu),... hiện lên trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp trước hết là những con người với cả những điều tốt đẹp bên cạnh những lầm lạc, xấu xa,...

Quan niệm sâu sắc về con người đa diện trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp là sản phẩm của một tư duy văn xuôi đổi mới. Dỡ bỏ khoảng cách sử thi, tiếp cận cuộc sống bằng quan hệ suồng sã, nhà văn đã tạo lập những khả năng, đường hướng mới trên hành trình truy tìm tận đáy sâu bản thể con người. Quan niệm ấy là cơ sở để Nguyễn Huy Thiệp thể nghiệm thẩm mĩ hài trong những sáng tạo của mình.

Tuy vậy vấn đề khác được đặt ra, phải chăng tiếng cười trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp chỉ đơn thuần là sự phản ứng lại với những tư duy văn học, ý thức thẩm mĩ ít nhiều đơn điệu và xơ cứng của văn học sử thi, góp cho một diện mạo văn xuôi mới trẻ trung, năng động và bớt trịnh trọng hơn? Hay cái hài trong sáng tác của nhà văn còn chịu sự quy định của một cảm quan nghệ thuật khác?

2.1.2. Dòng chảy xuyên suốt thể hiện quan niệm bao trùm thế giới nghệ thuật Nguyễn Huy Thiệp là: cuộc đời với những vòng xoáy bất tận của nó chỉ là phù du, vô nghĩa.

Thể hiện quan niệm này, Nguyễn Huy Thiệp trong sáng tác của mình quan tâm đặc biệt, dụng công khắc họa kiểu nhân vật ra đi, kiếm tìm. Tôi trong Chảy đi sông ơi “mặc kệ sách vở và những lời khuyên của mẹ”, cứ tối tối lại theo đám người đánh cá mòi ra sông. Chương trong Con gái thủy thần bỏ lại mẹ và em, “nhằm hướng mặt trời mọc mà đi” và cứ đi, đi mãi, mặc cho “hôm qua mưa. Hôm nay nắng đẹp. Ngày mai nắng”. Điểm chung trong mỗi cuộc ra đi ấy là những cố gắng vùng vẫy của nhân vật nhằm thoát khỏi hiện trạng bế tắc của đời sống. Họ ra đi mang theo những ham muốn và niềm tin vào một cuộc sống tốt đẹp ở ngày mai. Trong Giọt máu, ông cháu dắt díu nhau đi tìm thầy học chữ, những mong một ngày kia vinh hiển, “cờ tiến sĩ về tay” khiến thiên hạ phải nể phục cái đức của dòng họ. Bường trong Những người thợ xẻ hăm hở cùng con cháu, họ hàng lên tận chốn ma thiêng nước độc để “kéo cưa lừa xẻ”. Còn nữa rất nhiều những nhân vật mang tham vọng trong mỗi cuộc lên đường như vậy. Những tay thợ săn trong: Trái tim hổ, Con thú lớn nhất, Muối của rừng,...theo đuổi ham muốn hạ gục “con thú lớn nhất” của đời mình. Các bậc vua chúa tham gia “trò chơi đế vương” để mưu cầu quyền lực tuyệt đối. Những nhân vật trí thức như Ngọc (Những người thợ xẻ), Hiếu (Những bài học nông thôn),...lại ra đi tìm tri kỉ, tri âm, hay ý nghĩa cho cuộc sống tù túng.... Họ, mỗi người có những lí do khác nhau để ra đi, kiếm tìm, có thể vì ham hố trần tục, dục vọng lợi danh hay vì những khát vọng về một cuộc sống tinh thần giàu ý nghĩa. Nhưng rồi kết cục họ nhận được ở cuối mỗi hành trình đầy gian nan ấy chỉ là những thất bại thảm hại, những ê chề, nhục nhã. Trò chơi đế vương rốt cuộc cũng chỉ là trò của trời mà cả Quang Trung và Nguyễn Ánh cuối cùng đều sực tỉnh bởi “trò chơi nào chẳng vô công”(Phẩm tiết). Những tay súng cuối đời thức tỉnh, mình mới là “con thú lớn nhất”, biển không có thuỷ thần, mặt đất không có vua...

