Chế Độ:  
       Trang chủ     Diễn đàn     Gửi bài     Tìm kiếm      
SỐ LƯỢT TRUY CẬP
Hội thảo Cao học In Ấn  
Biểu tượng tiếng hát từ văn hóa đến văn học dân gian
Nguyễn Thị Hường CHK18 - Văn học dân gian


Con người trong cuộc đời luôn sống với hai thế giới. Một thế giới tồn tại khách quan bên ngoài con người. Nó là không gian sống- nơi con người tổ chức các hoạt động sinh tồn (ăn, mặc, ở, đi lại…). Loại thế giới này tồn tại hữu hình và khả tri. Còn một loại thế giới thứ hai vô hình, bất khả tri tồn tại trong tinh thần của con người. Thế giới này chỉ được nhận thức khi con người tìm ra cách để hữu hình hóa nó. Một khi hoạt động này thành công, chúng ta có biểu tượng.

I. Vài nét về khái niệm Biểu tượng

1. Khái niệm Biểu tượng:

             Baudelare có lần đã nói, con người sống trong một rừng biểu tượng. Điều đó có nghĩa, số lượng biểu tượng tồn tại trong đời sống là vô cùng lớn. Biểu tượng ra đời từ rất xa xưa, khi con người bước vào thuở bình minh lịch sử của mình bởi vậy nó “cổ xưa như ‎y‎ thức nhân loại vậy” (Lại Nguyên Ân). Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về “Biểu tượng”, tùy theo góc độ và phạm vi tiếp cận khác nhau:

            Theo tiến sĩ Nguyễn Thị Ngân Hoa, “biểu tượng (tiếng Anh: symbol; tiếng Pháp: Symbole) là một tín hiệu mà mối quan hệ giữa các mặt hình thức cảm tính  (tồn tại trong hiện thực khách quan hoặc trong tưởng tượng của con người: cái biểu trưng) và mặt ‎y ‎ nghĩa (cái được biểu trưng) mang tính lí do, tính tất yếu”. [4]

            PGS.TS Nguyễn Thị Bích Hà cũng có quan niệm riêng về biểu tượng: “Thuật ngữ biểu tượng bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “Symbolum” nghĩa là dấu hiệu nhận nhau. Nghĩa gốc của biểu tượng là một vật được chia làm hai nửa, mỗi bên giữ một nửa, khi khớp lại sẽ nhận ra mối quan hệ. Theo tiếng Hán Việt thì “Biểu” có nghĩa là dấu hiệu, sự bày tỏ, sự tỏ rõ, “tượng” có nghĩa là tình trạng, hình tượng. Do vậy, biểu tượng là một hình tượng nào đó được phô bày ra trong một dấu hiệu tượng trưng, nhằm diễn đạt một nghĩa hay một hiện tượng nào đó trừu tượng. Đúng như Chu Hy, nhà triết học đời Tống đã viết “Tượng là lấy hình này để tỏ ‎ kia”(..) Biểu tượng là một loại tín hiệu riêng, có chiều sâu và phong phú hơn tín hiệu. Giữa biểu tượng và cái được biểu tượng thường không có mối quan hệ phổ biến, liên tục. Nó chính là cái nhìn thấy được để dẫn ta đến cái không nhìn thấy được, nó là cái được cảm nhận cho ta liên hệ với cái đang còn mơ hồ, khó nắm bắt. Thời gian  và không gian làm cho tính biểu tượng bị mờ đi, khuất lấp nên phải biết chìa khóa (mã) mới khai mở được và hầu như không thể giải mã một lần mà xong [22; 3]

Trong các định nghĩa này, các tác giả dù nhấn mạnh mặt này hay mặt kia của biểu tượng song tổng hợp lại chúng sẽ cho ta một hình dung chung về khái niệm này. 

2. Một số đặc trưng của Biểu tượng

            Trong phần mở đầu cuốn “Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới”, Jean Chevalier đã nêu lên một số đặc trưng của biểu tượng như sau:

            Trước hết, tác giả phân biệt biểu tượng với dấu hiệu, kí hiệu đơn thuần. Theo ông, biểu tượng phong phú hơn, hiệu lực của nó vượt ra ngoài ‎ nghĩa, nó phụ thuộc vào cách giải thích và cách giải thích thì phụ thuộc vào một thiên hướng nào đó. Biểu tượng “gợi cảm và năng động”, có tính chất “ảnh-động lực” (Vừa thể hiện vừa tác động)

            Biểu tượng bao gồm hai mặt: Cái biểu trưng và cái được biểu trưng, vì vậy nó “chứa hai ‎y tưởng phân chia và tái hợp”. Ý nghĩa của biểu tượng bộc lộ ra trong cái vừa là gãy vỡ vừa là nối kết những phần của nó đã vỡ ra. Biểu tượng định hình thành một vế rõ ràng có thể nắm bắt được, gắn liền với vế khác không nắm bắt được.

            Từ đó, biểu tượng có một số đặc điểm cơ bản:

Thứ nhất: Biểu tượng “mãi mãi gợi cảm đến bất tận”. Giá trị của biểu tượng được xác định chính trong sự chuyển vượt từ cái đã biết sang cái chưa biết, từ cái đã diễn đạt sang cái khó tả nên lời. Nếu cái phần dấu kín một ngày nào đó lộ ra hết thì biểu tượng sẽ chết.

Thứ hai: Bên cạnh cái gợi cảm đến bất tận này, biểu tượng vẫn có tính ổn định trong sự ám thị về một mối quan hệ giữa cái biểu trưng và cái được biểu trưng. Một biểu tượng có khả năng gợi ra các chiều liên tưởng trong thực tại tinh thần của con người, các chiều hướng này có thể rất khác nhau, thậm chí trái ngược nhau. Tuy nhiên, mỗi người có thể tìm thấy trong biểu tượng những trải nghiệm tinh thần mang tính cá nhân nhưng vẫn không tách rời cái bản chất xã hội, có trung tâm tinh thần chi phối toàn bộ sự hoạt động của chúng. Đó là mối quan hệ thuộc về bản chất chứ không phải là một sự tưởng tượng hỗn loạn.

Thứ ba: Các biểu tượng có khả năng thâm nhập lẫn nhau

Thứ tư: Các biểu tượng luôn luôn đa chiều

II. “Tiếng hát”- trong đời sống văn hóa và sinh hoạt xã hội

            Như chúng ta đã biết, biểu tượng là một loại tín hiệu đặc biệt. Vậy những đối tượng nào trong đời sống có thể trở thành biểu tượng hay nói cách khác là mang giá trị biểu tượng?. Theo Jean Chevalier:“Lịch sử của biểu tượng xác nhận rằng mọi vật đều có thể mang giá trị biểu tượng, dù là vật tự nhiên (đá, kim loại, cây cối, hoa quả…) hay trừu tượng (Hình học, số học, con số, nhịp điệu, ‎ tưởng…)”. Cũng trong cuốn “Biểu tượng văn hóa thế giới”, sau khi bày tỏ ‎ kiến của mình, J. Chevalier trích dẫn câu nói của  Pierre Emmanuel: Ta có thể hiểu vật ở đây“không chỉ là một sinh thể hay một sự vật thực, mà cả một khuynh hướng, một hình ảnh ám ảnh, một giấc mơ, một hệ thống định đề được ưu tiên, một hệ thuật ngữ quen dùng…Tất cả những gì cố định năng lượng tâm thần hay huy động năng lượng ấy vì lợi ích riêng của mình đều nói với tôi về con người, bằng nhiều giọng, ở những cao độ khác nhau, dưới vô số hình thức và thông qua những vật trung gian khác nhau mà chú ‎y, tôi sẽ chú ‎ rằng chúng sẽ nối tiếp trong tâm trí tôi bằng con đường biến thái” [XXIV; 11]. Điều đó có nghĩa, ngay cả tiếng hát- thứ âm thanh vô hình, vô ảnh, được tiếp nhận bằng thính giác cùng những xung lực tinh thần cũng có thể trở thành một biểu tượng. Thực tế nghiên cứu cho chúng tôi thấy, Tiếng hát không chỉ giản đơn là một yếu tố của nghệ thuật mà cao hơn, nó còn lưu giữ những quan niệm lâu đời của nhân loại. Cùng với thời gian và sự tiếp biến văn hóa, biểu tượng Tiếng hát không ngừng gia tăng thêm nội hàm ‎ nghĩa. Tuy vậy, tựu trung lại, những ‎y nghĩa biểu trưng của Tiếng hát có thể quy về một số chủ điểm như sau:

            Ở buổi đầu tiên, con người tìm mọi cách để mô phỏng mọi biểu hiện của thế giới tự nhiên trong đó có âm thanh xuất phát từ nhu cầu giao tiếp, truyền đạt thông tin để sinh tồn. Chẳng hạn sau một buổi đi săn, họ muốn nói với đồng loại mình đã gặp con thú như thế nào, khi bị bắn nó phát ra âm thanh ra sao và kèm theo đó là động tác bắt chước cùng trường độ khác nhau của các đoạn âm thanh. Tương tự như thế, con người đã tập hú như động vật, hót như chim, tập phát ra những âm thanh giống tiếng gió thổi, lá suối chảy, sấm sét, mưa rơi vv…Dần dần, khi ngôn ngữ phát triển, họ có thể dung lời mà diễn tả được các “giai điệu” của thế giới xung quanh mình. Khi đó, âm nhạc nói chung, tiếng hát nói riêng ra đời. Những hạn chế của buổi đầu tiên trong lịch sử loài người không cho phép người nguyên thủy ghi lại âm thanh của tiếng hát nhưng những kết quả của ngành khảo cổ học có thể cho chúng ta những phỏng đoán về sự xuất hiện của nó. Trong thời đại văn hóa Đông Sơn (thời kỳ đồ đồng thau phát đạt- sơ kỳ đồ đá) phát triển khoảng giữa thiên niên kỷ thứ nhất trước công nguyên đến đầu công nguyên, người ta còn thấy chạm khắc trên các trống đồng, rìu đồng…nhiều hình người khoác áo lông chim đang nhảy múa hoặc nhảy múa có vũ trạng (Cầm khiên, giáo…) hoặc tay múa với bàn tay xoay ngoắt giống điệu  múa cổ tay của chèo. Ở địa điểm Đông Sơn (Thanh Hóa) còn tìm thấy tượng hai người cõng nhau, người được cõng thổi khèn, người cõng đang nhảy múa(428). Chắc chắn để giữ nhịp và điều phối các động tác đó phải có sự tham gia của âm nhạc và những lời ca “man rợ” ( Theo cách nói của Giáo sư Trần Quốc Vượng) của thời đại. Từ sự “bắt chước” này, con người nhận mối quan hệ giữa tiếng hát- âm nhạc với thế giới tự nhiên, với vũ trụ mà trong hình dung của họ là một thế giới đầy linh thiêng bí ẩn. Trước thiên nhiên đầy đe dọa, con người ở buổi đầu sinh ra tâm l‎y lo sợ cùng sự sùng bái tự nhiên. Trong mắt họ, “vạn vật hữu linh”, tất cả mọi vật tồn tại trong cuộc sống từ con gà, con trâu, con rắn đến hòn đá, dòng suối vv…đều chưa đựng linh hồn, đều ôm giữ những sức mạnh bí ẩn có thể ban phước hay giáng họa cho họ. Vì vậy, những âm thanh của chúng phát ra chính là những “lời thiêng”, là tín hiệu của đấng cao siêu gửi đến con người. Thêm nữa, cùng với sự tưởng tượng về các loại thế giới (Thượng giới, Âm phủ, Thủy phủ, Trần gian), con người cũng dần đặt ra quy ước về từng loại ngôn ngữ được sử dụng trong các thế giới ấy. Ở trần gian- thế giới tục lụy, họ giao tiếp với nhau cơ bản là bằng lời nói thông thường còn đối với các thế giới còn lại họ phải có một ngôn ngữ đặc biệt tương xứng với tính chất thiêng liêng của chúng. Đó chính là âm thanh: Tiếng trống, tiếng khèn, tiếng chiêng, tiếng đàn và một loại ngôn ngữ đặc biệt nữa là tiếng hát. Nếu chỉ dùng ngôn ngữ bình thường thì những đối tượng ở các thế giới khác sẽ không thể hiểu được. Từ đây, Tiếng hát trở thành biểu tượng cho một loại ngôn ngữ đặc biệt để con người giao tiếp với thần linh cũng như những đối tượng ở trong thế giới khác (Ví dụ: Những người thân đã chết vv…): “Hát ca là biểu tượng của diễn ngôn nối kết sức mạnh sáng tạo thế giới với vật tạo, chừng nào vật tạo ấy thừa nhận sự phụ thuộc của mình vào đấng sáng tạo, biểu lộ niềm vui, lòng ngưỡng mộ hay sự nguyện cầu. Đó là hơi thở của vật tạo hòa hợp với hơi thở của đấng sáng tạo” [918; 11]

            Hiểu được ‎nghĩa này chúng ta sẽ đi đến tận cùng bản chất của hình thức hát ca trong nghi lễ thờ cúng hay lễ hội.

Trong sinh hoạt gia đình có hàng loạt các hoạt động cầu cúng sử dụng Tiếng hát như một biểu tượng của mối giao cảm giữa con người với thần linh hay với người của thế giới khác. Rằm tháng bảy có y‎ nghĩa vô cùng quan trọng đối với người Kinh. Đây vừa là ngày lễ Vu Lan vừa là ngày xá tội vong nhân, cúng cấp, giải thoát cho những cô hồn lang thang không có người hương khói. Trong lễ cúng rằm tháng bảy, thầy cúng sẽ hát bài “Văn tế thập loại chúng sinh” để giải oan đồng thời mời cô hồn về hưởng bỏng gạo và chút cháo lá đa. Kèm theo lời hát của thầy cúng sẽ có những động tác ma thuật như tung bỏng gạo, quay thẻ hương hay hành động cướp cháo chúng sinh để cho trẻ còi cọc chóng lớn. Trong tang lễ của người Việt, bên cạnh tiếng khóc xót thương của gia đình người chết sẽ có một đội bát âm đến đánh trống, thổi kèn và ca những bài thể hiện nỗi nhớ thương, đau xót của con cháu đối với người đã quá cố. Vì người chết đã sang thế giới bên kia nên lời nói bình thường không thể trao gửi hết được những điều muốn nói mà cần phải có một thứ “ngôn ngữ” khác. Đó chính là những lời “khóc” bằng giai điệu có đệm nhạc cụ do những người biết cách thức thực hiện. Ở các vùng miền khác nhau trên đất nước ta cũng có các hình thức hát ca sử dụng trong tang ma như Hò đưa linh, Hát chay đàn, Mo Đẻ đất đẻ nước của người Mường, Tiếng hát cúng ma của người Mèo. Ở nhiều dân tộc thiểu số của Việt Nam tiếng hát tham gia vào mọi sinh hoạt của gia đình. Bất kì hoạt động hay sự kiện nào cũng có vai trò của tiếng hát: Hát mừng nhà mới, hát đám cưới, hát then dành cho trẻ con khó nuôi vv…

 Trong những sinh hoạt cộng đồng, khi cần cầu khấn thần linh một điều gì đó, con người cũng sử dụng lời hát như cần cầu bình an, được mùa, cầu mưa hay cầu tạnh đều có những bài ca riêng. Khi những tiếng hát này cất lên, con người cũng đồng thời gửi vào đó lòng tin về sự thấu hiểu, phù trợ của lực lượng siêu nhiên trong lao động và cuộc sống.