Trở về với chính mình sau những kết cục thảm hại ấy, con người tồn tại với tâm trạng hoài nghi, bất an và cô đơn trong một thế giới vô nghĩa. Hầu hết những nhân vật trong thế giới truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp đều cô đơn như vậy. Họ dường như không thể xác lập được mối dây liên hệ với đồng loại. Tướng Thuấn (Tướng về hưu) là nhân vật tiêu biểu cho quan niệm này của Nguyễn Huy Thiệp. Nhân vật phục viên, trở về hòa nhập với cuộc sống mới đầy lạ lẫm ngay giữa ngôi nhà và những người ruột thịt của ông. Hành trang sau mấy chục năm trốn nhà đi bộ đội trở về là những lí tưởng sống, quan niệm đạo đức của cả một thế hệ mà ông là đại biểu ưu tú. Nhưng giữa vô vàn những tiếng nói lạc điệu, lỗi nhịp, những phát ngôn nghiêm túc, những quan niệm đạo đức của ông bị cô lập đến thảm hại, biến ông trở thành kẻ xa lạ đáng thương ngay trong gia đình và xã hội. Tướng Thuấn bước ra khỏi môi trường ấy trong tư thế của kẻ chiến bại, gói ghém những phát ngôn lỗi bè của mình, ra đi... Trong truyện ngắn Tướng về hưu, không chỉ mình tướng Thuấn cô đơn, mà ngay cả Thuần, con người của cuộc sống hôm nay cũng không thoát khỏi bi kịch mất lời khi thấu hiểu nỗi cô đơn của kiếp người giữa sự vô nghĩa của cuộc đời: “Tôi thấy cô đơn quá. Các con tôi cũng cô đơn. Cả đám đánh bạc, cả cha tôi nữa”.

Thế giới nghệ thuật Nguyễn Huy Thiệp còn rất nhiều những nhân vật thất bại, cô đơn giữa dòng đời như vậy. Thắm (Chảy đi sông ơi) cô đơn giữa cuộc thế mà “con người vô tâm nhiều như cát bụi bên đường”. Sinh (Không có vua) cô đơn trong thế giới “không có vua”. Đăng (Tâm hồn mẹ) cô đơn trong mặc cảm mồ côi. Ngọc (Những người thợ xẻ) cô đơn trong tâm thế “chỉ một tôi thôi còn đâu là chúng nó”.... Đẩy mạch văn đi xa hơn, từ quan niệm con người cô đơn, Nguyễn Huy Thiệp tìm về với những kiếp người cô đơn ngay trong những khối rubich hào quang của lịch sử, huyền thoại. Nguyễn Trãi thức nhận sự vô nghĩa của “trật tự bầy đoàn” để rồi còn lại là một khối “cô đơn giữa dòng đời, như một hành tinh hoặc một ngọn gió” (Nguyễn Thị Lộ). Hồ Xuân Hương ngồn ngộn sức sống trong tâm thức dân gian, trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp lại hiện hữu trong bộ xô gai thân phận mà “nức nở khóc cho nỗi cô đơn mênh mang của cõi đời” (Chút thoáng Xuân Hương). Từ những bậc đế vương sống giữa đỉnh cao quyền lực, những “khối cô đơn khổng lồ”, đến những nghệ sĩ dân gian chân chính, không ai thoát khỏi nỗi cô đơn mênh mang giữa những xoáy hút đen bạc, “vụn vặt và vô nghĩa lí” của dòng đời, Trương Chi “chỉ có một mình. Ngày cũng một mình. Đêm cũng một mình”(Trương Chi)....

Như một vòng xoay khép kín, từ trong thất bại, cô đơn, con người trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp thức nhận càng sâu sắc sự hư ảo, vô nghĩa của cuộc đời. Tôi trong Chảy đi sông ơi, sau khi “hăm hở đuổi theo bao điều phù du”, chỉ còn biết “gào lên chua xót” mà nhận thấy “hiện giờ cuộc sống của tôi vô nghĩa xiết bao”. Ngọc trong Những người thợ xẻ thốt lên: “Tôi chỉ căm giận, căm giận những phù vân trong toàn bộ hoàn cảnh sống của thời đại tôi”. Đề Thám trong những phút yếu lòng nhất, người nhất, ý thức sâu sắc về những gánh nặng mà bổn phận đặt lên vai mình, nhân vật đã òa khóc, “ông khóc cho mình, cho tất cả những hữu hạn của chính mình, của mỗi người” (Mưa Nhã Nam). Nguyễn Huy Thiệp trong sáng tác của mình có những mạch thơ thể hiện đậm đặc cảm quan bao trùm ấy. Tất thảy đều hướng đến thể nghiệm quan niệm chi phối, xuyên suốt: “Cuộc sống của con người đầy bất trắc và vô nghĩa, họ sống như cún, như lão Hạ, như con giun, con dế, như con ong cái kiến...” (Cún).