Tiếng hát như một biểu tượng của sự nối kết giữa thế giới người và thế giới thần linh còn được thể hiện rõ ở các lễ hội. Những bài hát trong các lễ hội mùa xuân của người Việt như hát xoan (Phú Thọ), hát ải lao (Hà Nội), hát dậm (Hà Nam), hát dô (Hà Tây)vv…vẫn được gọi là các bài hát tế thần. Chúng được tiến hành trong các đền thờ các nhân vật có công với đất nước như Tản Viên (Trị thủy), Thánh Dóng (Đánh giặc) hoặc các nhân vật lịch sử đã được thần thánh hóa như Xuân Dung, L‎y Thường Kiệt. Các nhân vật này đều được tôn làm thành hoàng và được lập đền thờ. Trong lễ hội Phủ Giầy hay lễ hội thờ Trần Hưng Đạo bao giờ cũng có diễn xướng chầu văn. Chỉ bằng cách lên đồng và hát lên những bài hát đã quy định thì các mẫu, các cô, các cậu mới trở về. Tiếng hát cất lên vừa có tính chất nối kết sợi dây cộng cảm của cộng đồng vừa là những “lời thiêng” gửi ước mơ của con người tới các đấng linh thiêng. Trong các lễ hội phồn thực của văn hóa nông nghiệp, tiếng hát có ‎ nghĩa như những lời phù chú làm cho các vật hèm trở nên linh ứng. Giờ phút thiêng liêng nhất của hội Trám (Tứ Xã- Phú Thọ) là vào giờ t‎y ngày 11 tháng giêng- thời điểm diễn ra lễ mật. Sau khi dâng sớ tế cáo trời đất, cụ già chủ tế sẽ bắt đầu lễ hát “đàn giằng xay”. Khúc hát này kết thúc cũng là lúc giờ thiêng đã điểm. Sau lấy Nõ Nường từ trong hộp ra, trao lại cho đôi nam nữ được dân làng chọn tham gia Lễ mật, người chủ tế bước ngang sang phải (bàn thờ) ba bước, quay lại, chếch hướng về đôi trò, miệng hô: “linh tinh tình phộc’’ đồng thời hai tay khoát lên tạo thanh hình chữ “V’’ trước trán. Lúc này, đèn nến tắt hết. Cụ chủ tế cứ tuần tự hô ba lần như vậy. Theo lệnh tuần tự của mỗi lần hô, đôi trò vừa múa (đứng tại chỗ, hai tay cầm vật “hèm’’ đưa sang đưa về) miệng hát:Bên kia có nứng cùng chăng/Bên này lủng lẳng như giằng cối xay. Hát xong hai câu này thì nữ cầm cái Nường đưa lên, nam cầm Nõ “phộc’’ vào và phải làm ba lần như thế. Lễ hội Trám kết thúc vào chiều 12 tháng giêng với trò diễn Tứ dân. Ở đây, người dân sẽ tiếp tục hát những bài hát đã được quy định mà toàn bộ phần lời đều có ngụ ‎y về hoạt động giao phối nam nữ. Những người tham gia lễ hội tin rằng chỉ có làm như thế mới có thể đem lại mùa màng tươi tốt, bội thu, con người và động vật khỏe mạnh, sinh nở nhiều.

Có thể nói, Tiếng hát tồn tại như một biểu tượng của sự giao tiếp giữa con người và thần linh có xuất hiện ở nhiều nơi trên thế giới. Chẳng vậy mà “Trong tiếng Gaulois (Gôloa) có từ cantalon chỉ thể tụng ca tôn giáo, từ này có họ hàng với từ cetal (Thần chú) trong tiếng Ailen, từ lecon trong tiếng  Bretagne và từ chant (ca hát) trong địa hạt Italia ngày nay” [ 918; 11 ].

Người phương Đông quan niệm “vạn vật nhất thể”, cái “tôi” của con người thực ra không phải là các “tôi” theo nghĩa một “vũ trụ riêng tư không lặp lại bao giờ” (Krapchenko) mà chỉ là “tiểu ngã” hòa nhập vào cái “đại ngã” của toàn thể vũ trụ. Cái để nối kết các tiểu vũ trụ ấy với nhau chính là âm thanh. Người xưa có câu chuyện ngửi văn mà đoán tính cách, nghe giọng nói, tiếng cười mà đoán hậu vận hay tính tình của người đó. Có điều đó vì “thanh  chính là sự tự biểu hiện của khí chất của mỗi người. Nói như  I. X. Lixêvich: “Người Trung Quốc cổ xưa quan sát các vì tinh tú trên trời không phải chỉ để hiểu bản thân chúng hay các quy luật vận hành của chúng mà là để hiểu được ‎‎y trời... Cũng giống như âm thanh, giọng nói của con người hay cách chơi đàn của người đó, theo người Trung Quốc, mang vô vàn thong tin về bản thân người đó, vì nó gắn liền với khí của người đó và thời điểm nó biến thành phong. Khúc ca của con người là phong của người đó, có điều đó là thứ phong có thể nghe được” [92; 2]. Những con người khác nhau trong cuộc đời sở dĩ có thể tìm đến nhau và trở thành tri âm tri kỉ chính là vì “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”. Tiếng hát, do vậy trở thành một sự tự biểu hiện. Có phải vì vậy mà trong dân gian vẫn lưu truyền quan niệm cô gái Ỷ Lan làng Thổ Lỗ vì đứng tựa gốc cây lan cất lên tiếng hát trong trẻo mà được làm nguyên phi triều Ly hay Đặng Thị Huệ nhờ tiếng hát mà trở thành bà chúa Chè. Những dẫn chứng này phần nào cho thấy trong quan niệm của dân gian, tiếng hát trở thành một biểu tượng của những tâm hồn đẹp, đáng được trân trọng. Chỉ những con người có tâm hồn đẹp mới có thể cất lên giọng hát hay làm mê đắm lòng người. Bởi vậy, không phải ngẫu nhiên mà trong vốn từ tiếng Việt, từ “Thanh sắc” để chỉ vẻ đẹp của người phụ nữ lại bao gồm hai yếu tố: Thanh (âm thanh- giọng nói, tiếng hát); Sắc (vẻ ngoài, sắc đẹp) và các triều đình phong kiến khi chọn mỹ nhân hay việc lựa chọn các cô gái cho những nghi lễ quan trọng của hội làng thường là những người có đủ cả hai yếu tố này.

Thêm nữa, Tiếng hát còn “là thanh nhạc thuần túy không đệm đàn. Trong quan hệ với âm nhạc- và đây là một quan niệm cổ truyền rất xa xưa- tiếng hát là khởi nguyên; khí nhạc, dù là nhạc tôn giáo, chỉ được coi là kĩ xảo [918; 11] trở thành âm thanh chân thực nhất của tâm hồn con người. Khi cất tiếng hát, con người huy động một cách vô thức tất cả những đặc điểm cá nhân độc đáo của mình để truyền vào lời ca những sáng tạo riêng. Thủy nguyên, giữa sáng tạo thơ và ca hát không tách rời nhau. Người nguyên thủy không thể quan niệm có một loại “thơ” đứng riêng tách rời với “hát”. Hát ca được coi là hình thức biểu hiện bình thường của thi nhân. Nhà thơ thần hiệp ở Ailen được gọi là Amorgen có nghĩa là Ra đời từ tiếng hát. Nhà thơ mù Home đi khắp các thành bang để hát về những chiến công của người anh hung Asin và Ô đi xê. Tiếng hát lúc này còn trở thành biểu tượng của năng lực tinh thần, của sự sáng tạo vừa có sức mạnh tự biểu hiện vừa có sức mạnh nối kết những tâm hồn đồng điệu. Vì tiếng hát là biểu tượng của sự sáng tạo nguyên thủy cho nên trong sự phân thứ bậc của xã hội xưa “Những nhạc công chơi thụ cầm thuộc đẳng cấp con người tự do, nuôi gia súc chứ không phải là thành viên của đẳng cấp giáo chức như những thi nhân” [918; 11 ].

            Như vậy, Tiếng hát không chỉ đơn thuần có ‎ nghĩa về mặt nghệ thuật. Theo dòng chảy của cuộc sống, nó đã trầm tích vào mình rất nhiều quan niệm và trở thành một biểu tượng với nhiều ‎‎y nghĩa thú vị. Biểu tượng này từ văn hóa đã đi vào văn học dân gian một cách tự nhiên, xuất hiện ở rất nhiều các thể loại.

III. Biểu tượng Tiếng hát trong văn học dân gian Việt Nam

            Trong giới hạn khảo sát của mình chúng tôi nhận thấy Tiếng hát xuất hiện rất nhiều lần trong các tác phẩm thuộc các thể loại văn học dân gian khác nhau. Song điều đó không có nghĩa tần số xuất hiện là như nhau giữa các thể loại và giữa các vùng miền. Sơ bộ, chúng tôi xin đưa ra vài nhận xét có tính chất bước đầu như sau:

            - Tiếng hát xuất hiện với tư cách một biểu tượng tập trung nhiều nhất ở truyện cổ tích. Truyền thuyết xuất hiện ít hơn, tuyển tập thần thoại chúng tôi có trong tay không thấy xuất hiện.

            - Trong tương quan giữa văn học dân gian của dân tộc Kinh với văn học dân gian các dân tộc thiểu số ở Việt Nam thì biểu tượng Tiếng hát xuất hiện chủ yếu ở văn học dân gian các dân tộc ít người.

            Những biểu hiện trên không phải là ngẫu nhiên vô căn cứ nhưng việc lí giải các lí do không phải là mục đích của bài viết này. Mục đích quan trọng của chúng tôi là tìm hiểu những ‎y nghĩa khác nhau của biểu tượng Tiếng hát trong văn học dân gian Việt Nam, cụ thể là trong truyện kể dân gian.

 1. Tiếng hát biểu tượng cho “diễn ngôn” nối kết con người và đấng siêu nhiên           

            Như trên đã nói, con người muốn giao tiếp với thần linh để cầu xin điều gì thì không thể dung thứ ngôn ngữ trần tục mà phải có “lời thiêng” để khấn nguyện. Một trong những hình thức của lời thiêng chính là tiếng hát. Trong truyện dân gian Việt Nam, tiếng hát xuất hiện với tư cách này có thể tìm thấy trong các chuyện cổ như Sự tích hai đứa bé trên cung trăng, Bơ Tin Chung, Đứa trẻ mồ côi. Tiếng hát trong những bài hát này giống như những lời phù chú mà nhân vật bắt buộc phải làm nếu muốn thực hiện một điều gì đó. Làm đúng theo những tiếng hát phù chú cùng các quy định của nó thì nhân vật đạt được mục đích. Ngược lại, nếu vi phạm điều cấm kị thì kết quả của hành động sẽ không trọn vẹn.

Hai anh em trong Hai đứa trẻ mồ côi để có một ruộng lúa tốt ở bên hai sông. Hàng ngày chúng được một con cá to đưa sang để cắt lúa mang về. Một lần, dân làng độc ác đã bắt cá làm thịt khiến cho hai đứa trẻ không có cách gì qua sông mang những lọn lúa cuối cùng về. Có một con nhện đồng y ‎ đưa hai em qua sông với điều kiện cho nó được giăng tơ khắp nhà và khi đi qua sông hai em chỉ được hát chứ không được cười. Hai đứa bé nghe lời và bắt đầu cất lên lời hát mà nhện bắt buộc:

Rập rình rập rình

Có con nhện xinh

Chăng sợi tơ trắng

Để chúng mình qua sông

Tuy nhiên, khi gần đến bờ bên kia, hai anh em không nhịn được bật cười. Thế là tơ nhện đứt và hai anh em rơi xuống nước. May mà nước gần bờ nên hai anh em không chết, chỉ ướt hết quần áo.

Truyện Bơ Tin Chung cũng có mô típ tương tự. Vì A Hếnh nói dối nên vợ chàng là Bơ Tin Chung bỏ đi. Chàng mang đứa con nhỏ đi tìm vợ. Đến một khúc sông sâu, chàng thấy vợ đang kín nước bên bờ kia mà không sao sang sông được. Có con Rịn Ràng đồng ‎y đưa bố con qua sông nhưng với điều kiện khi qua sông không được nói cười, chỉ yên lặng để Rịn Ràng hát lời ca kì diệu:

                           Rịn Ràng! Rịn Ràng! Réo réo

Rịn Ràng! Rịn Ràng! Réo réo.

Chỉ bằng cách hát lên lời ca này và tuân thủ theo mọi cấm kị của nó hai bố con mới có thể qua sông an toàn nhưng tới gần tới bờ không chịu được nữa, A Hếnh bật ra tiếng cười làm tơ nhện đứt hết. Hai bố con rơi xuống sông bị ướt quần áo, may mà không chết.

            Ở truyện Sự tích hai đứa trẻ cung trăng lời ca ma thuật được dùng để gọi con lợn thần có khả năng bắt tôm cá ngoài biền. Con lợn này chính là con cá nhụt mà hai anh em bắt được hóa thành. Cũng giống như chỉ có một lời gọi riêng mà cô Tấm mới gọi được Bống lên, ở đây muốn gọi heo từ biển về mỗi chiều, hai anh em đều phải hát một bài hát cố định:

Ơ heo ơ

Ta cho heo ăn cám, ăn cám

Ơ heo ơi

Ta cho heo ăn cám thật ngon

Với cơm gạo trắng đem trộn muối ngon.

Con nhện, con Rịn Ràng hay con heo đều là các con vật thuộc thế giới thiêng, có khả năng kì diệu giúp con người thực hiện những điều ước mà chỉ bản thân họ thôi thì khó có thể làm được. Bởi vậy, đi kèm với sự giúp đỡ của chúng bao giờ cũng phải có những lời hát đặc biệt để truyền đạt những mong muốn của con người trần tục tới thế giới kì diệu. Chính vì vậy, chúng tôi cho rằng các lời hát, tiếng hát trong các truyện này chính là biểu tượng cho một hình thức giao tiếp đặc biệt giữa con người bé nhỏ, trần tục với các đấng linh thiêng.

2. Tiếng hát biểu tượng cho sức mạnh tiêu diệt cái ác, cái xấu

Trong Khắp Thái cũng có những lời ca ca ngợi tiếng hát tuyệt diệu như một vật báu có những phép biến hóa thần kỳ, có ma lực ghê gớm:

Tiếng hát vào núi đá thành vôi

Hát vào suối cạn dâng thành sông Đà

Hát cùng chài gấp nên tấm lụa

Hát cùng rau non lớn vụt thành sen

Hát cùng chồng người bỏ vợ quên tình

Hát cùng đầu bạc xanh lại thành gái

Tuy nhiên, chỉ trong tự sự dân gian, Tiếng hát mới được đề cập đến như một biểu tượng của sức mạnh tiễu trừ cái ác, cái xấu. Đó là những truyện lấy hình tượng Tiếng hát làm cơ sở cho sự phát triển của kết cấu truyện như Tiếng hát của người đá, Câu chuyện về tiếng hát, Bà chúa thơ ca, Sông Bằng êm sóng và truyền thuyết Truyện nàng hát hay làm quay muôn giáo. Ở những truyện này, ma lực ghê gớm của tiếng hát luôn được gắn cho một người con gái nhỏ bé xinh đẹp. Cô có giọng hát hay kì lạ có khả năng thôi miên vạn vật. Đặc biệt, tiếng hát này còn có sức mạnh tiễu trữ cái xấu, cái ác như tiêu diệt quân xâm lược, giết chúa đất độc ác bảo vệ cuộc sống yên ấm cho dân làng. Một mặt, y‎ nghĩa này thể hiện ‎ thức của nhân dân ta về sức mạnh to lớn của nghệ thuật; mặt khác nó cũng chính là một hình thức thể hiện giấc mơ công l‎y thiện thắng ác, chính nghĩa thắng gian tà. 

Có thể điểm qua các truyện như sau:

Truyện nàng hát hay làm quay muôn giáo kể về thuở giặc Tần, Hán gọi ta là man rợ, man di thì ở lộ ta có một người con gái đẹp lắm và ca hát hay lắm. Nàng hát ở Hội vật võ làm say mê  muôn người. Truyền rằng khi nàng cất tiếng hát thì chim khắp nơi bay về đậu quanh hội vật. Nàng hát làm tắt nắng, tanh mưa, im sóng, lặng gió, làm xao xuyến muôn loài, làm trăng chao đảo, làm sao vật vờ, làm người sắp chết sống lại, làm trai gái mê mệt nắm cổ tay nhau. Nàng có thể hát đêm này qua đêm khác, ngày này qua ngày khác. Các đạo, các lộ đều nghe thấy, vì rằng không riêng miệng nàng hát mà cả mái tóc dài mượt như nhung, sực nức mùi thơm của nàng, mỗi sợi đều cất lên âm thanh tuyệt vời hòa theo.

            Nàng theo quan tướng ra đánh trận. Nàng hát làm giặc ngẩn ngơ, bàng hoàng buông gươm hang phục hoặc quay giáo chạy dài. Nhưng cứ mỗi lần như thế, chúng rút về đến bên kia biên giới thì hết cơn mê mệt, chúng lạ hung hăng ào sang. Tiếng hát và sắc đẹp của nàng lại làm chúng mê mệt bàng hoàng thua chạy. Cứ thế, chúng thua chạy rồi chúng lại sang, sag rồi lại tơi tả chạy về. Mãi không làm gì được ta, chúng phải xin hòa hiếu và đòi ta phải cho chúng mái tóc kì diệu của nàng. Để tránh nạn can qua cho hai nước, nàng bèn cắt một nửa mái tóc sai sứ đem qua cho chúng.

            Ham sắc, hám tài, ngây ngất về mùi thơm,chúng tranh nhau nắm tóc, ngoạm lấy nắm tóc mà giữ phần. Thằng bị tóc vướng vào răng thì răng thành răng nanh, mọc thò ra khỏi miệng. Thằng tóc móc vào miệng thì nói ồm ồm như chó cắn ma. Thằng tóc vướng vào lưỡi thì lưỡi toàn nói ra những điều hiểm độc. Thấy không đẹp lên, không tài ra mà chỉ xấu đi, ngu độn đi, chúng tức sùi bọt mép,nhưng cũng chẳng làm gì được ta nên chúng chỉ ngấp nghé từ bên nước chúng nhìn sang. Hình ảnh người thiếu nữ xinh đẹp tuyệt trần,  cưỡi ngựa trắng, mái tóc đen láy bay ngang trời với trăm ngàn giọng hát…làm chúng rã rời ‎ y chí.