Lã Nguyên đã có một nhận xét rất đáng chú ý : ““Cuộc đời vô nghĩa” là tứ truyện chi phối mạch vận động của câu chữ, hình ảnh trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp”[4]. Quan niệm cuộc đời vô nghĩa, con người cô đơn bao trùm và chi phối mạnh mẽ đến thế giới nghệ thuật Nguyễn Huy Thiệp trong đó có sự biểu hiện phạm trù cái hài. Chiều sâu ý thức nghệ thuật mang dấu hiệu cảm quan hậu hiện đại này khiến tiếng cười trong truyện ngắn của ông không còn là biểu hiện cho sự thắng lợi tuyệt đối của lí tưởng thẩm mĩ như cái hài truyền thống. Tiếng cười toát ra từ những vô nghĩa, phi lí của cuộc đời là biểu thị trạng huống thấu triệt, vượt thoát của chủ thể thẩm mĩ trước cuộc đời.

2.1.3. Thế giới trong quan niệm của Nguyễn Huy Thiệp tồn tại phân mảnh, rời rạc, hỗn độn, hậu quả của sự đổ vỡ những định chế và tín niệm có tham vọng bao trùm mọi quy luật tồn tại. Trước đây con người tồn tại, sống với niềm tin nguyên thủy vào những lí thuyết và kinh nghiệm mang tính quy luật có tham vọng ôm trùm, can thiệp vào mọi mối quan hệ và ý thức xã hội. Những định chế, “đại tự sự” là điểm tựa để con người xã hội lựa chọn cách ứng xử với tồn tại. Tuy nhiên, cùng sự phát triển vượt bậc của kĩ thuật, văn minh, con người hiện đại dần nhận chân sự bất lực, ảo tưởng của những tín điều ấy. Tâm trạng hoài nghi, lo âu xâm chiếm con người trong một thời đại kĩ trị đầy khủng hoảng và bất trắc. Những định chế, “đại tự sự” vì thế trở nên bất lực, tồn tại xơ cứng và khôi hài trước hiện sinh đời sống.

Thể hiện quan niệm này, Nguyễn Huy Thiệp đã xây dựng nhân vật theo nguyên tắc đối lập giữa “bộ áo” mà xã hội mang khoác với những biểu hiện mang bản chất bên trong của chúng. Những biểu hiện thực tế ấy luôn tạo độ vênh và lật tẩy những định chế mà ý thức xã hội đã tạo đặt cho nhân vật. Ở Sang sông, trên con đò vốn là một ẩn dụ của cuộc đời, nhà sư, tín đồ của đức Bồ Đề Lạt Ma, trước sức hút của món đồ cổ cũng “ngước mắt lên, trong ánh nhìn lóe lên một tia sáng thậm chí giống hệt dục vọng”; nhà thơ, nhà giáo với mớ lí thuyết cao siêu, huyền bí, bỗng chốc trở thành những người ngớ ngẩn, bất lực và khôi hài trước chú bé gặp nạn trong tay hai kẻ vô lại. Trong khi đó, một tướng cướp lại trở thành anh hùng khi quả quyết và dũng mãnh đập vỡ chiếc bình giải cứu đứa trẻ. Trong Không có vua, Đoài mang “mác” trí thức, làm việc ở bộ giáo dục nhưng lại là nhân cách tha hóa, suy đồi nhất. Nhân vật này chủ trương biểu quyết để bố chết. Trong khi đó, Khiêm là nhân viên lò mổ nhưng lại là người giữ bản lề phong hóa vốn tồn tại mong manh trong thế giới không có vua. Cùng quan niệm này, Nguyễn Huy Thiệp đặc biệt dụng công khắc họa hệ thống những nhân vật khuyết tật. Điều đáng bàn, ở đây, chính họ là những người cuối cùng mang giữ tình thương hoặc chân lí đời sống. Trong đối trọng với những bỉ ổi của “bọn có học” theo cách nói của tác giả, tất cả nhằm hướng tới thể hiện quan niệm về một mô hình thế giới mảnh vỡ, hỗn độn, phi trung tâm của Nguyễn Huy Thiệp.      Mang tinh thần hoài nghi tồn tại với những “đại tự sự” như thế, Nguyễn Huy Thiệp thể nghiệm bước đột phá trong nghệ thuật tổ chức kết cấu với ưu thế tuyệt đối của kiểu cốt truyện phân mảnh, lắp ghép. Cốt truyện truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp giờ đây chỉ như cái cớ cho sự tồn tại hình thức thể tài mà không còn ý nghĩa điểm tựa cho tư tưởng tác giả. Cùng quan niệm dân chủ thiên về xây dựng nhân vật hành động với ưu tiên  tối cao cho ngôn ngữ đối thoại được định vị từ điểm nhìn bên ngoài, khách quan khiến cho sự thể hiện cái hài trong truyện ngắn của ông trên phương diện cốt truyện, sự kiện là rất mờ nhạt. Biến cố gây cười vì vậy được thể hiện tập trung ở phương diện đối thoại mang tinh thần giễu nhại chủ yếu trên cấp độ phát ngôn.

2.1.4. Trong kĩ thuật nhại của Nguyễn Huy Thiệp, đáng kể nhất là việc nhà văn thường xuyên để cho các nhân vật đối thoại với nhau mà từ đó toát lên phẩm chất nhại. Nếu như văn học nhại gắn với cái hài truyền thống đứng trên những chuẩn mực của thực tại để lột tẩy và khai trừ những biểu hiện đã trở nên lỗi thời, lạc hậu thì ở trường hợp Nguyễn Huy Thiệp, nhà văn lại không tin vào những định hướng kiểu đó. Hài và nhại trong truyện ngắn của ông bởi vậy là một cố gắng để phản lại chính những nỗ lực khôi phục chân lí, trật tự qua những hình thức tự nhại bằng hành động viết. Nhà văn “giễu nhại chính bản thân mình bằng hành vi giễu nhại”[5]. Nhãn quan này chi phối việc tác giả xây dựng kiểu nhân vật người kể chuyện không đáng tin cậy mà nhiều công trình đã đề cập và chứng minh. Trong phép nhại, người kể chuyện liên tục di động điểm nhìn nhằm xóa bỏ mọi dấu vết của mình, mặc sức giễu nhại nhân vật nhưng rồi cuối cùng anh ta lại là nạn nhân của chính mình. Nhân vật người kể chuyện xưng “tôi” trong Mưa Nhã Nam, với giọng điệu thản nhiên, khinh bạc, đã giễu nhại người đọc, giễu nhại ý thức tôn thờ của mọi người với Đề Thám, giễu nhại Đề Thám, để rồi cuối cùng anh ta giễu nhại chính mình: “Hôm tôi ở Nhã Nam trời cũng mưa, nhưng là cơn mưa bóng mây, một thứ mưa xoàng”. Tự nhại còn được thể hiện đậm đặc trên cấp độ ngôn ngữ, như một sự chạy chốn, xóa bỏ những dấu vết tư tưởng của chính mình với một tinh thần hoài nghi triệt để.

Tự nhại với chiều sâu quan niệm như vậy khiến cho phép nhại và hài trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp chỉ với chủ đích đối chiếu hài hước giữa các hiện tượng khác nhau nhằm kiến tạo những độ vênh cần thiết cho tiếng cười toát lên. Cái hài trong thế giới nghệ thuật của nhà văn này, bởi thế, chủ yếu mang sắc thái hài hước. Lê Huy Bắc có lý khi chỉ ra hiệu ứng thẩm mỹ này trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp : “Đặc biệt là lối nhại của Nguyễn Huy Thiệp ít khi gắn với tiếng cười. Mà nếu có thì tiếng cười thực sự bi đát […]. Không có sự hả hê trong tiếng cười bởi những nhận xét cay nghiệt, chua xót trực tiếp trong đối thoại của hai nhân vật. Đây chính là phong cách nhại của Nguyễn Huy Thiệp”[6].