Câu chuyện về tiếng hát (Dân tộc Xá) kể về cô bé Pen, cô có một tiếng hát có thể làm dịu đi nỗi mệt nhọc của công việc chồng chất ngày đêm  trên vai cô.Tiếng hát làm cối xay ngô quay nhanh hơn,làm bếp lửa nhà sàn bập bùng lắng nghe, làm con cọp rình mò quanh xóm quên cả bắt trộm trâu bò, đờ đẫn trở về rừng. Mỗi khi cô lên nương thì tiếng hát của cô làm cho cỏ cây như vươn dậy để lắng nghe, lúa ngô lên nhanh như gió thổi, cỏ dại thì vươn mình ra cho cô hái bỏ vào hố rồi lấp kín. Muông thú bảo nhau đừng phá phách ruộng nương.

            Trong truyện Bà chúa thơ ca, cô bé Làu Slam hát hay được tôn là bà Chúa thơ ca.Sáng sớm Làu Slam lên nương hát thì ngô, lúa đang rì rào cũng phải im ắng nghe. Chiều chiều xuống suối xúc tôm, cá thì lời hát của Làu Slam làm cho tôm, cá chẳng muốn bơi nhảy. Số bài hát nàng làm ra nhiều hơn lá trê rừng.

Sông Bằng êm sóng (Thái)  kể cho ta nghe về cô gái nghèo với tiếng hát du dương, thiết tha làm mặt sông gợn sóng, cây cối rung cành, quân lính mê mẩn, đã giết được tên Châu Ún tham lam, nhấn chìm xuống dòng sông Bằng êm sóng.

Tiếng hát của người đá kể về cô bé Nai Ngọc có giọng hát tuyệt hay. Tiếng hát của em vang khắp nương rẫy núi rừng, lôi cuốn như hoa thơm quyến rũ ong vàng, bướm trắng. Tiếng hát này đã cứu dân làng khỏi nạn động rừng bởi nghe tiếng hát lạ lùng ấy, từng đàn chim công, chim sẻs, từng đàn hươu sao, lợn lòi…tất cả đều quên chuyện phá lúa. Chúng gật đầu, xòe cánh, đập đập móng…và bắt đầu múa nhảy nhịp nhàng. Tiếng hát khoan thai, chúng nhảy chậm, tiếng hát dồn dập, chúng nhảy nhanh; tiếng hát dìu dặt, chúng lim dim, mắt gật gù như người choáng hơi mem. Tiếng hát của em khiến mọi người làm việc không biết mệt mỏi, tiêu tan mọi sự buồn nản khiến cho nương đầy lúa, rẫy đầy bông, rừng núi đầy hoa nở. Tiếng hát ấy còn có sức mạnh đánh đuổi quân xâm lược. Khi thấy quân giặc tràn đến núi rừng, chứng kiến cảnh đầu rơi máu chảy, em từ từ lùi lại, trèo lên một mỏm đồi và bỗng nhiên cất tiếng hát trầm bổng, ngân nga. Lúc đầu tiếng hát còn chìm trong tiếng sắt thép va chạm nhau, nhưng dần dà sắt thép chìm đi hết, nhường chỗ cho tiếng hát. Tiếng hát của Nai Ngọc kêu gọi những kẻ xâm lược chớ có đi ăn cướp, hãy trở về làng để nhìn mặt vợ, mặt con, hãy trở về làng cũng với vợ con đi hái rau ngọt, đi cắt lúa vàng, tối tối ngủ bên lửa ấm, sáng thức dậy theo mặt trời. Nghe giọng hát như gió mát, quân địch ngừng tay kiếm đứng đờ người ra, như nuốt lấy từng lời ca, binh khí tuột khỏi tay rơi xuống đất lúc nào không biết. Rồi từ từ chúng ngã xuống, ngủ say như chết dưới chân những đàn voi, đàn ngựa…Nhờ có tiếng hát của em, dân làng được sống những ngày ấm no, hạnh phúc.

Những câu chuyện này gơi nhắc ta nhớ đến những câu chuyện khác ở vùng Đông Nam Á và trên thế giới cũng mô tả sức mạnh của tiếng hát, như Duyên tiên (Dân tộc Hán), Nàng tiên cá (Dân tộc Cor), chàng Ta Luông (Dân tộc Dao), Nàng tiên ca trong truyện cổ dân gian Châu Âu với Tiếng hát  mê ly cùng tình yêu bất diệt,  nàng tiên cá trong truyện cổ Andecxen.

Tiếng hát, với ‎y nghĩa là biểu tượng của sức mạnh diệu kỳ diệt trừ cái ác, cái xấu phải chăng còn cho thấy khát vọng hòa bình, không thích đổ máu trong các cuộc chiến tranh của nhân dân ta? Có lẽ ‎y nghĩa này ra đời khá muộn chứ không phải là lớp ‎y nghĩa nguyên thủy.

4. Tiếng hát là biểu tượng của mối quan hệ giữa con người và nghệ thuật với cuộc sống lao động của nhân dân

Chúng tôi nhận thấy thuộc loại này có hai kiểu kết cấu:

Loại kết cấu thứ nhất, Tiếng hát không tham gia vào chi phối toàn bộ câu chuyện mà chỉ xuất hiện ở phần đầu. Ở đây, tiếng hát đóng vai trò dẫn dụ những chàng trai hay cô gái dưới thủy cung lên trần thế sống và kết hôn với những con người nơi đây. Truyền thuyết Vua bà kể về câu chuyện tiếng hát của Nhữ Nương cất lên khi lam làm nơi đầu sông cuối bãi đã làm cho chàng con út vua thủy tề say mê tới mức phải trốn cha lên hát chín đêm với nàng. Cuối cùng hai người trở thành vợ chồng và sống hạnh phúc mãi mãi. Nhữ Nương trở được dân phong làm vua bà, được coi là thủy tổ của hát Quan họ.

            Chiếc sáo thần kỳ nói về cô gái con vua thủy tề vì thấy trên trần gian có nhiều người đánh đàn, ca hát hay nên đêm nào cũng trốn lên trần gian chơi. Hễ nghe gà gáy sang là lại trở về lòng đất. Sau đó nàng kết hôn với chàng Hơ Rít thổi sáo giỏi để có thể suốt ngày ca hát với người trần gian.

            Kết thúc của những câu chuyện theo kiểu này bao giờ cũng có hậu, chàng trai và cô gái sống hạnh phúc suốt đời. Chính tiếng hát của dương gian đã giữ chân những con người ở một thế giới khác. Điều này không chỉ thể hiện những nhận thức về vai trò của nghệ thuật của nhân dân ta mà sâu xa hơn, nó còn cho thấy tình cảm gắn bó với cuộc sống trần tục. Cũng như Từ Thức dù được sống sung sướng nơi tiên cảnh vẫn không nguôi một tấm lòng trần, ở các câu chuyện này, tác giả dân gian đã cho ta thấy một nhân sinh quan tiến bộ và lành mạnh. Tiếng hát, do vậy chính là biểu tượng cho sự gắn bó của con người và nghệ thuật với cuộc sống lao động của nhân dân. Chỉ khi mối quan hệ này được thiết lập thì con người mới có thể sống hạnh phúc và nghệ thuật mới có thể thăng hoa để ngân nga muôn đời nơi dân chúng.

            Ngược lại, nếu xa rời cuộc sống lao động của nhân dân thì con người và nghệ thuật sẽ chết. Trương Chi và Hà Ô Lôi giống như hai tiếng chuông cảnh tỉnh về điều này.

            Trương Chi có giọng hát rất hay, tiếng hát của chàng bay vào dinh quan Tể tướng làm cho con gái quan tương tư quên ăn biếng ngủ. Nhưng công chúa chỉ yêu tiếng hát mà không yêu người. Thấy hình dáng xấu xí của Trương Chi, nàng đã đuổi chàng ra khỏi dinh quan. Uất ức và tương tư, chàng Trương chết, tiếng hát nhập vào cây bạch đàn tạo thành một khối đỏ không tan. Cái chết của Trương Chi do chính chàng gây ra bởi chàng đã khước từ nguồn cội nghệ thuật của mình. Công chúa cũng như nơi cao sang quyền quy không thể hòa điệu với những tâm hồn và cuộc sống lao động của nhân dân.