2.2. Kết cấu truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp chủ yếu dựa trên ngôn ngữ đối thoại của nhân vật. Tuy nhiên đối thoại, giao tiếp giữa các nhân vật trong truyện ngắn của ông phần lớn không nhằm hướng tới sự tương tác lẫn nhau qua những hành động nói. Trái lại, dường như những phát ngôn chỉ được đặt cạnh nhau dưới vỏ hình thức giao tiếp. Các nhân vật thường xuyên theo đuổi những dòng suy nghĩ, những tư tưởng riêng trong khi tham gia giao tiếp. Đối thoại trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp vì thế luôn tạo ra những trật khớp, bất hòa, lệch kênh giữa một phía là trạng thái lạc lõng của ý nghĩa tầng sâu với bề mặt cố tỏ ra ăn nhập.

Lý thuyết giao tiếp cho rằng một cuộc giao tiếp bao gồm các yếu tố : ngữ cảnh giao tiếp, ngôn ngữ và diễn ngôn. Trong đó, ngữ cảnh là những nhân tố có mặt trong cuộc giao tiếp, bao gồm nhân vật giao tiếp, hiện thực ngoài diễn ngôn. Diễn ngôn được hiểu là “tất cả những yếu tố vật chất, xã hội, văn hóa,... có tính cảm tính và những nội dung tinh thần tương ứng không được nói đến trong diễn ngôn của một cuộc giao tiếp”[7]. Trong khi đó, nhân vật giao tiếp được hiểu là “những người tham gia vào một cuộc giao tiếp bằng ngôn ngữ, dùng ngôn ngữ để tạo ra các lời nói, các diễn ngôn qua đó mà tác động vào nhau. Đó là những người tương tác bằng ngôn ngữ”[8]. Điều quan trọng nhất đối với một cuộc giao tiếp đó là hiện thực ngoài diễn ngôn phải được nhân vật giao tiếp ý thức. Khi đã trở thành hiểu biết của những người giao tiếp thì hiện thực ngoài diễn ngôn hợp thành tiền giả định bách khoa hay tiền giả định giao tiếp của diễn ngôn. “Một cuộc giao tiếp chỉ đạt hiệu quả khi các nhân vật giao tiếp có một lượng tiền giả định bách khoa chung nào đấy mặc dầu về chất lượng và số lượng tuyệt đối thì hiểu biết về hiện thực ngoài diễn ngôn của các nhân vật giao tiếp không đồng nhất […] Về mặt thông tin mà nói, giao tiếp là nhằm làm biến đổi tiền giả định bách khoa (quan yếu và không quan yếu) của từng người. Theo diễn tiến của cuộc giao tiếp, người này cung cấp cho người kia những lượng tin mới, điều chỉnh lượng tin cũ, làm tăng dần tiền giả định bách khoa chung so với lúc khởi đầu cuộc giao tiếp”[9]. Từ đây có thể thấy, các cuộc đối thoại trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp tuy vẫn đảm bảo các nguyên tắc về mặt hình thức. Nhưng thực tế, các nhân vật tham gia diễn ngôn thường không có những tiền giả định chung. Rốt cuộc, sự trật khớp, vênh lệch, rối lẫn giữa nội dung và hình thức giao tiếp tạo lên hiệu ứng thẩm mỹ hài hước.

Trong Những người thợ xẻ có đoạn đối thoại giữa Bường và Kháng sau khi Bường kể chuyện giết gấu: “Em trai ông Thuyết tên là Kháng ở Hà Nội lên chơi cũng ngồi uống rượu, hỏi đùa anh Bường: “Thế là bác làm việc thiện, việc nghĩa hoàn toàn chỉ do chán đời, có phải không?” Anh Bường vặn lại: “Thưa bác, bác hỏi em thế là hỏi thật hay hỏi xỏ?” Ông Kháng cười: “Tôi hỏi thật”. Anh Bường nghiêm nét mặt lại: “Em hỏi khí không phải, thế bác làm nghề nghiệp gì?”. Ông Kháng bảo: “Tôi dạy mĩ học ở dưới Hà Nội”. Anh Bường bảo: “Đấy cũng là nghề nghiệp hay sao? Theo tôi, khoa học về cái Đẹp là thứ hết sức vô hình, không có thực. Về thực chất, chuyên môn của bác là thứ bịp bợm. Hồi trước, tôi có đọc quyển sách của một tay Trecnôbưn nào đó (Anh Bường nhầm, thực ra đấy là N.G. Tsecnưsepxki), hắn nói: “Cái đẹp là cuộc sống”, điều ấy ẩn chứa một nụ cười lớn lao trong đó. Bác giảng dạy mĩ học, thế bác có nhận ra nụ cười ấy không?”. Ông Kháng bảo: “Xin lỗi, tôi không được trang bị kiến thức giống như của bác”. Anh Bường bảo: “Bác Kháng ạ, mời bác về bú tí mẹ””.

Tuy vậy lắng lại đằng sau những vênh lệch tạo bởi những mảng miếng cộng ghép vụng về, bất hòa ấy là những tấn bi kịch của con người do không thể bước qua giới hạn để hiểu nhau. Không khó để chỉ ra những dẫn chứng cho luận điểm này. Dễ dàng tìm gặp những cuộc giao tiếp không đến đích như vậy trong Tướng về hưu, Không có vua, Con gái thủy thần,… Chính âm hưởng bi kịch chiều sâu được đẩy lên bề mặt ngôn từ với tất cả sự sơ cứng đến tuyệt độ của hình thức đã phơi bày đầy đủ tấn bi kịch mất lời của con người. Âm hưởng hài hước gắn với sắc độ cay đắng dệt nên màu sắc uymua đen.

Cũng với dụng ý phá hủy ngôn ngữ nhằm diễn tả cái phi lí của trạng huống mất khả năng giao tiếp, bi kịch cô đơn, mất lời của con người, Nguyễn Huy Thiệp thường xuyên sử dụng xen kẽ với những lớp từ vựng dị biệt về phong cách nhằm tạo ra hiệu quả hài hước. Đây là lời ông Bổng trong Tướng về hưu :

“Thế là nơi này yêu nơi kia, người này yêu người kia. Tất cả đều là đất nước mình, nhân dân mình cả. Vậy thì đất nước muôn năm, nhân dân muôn năm! Hoan hô đèn cù”. (Tướng về hưu).

Ý niệm về đất nước, nhân dân trong kinh nghiệm của nhân vật được đặt cạnh những cố gắng bám đuổi cuộc giao tiếp với Thủy đã trật khấc ra những bất hòa đầy tính khôi hài. Tuy vậy, sự lệch kênh đã gợi lên đằng sau nó cảm giác tê tái bởi những khoảng trống vô hình mà cuộc giao tiếp để lại, mặc cho những dấu hiệu bề mặt tưởng chừng đã đạt được đích cuối cùng của nó.

Nhà văn đặt đồng thời nhiều điểm nhìn vào nhiều nhân vật dưới hình thức những phát ngôn đối thoại. Những tư tưởng liên tục cọ xát, xung đột và định giá lẫn nhau. Trạng huống bi kịch được nhìn từ điểm nhìn bên ngoài cho phép nhà văn tiến tới bình thường hóa những cái bất thường. Sự trật khấc những tư tưởng đẩy tình trạng bi kịch lên đến hài hước, nghịch dị, mang đến tiếng cười cay đắng, gợi nên xúc cảm về cái hài hước đen. Chúng ta có thể thấy phẩm chất thẩm mĩ đặc biệt này qua đoạn đối thoại sau:

“Sáng mồng ba, Kim Chi đi xích lô bế con về thăm. Vợ tôi mừng tuổi một nghìn. Cha tôi hỏi: “Thằng Tuân có thư từ gì không?” Kim Chi bảo: “Không”. Cha tôi bảo: “Lỗi ở bác đấy. Tao không biết mày có chửa”. Vợ tôi bảo: “Chuyện ấy là thường. Bây giờ làm gì còn có trinh nữ. Con làm ở bệnh viện sản, con biết”. Kim Chi ngượng. Tôi bảo: “Đừng nói thế, nhưng mà trinh nữ thì mệt thật”. Kim Chi khóc: “Anh ơi, đàn bà chúng em nhục lắm. Đẻ con gái ra em cứ nát ruột nát gan”. Vợ tôi bảo: “Tôi còn hai con gái cơ”. Tôi bảo: “Thế các người tưởng làm đàn ông thì không nhục à?” Cha tôi bảo: “Đàn ông thằng nào có tâm thì nhục. Tâm càng lớn, càng nhục”. Vợ tôi bảo: “Nhà mình nói năng như điên khùng cả. Thôi đi ăn. Hôm nay có cô Kim Chi, tôi đãi mỗi người một con gà hầm tâm sen. Tâm đấy. Ăn là trên hết” (Tướng về hưu).