Hà Ô Lôi có giọng hát rất hay. Chàng đem tiếng hát của mình để mua vui nơi quyền qu‎y, mua vui cho các bà các cô. Cuối cùng chàng bị đánh chết bởi đã đem tiếng hát ấy đi dụ dỗ những cô gái đẹp con quan. Cái chết của Hà Ô Lôi phản ánh bi kịch của người nghệ sĩ dân gian đã tiêm nhiễm phải thói ích kỉ chốn xa hoa, xa rời cuộc sống lao động của nhân dân. Theo quan niệm của dân gian, tiếng hát làm cho cuộc sống lao động trở nên đẹp đẽ và đáng qu‎‎y. Vậy tiếng hát tách rời lao động, tách rời cuộc sống của Hà Ô Lôi đã bị dân gian xa lạ và cuối cùng vẫn bị giai cấp qu‎y tộc bóc lột, rẻ rúng và ngược đãi, hủy hoại.

Một điều có thể khẳng định là trong tương quan các ‎y nghĩa trên của biểu tượng Tiếng hát, lớp ‎y nghĩa này ra đời muộn nhất. Nó đã nói được nhiều vấn đề của thời đại. Những vấn đề này cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị.

*          *

                                                     *

Như vậy, trong cuộc sống đầy khó khăn vất vả của mình, nhân dân không những sáng tạo ra biết bao lời ca, tiếng hát để thể hiện tâm tư cảm xúc của mình mà còn sáng tác về bản thân những tiếng hát ấy. Tiếng hát trong văn hóa và văn học dân gian đã trở thành một biểu tượng độc đáo, trong đó các tác giả vô danh gửi gắm biết bao tầng bậc ‎y nghĩa. Những lớp y‎ nghĩa của biểu tượng này có sự tiếp biến, bồi đắp thêm qua các chặng đường lịch sử khác nhau. Bóc tách được từng chặng đường lịch sử là một điều khó bởi không thể xác định chính xác thời điểm ra đời cụ thể của một tác phẩm văn học dân gian. Bởi vậy sự trình bày thứ tự trước sau của các lớp ‎y nghĩa trên chỉ có tính chất tương đối. Tìm hiểu biểu tượng Tiếng hát, chúng tôi muốn làm rõ mối quan hệ giữa văn hóa và văn học dân gian. Đồng thời tìm hiểu một kiểu sáng tác về tiếng hát trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam. Những ‎ mặt ‎ y nghĩa của biểu tượng này trong văn học dân gian vừa có sự kế thừa ở văn hóa vừa có sự bổ sung, sáng tạo riêng. Thiết nghĩ đây là con đường đi chung từ mẫu gốc đến các sáng tác nghệ thuật.

 

THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.Phạm Đức Dương. Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh văn hóa Đông Nam Á.

2. Nguyễn Bích  Hà. Thạch Sanh và kiểu truyện dũng sĩ trong truyện cổ Việt Nam và Đông Nam Á. NXB Giáo dục. Hà Nội.1998. 276 trang.

3. Nguyễn Thị Bích Hà. Nghiên cứu văn học dân gian từ mã văn hóa dân gian. Bài giảng sau đại học. Hà Nội.2007.

4. Nguyễn Thị Ngân Hoa. Tìm hiểu những nhân tố tác động tới quá trình biến đổi ‎ nghĩa của biểu tượng trong ngôn ngữ nghệ thuật. Tài liệu đánh máy.

5. Vũ Ngọc Phan. Tục ngữ- ca dao- dân ca Việt Nam. Nxb Văn học. Hà Nội. 2007.

6. Hoàng Phê (Cb). Từ điển tiếng Việt. Nxb Đà Nẵng-Trung tâm từ điên học Hà Nội. Đà Nẵng.2002.

7. Lê Chí Quế (Cb), Võ Quang Nhơn, Nguyễn Hùng Vĩ. Văn học dân gian Việt Nam. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. Hà Nội. 2001

8. Trần Quốc Vượng. Văn hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm. Nxb Văn hóa dân tộc- Tạp chí văn hóa nghệ thuật. Hà Nội. 2000.

9. Viện Văn học. Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam, tập1, 2, 3. Nxb Giáo dục. Hà Nội. 1999.

10. Viện nghiên cứu Văn hóa. Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam. Tập 18, 19 - dân ca. Nxb Khoa học xã hội. H. 2007.

11. Jean Chevalier- Alain Gheerbrant. Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới. NXB Đà Nẵng- Trường Viết văn Guying Du. 2002.       

12. Truyện cổ tích các dân tộc ít người Việt Nam, tập1, 2, 3. Nxb Văn học.H.1994

 

 

 

(Source: Khoa Ngữ văn - Đào tạo Cao học )
Tin khác:
  
  
  
  
  

Tin khác:
  
  
  
  
  
Hội thảo Cao học In Ấn  
Biểu tượng tiếng hát từ văn hóa đến văn học dân gian
Nguyễn Thị Hường CHK18 - Văn học dân gian


Con người trong cuộc đời luôn sống với hai thế giới. Một thế giới tồn tại khách quan bên ngoài con người. Nó là không gian sống- nơi con người tổ chức các hoạt động sinh tồn (ăn, mặc, ở, đi lại…). Loại thế giới này tồn tại hữu hình và khả tri. Còn một loại thế giới thứ hai vô hình, bất khả tri tồn tại trong tinh thần của con người. Thế giới này chỉ được nhận thức khi con người tìm ra cách để hữu hình hóa nó. Một khi hoạt động này thành công, chúng ta có biểu tượng.

I. Vài nét về khái niệm Biểu tượng

1. Khái niệm Biểu tượng:

             Baudelare có lần đã nói, con người sống trong một rừng biểu tượng. Điều đó có nghĩa, số lượng biểu tượng tồn tại trong đời sống là vô cùng lớn. Biểu tượng ra đời từ rất xa xưa, khi con người bước vào thuở bình minh lịch sử của mình bởi vậy nó “cổ xưa như ‎y‎ thức nhân loại vậy” (Lại Nguyên Ân). Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về “Biểu tượng”, tùy theo góc độ và phạm vi tiếp cận khác nhau:

            Theo tiến sĩ Nguyễn Thị Ngân Hoa, “biểu tượng (tiếng Anh: symbol; tiếng Pháp: Symbole) là một tín hiệu mà mối quan hệ giữa các mặt hình thức cảm tính  (tồn tại trong hiện thực khách quan hoặc trong tưởng tượng của con người: cái biểu trưng) và mặt ‎y ‎ nghĩa (cái được biểu trưng) mang tính lí do, tính tất yếu”. [4]

            PGS.TS Nguyễn Thị Bích Hà cũng có quan niệm riêng về biểu tượng: “Thuật ngữ biểu tượng bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “Symbolum” nghĩa là dấu hiệu nhận nhau. Nghĩa gốc của biểu tượng là một vật được chia làm hai nửa, mỗi bên giữ một nửa, khi khớp lại sẽ nhận ra mối quan hệ. Theo tiếng Hán Việt thì “Biểu” có nghĩa là dấu hiệu, sự bày tỏ, sự tỏ rõ, “tượng” có nghĩa là tình trạng, hình tượng. Do vậy, biểu tượng là một hình tượng nào đó được phô bày ra trong một dấu hiệu tượng trưng, nhằm diễn đạt một nghĩa hay một hiện tượng nào đó trừu tượng. Đúng như Chu Hy, nhà triết học đời Tống đã viết “Tượng là lấy hình này để tỏ ‎ kia”(..) Biểu tượng là một loại tín hiệu riêng, có chiều sâu và phong phú hơn tín hiệu. Giữa biểu tượng và cái được biểu tượng thường không có mối quan hệ phổ biến, liên tục. Nó chính là cái nhìn thấy được để dẫn ta đến cái không nhìn thấy được, nó là cái được cảm nhận cho ta liên hệ với cái đang còn mơ hồ, khó nắm bắt. Thời gian  và không gian làm cho tính biểu tượng bị mờ đi, khuất lấp nên phải biết chìa khóa (mã) mới khai mở được và hầu như không thể giải mã một lần mà xong [22; 3]

Trong các định nghĩa này, các tác giả dù nhấn mạnh mặt này hay mặt kia của biểu tượng song tổng hợp lại chúng sẽ cho ta một hình dung chung về khái niệm này. 

2. Một số đặc trưng của Biểu tượng

            Trong phần mở đầu cuốn “Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới”, Jean Chevalier đã nêu lên một số đặc trưng của biểu tượng như sau:

            Trước hết, tác giả phân biệt biểu tượng với dấu hiệu, kí hiệu đơn thuần. Theo ông, biểu tượng phong phú hơn, hiệu lực của nó vượt ra ngoài ‎ nghĩa, nó phụ thuộc vào cách giải thích và cách giải thích thì phụ thuộc vào một thiên hướng nào đó. Biểu tượng “gợi cảm và năng động”, có tính chất “ảnh-động lực” (Vừa thể hiện vừa tác động)

            Biểu tượng bao gồm hai mặt: Cái biểu trưng và cái được biểu trưng, vì vậy nó “chứa hai ‎y tưởng phân chia và tái hợp”. Ý nghĩa của biểu tượng bộc lộ ra trong cái vừa là gãy vỡ vừa là nối kết những phần của nó đã vỡ ra. Biểu tượng định hình thành một vế rõ ràng có thể nắm bắt được, gắn liền với vế khác không nắm bắt được.

            Từ đó, biểu tượng có một số đặc điểm cơ bản:

Thứ nhất: Biểu tượng “mãi mãi gợi cảm đến bất tận”. Giá trị của biểu tượng được xác định chính trong sự chuyển vượt từ cái đã biết sang cái chưa biết, từ cái đã diễn đạt sang cái khó tả nên lời. Nếu cái phần dấu kín một ngày nào đó lộ ra hết thì biểu tượng sẽ chết.

Thứ hai: Bên cạnh cái gợi cảm đến bất tận này, biểu tượng vẫn có tính ổn định trong sự ám thị về một mối quan hệ giữa cái biểu trưng và cái được biểu trưng. Một biểu tượng có khả năng gợi ra các chiều liên tưởng trong thực tại tinh thần của con người, các chiều hướng này có thể rất khác nhau, thậm chí trái ngược nhau. Tuy nhiên, mỗi người có thể tìm thấy trong biểu tượng những trải nghiệm tinh thần mang tính cá nhân nhưng vẫn không tách rời cái bản chất xã hội, có trung tâm tinh thần chi phối toàn bộ sự hoạt động của chúng. Đó là mối quan hệ thuộc về bản chất chứ không phải là một sự tưởng tượng hỗn loạn.

Thứ ba: Các biểu tượng có khả năng thâm nhập lẫn nhau

Thứ tư: Các biểu tượng luôn luôn đa chiều

II. “Tiếng hát”- trong đời sống văn hóa và sinh hoạt xã hội

            Như chúng ta đã biết, biểu tượng là một loại tín hiệu đặc biệt. Vậy những đối tượng nào trong đời sống có thể trở thành biểu tượng hay nói cách khác là mang giá trị biểu tượng?. Theo Jean Chevalier:“Lịch sử của biểu tượng xác nhận rằng mọi vật đều có thể mang giá trị biểu tượng, dù là vật tự nhiên (đá, kim loại, cây cối, hoa quả…) hay trừu tượng (Hình học, số học, con số, nhịp điệu, ‎ tưởng…)”. Cũng trong cuốn “Biểu tượng văn hóa thế giới”, sau khi bày tỏ ‎ kiến của mình, J. Chevalier trích dẫn câu nói của  Pierre Emmanuel: Ta có thể hiểu vật ở đây“không chỉ là một sinh thể hay một sự vật thực, mà cả một khuynh hướng, một hình ảnh ám ảnh, một giấc mơ, một hệ thống định đề được ưu tiên, một hệ thuật ngữ quen dùng…Tất cả những gì cố định năng lượng tâm thần hay huy động năng lượng ấy vì lợi ích riêng của mình đều nói với tôi về con người, bằng nhiều giọng, ở những cao độ khác nhau, dưới vô số hình thức và thông qua những vật trung gian khác nhau mà chú ‎y, tôi sẽ chú ‎ rằng chúng sẽ nối tiếp trong tâm trí tôi bằng con đường biến thái” [XXIV; 11]. Điều đó có nghĩa, ngay cả tiếng hát- thứ âm thanh vô hình, vô ảnh, được tiếp nhận bằng thính giác cùng những xung lực tinh thần cũng có thể trở thành một biểu tượng. Thực tế nghiên cứu cho chúng tôi thấy, Tiếng hát không chỉ giản đơn là một yếu tố của nghệ thuật mà cao hơn, nó còn lưu giữ những quan niệm lâu đời của nhân loại. Cùng với thời gian và sự tiếp biến văn hóa, biểu tượng Tiếng hát không ngừng gia tăng thêm nội hàm ‎ nghĩa. Tuy vậy, tựu trung lại, những ‎y nghĩa biểu trưng của Tiếng hát có thể quy về một số chủ điểm như sau:

            Ở buổi đầu tiên, con người tìm mọi cách để mô phỏng mọi biểu hiện của thế giới tự nhiên trong đó có âm thanh xuất phát từ nhu cầu giao tiếp, truyền đạt thông tin để sinh tồn. Chẳng hạn sau một buổi đi săn, họ muốn nói với đồng loại mình đã gặp con thú như thế nào, khi bị bắn nó phát ra âm thanh ra sao và kèm theo đó là động tác bắt chước cùng trường độ khác nhau của các đoạn âm thanh. Tương tự như thế, con người đã tập hú như động vật, hót như chim, tập phát ra những âm thanh giống tiếng gió thổi, lá suối chảy, sấm sét, mưa rơi vv…Dần dần, khi ngôn ngữ phát triển, họ có thể dung lời mà diễn tả được các “giai điệu” của thế giới xung quanh mình. Khi đó, âm nhạc nói chung, tiếng hát nói riêng ra đời. Những hạn chế của buổi đầu tiên trong lịch sử loài người không cho phép người nguyên thủy ghi lại âm thanh của tiếng hát nhưng những kết quả của ngành khảo cổ học có thể cho chúng ta những phỏng đoán về sự xuất hiện của nó. Trong thời đại văn hóa Đông Sơn (thời kỳ đồ đồng thau phát đạt- sơ kỳ đồ đá) phát triển khoảng giữa thiên niên kỷ thứ nhất trước công nguyên đến đầu công nguyên, người ta còn thấy chạm khắc trên các trống đồng, rìu đồng…nhiều hình người khoác áo lông chim đang nhảy múa hoặc nhảy múa có vũ trạng (Cầm khiên, giáo…) hoặc tay múa với bàn tay xoay ngoắt giống điệu  múa cổ tay của chèo. Ở địa điểm Đông Sơn (Thanh Hóa) còn tìm thấy tượng hai người cõng nhau, người được cõng thổi khèn, người cõng đang nhảy múa(428). Chắc chắn để giữ nhịp và điều phối các động tác đó phải có sự tham gia của âm nhạc và những lời ca “man rợ” ( Theo cách nói của Giáo sư Trần Quốc Vượng) của thời đại. Từ sự “bắt chước” này, con người nhận mối quan hệ giữa tiếng hát- âm nhạc với thế giới tự nhiên, với vũ trụ mà trong hình dung của họ là một thế giới đầy linh thiêng bí ẩn. Trước thiên nhiên đầy đe dọa, con người ở buổi đầu sinh ra tâm l‎y lo sợ cùng sự sùng bái tự nhiên. Trong mắt họ, “vạn vật hữu linh”, tất cả mọi vật tồn tại trong cuộc sống từ con gà, con trâu, con rắn đến hòn đá, dòng suối vv…đều chưa đựng linh hồn, đều ôm giữ những sức mạnh bí ẩn có thể ban phước hay giáng họa cho họ. Vì vậy, những âm thanh của chúng phát ra chính là những “lời thiêng”, là tín hiệu của đấng cao siêu gửi đến con người. Thêm nữa, cùng với sự tưởng tượng về các loại thế giới (Thượng giới, Âm phủ, Thủy phủ, Trần gian), con người cũng dần đặt ra quy ước về từng loại ngôn ngữ được sử dụng trong các thế giới ấy. Ở trần gian- thế giới tục lụy, họ giao tiếp với nhau cơ bản là bằng lời nói thông thường còn đối với các thế giới còn lại họ phải có một ngôn ngữ đặc biệt tương xứng với tính chất thiêng liêng của chúng. Đó chính là âm thanh: Tiếng trống, tiếng khèn, tiếng chiêng, tiếng đàn và một loại ngôn ngữ đặc biệt nữa là tiếng hát. Nếu chỉ dùng ngôn ngữ bình thường thì những đối tượng ở các thế giới khác sẽ không thể hiểu được. Từ đây, Tiếng hát trở thành biểu tượng cho một loại ngôn ngữ đặc biệt để con người giao tiếp với thần linh cũng như những đối tượng ở trong thế giới khác (Ví dụ: Những người thân đã chết vv…): “Hát ca là biểu tượng của diễn ngôn nối kết sức mạnh sáng tạo thế giới với vật tạo, chừng nào vật tạo ấy thừa nhận sự phụ thuộc của mình vào đấng sáng tạo, biểu lộ niềm vui, lòng ngưỡng mộ hay sự nguyện cầu. Đó là hơi thở của vật tạo hòa hợp với hơi thở của đấng sáng tạo” [918; 11]

            Hiểu được ‎nghĩa này chúng ta sẽ đi đến tận cùng bản chất của hình thức hát ca trong nghi lễ thờ cúng hay lễ hội.