Từ đoạn văn trích dẫn trên, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy bốn nhân vật, đi kèm với chúng là bốn tư tưởng khác nhau tham gia vào đối thoại. Nếu có sự đồng tình ít nhiều giữa các tư tưởng thì đó cũng chỉ là trạng thái lâm thời. Những phát ngôn của nhân vật là những điểm nhìn mang theo những hoàn cảnh, những trạng huống và quan niệm sống khác nhau mà chúng đại diện. Chúng tôi đặc biệt quan tâm tới nhân vật tướng Thuấn, người mang bi kịch tồn tại sâu sắc với sự mất giá lí tưởng đạo đức của cả một thế hệ mà ông mang trách nhiệm đại biểu. Tồn tại trong môi trường hoàn toàn xa lạ, tướng Thuấn mang tâm trạng “sao tôi cứ như lạc loài”. Phát ngôn của nhân vật, ở đây đã lột tả đầy đủ hiện trạng bi kịch ấy. Thế nhưng sự phản ứng lại của Thủy, con dâu ông, vốn là người đại diện cho quan niệm đạo đức khác biệt đã biến tấn bi kịch đầy đau xót của ông trở thành bình thường, hiển nhiên sau phát ngôn trật khớp mang đậm chất hài hước.

3. Kết luận

Hài hước đen với những biểu hiện đa dạng trên phương diện ngôn ngữ đối thoại ở truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp đã vượt qua ý nghĩa thủ pháp, biểu thị thái độ ứng xử mang tinh thần triết học của con người hiện đại trước những tấn bi kịch thân phận, lưu đày, cô đơn trong thế giới đổ vỡ đầy bất trắc, trong thời đại kỹ trị khủng hoảng niềm tin. Thẳm sâu dưới tiếng cười thấm đẫm bi kịch ấy, ta thấy một cái tôi lo lắng đầy tinh thần trách nhiệm và nhân bản dành cho con người trên hành trình nhọc lòng đi tìm ý nghĩa cho cuộc sống tốt đẹp hơn. Uymua đen với những biểu hiện trên phương diện ngôn ngữ đối thoại trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, như thế, là sản phẩm của một cảm quan nghệ thuật mới, thể hiện cách tân với những ý niệm nhân sinh độc đáo.



[1] Xem thêm : Phạm Xuân Nguyên (biên soạn), Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp, NXB Văn hóa thông tin, 2001

[2] Xem thêm : Nhiều tác giả, Văn học hậu hiện đại những vấn đề lý thuyết, NXB Hội nhà văn, 2003

[3] Đặng Anh Đào, Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001, Tr.393

[4] La Khắc Hòa, Những dấu hiệu của Chủ nghĩa Hậu hiện đại trong văn học Việt Nam qua sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài, www.vienvanhoc.org.vn

[5] Nhiều tác giả, Văn học hậu hiện đại những vấn đề lý thuyết, NXB Hội nhà văn, 2005, Tr.30

[6] Lê Huy Bắc, Tlđd, Tr.319

[7] Đỗ Hữu Châu, Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, NXB Giáo dục, tr.19

[8] Đỗ Hữu Châu, Tlđd, tr.15

[9] Đỗ Hữu Châu, Tlđd, tr.19

(Source: Khoa Ngữ văn - Đào tạo Cao học )
Tin khác:
  
  
  
  
  

Tin khác:
  
  
  
  
  
Tin tức - Sự kiện In Ấn  
Khoa Ngữ Văn - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Faculty of Philology, Hanoi National University of Education
Địa chỉ: Nhà B, 136 Xuân Thủy - Cầu Giấy - Hà Nội   Điện thoại: 04.7549076/04.7547424   Email: nguvan@hnue.edu.vn