Trong sinh hoạt gia đình có hàng loạt các hoạt động cầu cúng sử dụng Tiếng hát như một biểu tượng của mối giao cảm giữa con người với thần linh hay với người của thế giới khác. Rằm tháng bảy có y‎ nghĩa vô cùng quan trọng đối với người Kinh. Đây vừa là ngày lễ Vu Lan vừa là ngày xá tội vong nhân, cúng cấp, giải thoát cho những cô hồn lang thang không có người hương khói. Trong lễ cúng rằm tháng bảy, thầy cúng sẽ hát bài “Văn tế thập loại chúng sinh” để giải oan đồng thời mời cô hồn về hưởng bỏng gạo và chút cháo lá đa. Kèm theo lời hát của thầy cúng sẽ có những động tác ma thuật như tung bỏng gạo, quay thẻ hương hay hành động cướp cháo chúng sinh để cho trẻ còi cọc chóng lớn. Trong tang lễ của người Việt, bên cạnh tiếng khóc xót thương của gia đình người chết sẽ có một đội bát âm đến đánh trống, thổi kèn và ca những bài thể hiện nỗi nhớ thương, đau xót của con cháu đối với người đã quá cố. Vì người chết đã sang thế giới bên kia nên lời nói bình thường không thể trao gửi hết được những điều muốn nói mà cần phải có một thứ “ngôn ngữ” khác. Đó chính là những lời “khóc” bằng giai điệu có đệm nhạc cụ do những người biết cách thức thực hiện. Ở các vùng miền khác nhau trên đất nước ta cũng có các hình thức hát ca sử dụng trong tang ma như Hò đưa linh, Hát chay đàn, Mo Đẻ đất đẻ nước của người Mường, Tiếng hát cúng ma của người Mèo. Ở nhiều dân tộc thiểu số của Việt Nam tiếng hát tham gia vào mọi sinh hoạt của gia đình. Bất kì hoạt động hay sự kiện nào cũng có vai trò của tiếng hát: Hát mừng nhà mới, hát đám cưới, hát then dành cho trẻ con khó nuôi vv…

 Trong những sinh hoạt cộng đồng, khi cần cầu khấn thần linh một điều gì đó, con người cũng sử dụng lời hát như cần cầu bình an, được mùa, cầu mưa hay cầu tạnh đều có những bài ca riêng. Khi những tiếng hát này cất lên, con người cũng đồng thời gửi vào đó lòng tin về sự thấu hiểu, phù trợ của lực lượng siêu nhiên trong lao động và cuộc sống.

Tiếng hát như một biểu tượng của sự nối kết giữa thế giới người và thế giới thần linh còn được thể hiện rõ ở các lễ hội. Những bài hát trong các lễ hội mùa xuân của người Việt như hát xoan (Phú Thọ), hát ải lao (Hà Nội), hát dậm (Hà Nam), hát dô (Hà Tây)vv…vẫn được gọi là các bài hát tế thần. Chúng được tiến hành trong các đền thờ các nhân vật có công với đất nước như Tản Viên (Trị thủy), Thánh Dóng (Đánh giặc) hoặc các nhân vật lịch sử đã được thần thánh hóa như Xuân Dung, L‎y Thường Kiệt. Các nhân vật này đều được tôn làm thành hoàng và được lập đền thờ. Trong lễ hội Phủ Giầy hay lễ hội thờ Trần Hưng Đạo bao giờ cũng có diễn xướng chầu văn. Chỉ bằng cách lên đồng và hát lên những bài hát đã quy định thì các mẫu, các cô, các cậu mới trở về. Tiếng hát cất lên vừa có tính chất nối kết sợi dây cộng cảm của cộng đồng vừa là những “lời thiêng” gửi ước mơ của con người tới các đấng linh thiêng. Trong các lễ hội phồn thực của văn hóa nông nghiệp, tiếng hát có ‎ nghĩa như những lời phù chú làm cho các vật hèm trở nên linh ứng. Giờ phút thiêng liêng nhất của hội Trám (Tứ Xã- Phú Thọ) là vào giờ t‎y ngày 11 tháng giêng- thời điểm diễn ra lễ mật. Sau khi dâng sớ tế cáo trời đất, cụ già chủ tế sẽ bắt đầu lễ hát “đàn giằng xay”. Khúc hát này kết thúc cũng là lúc giờ thiêng đã điểm. Sau lấy Nõ Nường từ trong hộp ra, trao lại cho đôi nam nữ được dân làng chọn tham gia Lễ mật, người chủ tế bước ngang sang phải (bàn thờ) ba bước, quay lại, chếch hướng về đôi trò, miệng hô: “linh tinh tình phộc’’ đồng thời hai tay khoát lên tạo thanh hình chữ “V’’ trước trán. Lúc này, đèn nến tắt hết. Cụ chủ tế cứ tuần tự hô ba lần như vậy. Theo lệnh tuần tự của mỗi lần hô, đôi trò vừa múa (đứng tại chỗ, hai tay cầm vật “hèm’’ đưa sang đưa về) miệng hát:Bên kia có nứng cùng chăng/Bên này lủng lẳng như giằng cối xay. Hát xong hai câu này thì nữ cầm cái Nường đưa lên, nam cầm Nõ “phộc’’ vào và phải làm ba lần như thế. Lễ hội Trám kết thúc vào chiều 12 tháng giêng với trò diễn Tứ dân. Ở đây, người dân sẽ tiếp tục hát những bài hát đã được quy định mà toàn bộ phần lời đều có ngụ ‎y về hoạt động giao phối nam nữ. Những người tham gia lễ hội tin rằng chỉ có làm như thế mới có thể đem lại mùa màng tươi tốt, bội thu, con người và động vật khỏe mạnh, sinh nở nhiều.

Có thể nói, Tiếng hát tồn tại như một biểu tượng của sự giao tiếp giữa con người và thần linh có xuất hiện ở nhiều nơi trên thế giới. Chẳng vậy mà “Trong tiếng Gaulois (Gôloa) có từ cantalon chỉ thể tụng ca tôn giáo, từ này có họ hàng với từ cetal (Thần chú) trong tiếng Ailen, từ lecon trong tiếng  Bretagne và từ chant (ca hát) trong địa hạt Italia ngày nay” [ 918; 11 ].

Người phương Đông quan niệm “vạn vật nhất thể”, cái “tôi” của con người thực ra không phải là các “tôi” theo nghĩa một “vũ trụ riêng tư không lặp lại bao giờ” (Krapchenko) mà chỉ là “tiểu ngã” hòa nhập vào cái “đại ngã” của toàn thể vũ trụ. Cái để nối kết các tiểu vũ trụ ấy với nhau chính là âm thanh. Người xưa có câu chuyện ngửi văn mà đoán tính cách, nghe giọng nói, tiếng cười mà đoán hậu vận hay tính tình của người đó. Có điều đó vì “thanh  chính là sự tự biểu hiện của khí chất của mỗi người. Nói như  I. X. Lixêvich: “Người Trung Quốc cổ xưa quan sát các vì tinh tú trên trời không phải chỉ để hiểu bản thân chúng hay các quy luật vận hành của chúng mà là để hiểu được ‎‎y trời... Cũng giống như âm thanh, giọng nói của con người hay cách chơi đàn của người đó, theo người Trung Quốc, mang vô vàn thong tin về bản thân người đó, vì nó gắn liền với khí của người đó và thời điểm nó biến thành phong. Khúc ca của con người là phong của người đó, có điều đó là thứ phong có thể nghe được” [92; 2]. Những con người khác nhau trong cuộc đời sở dĩ có thể tìm đến nhau và trở thành tri âm tri kỉ chính là vì “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”. Tiếng hát, do vậy trở thành một sự tự biểu hiện. Có phải vì vậy mà trong dân gian vẫn lưu truyền quan niệm cô gái Ỷ Lan làng Thổ Lỗ vì đứng tựa gốc cây lan cất lên tiếng hát trong trẻo mà được làm nguyên phi triều Ly hay Đặng Thị Huệ nhờ tiếng hát mà trở thành bà chúa Chè. Những dẫn chứng này phần nào cho thấy trong quan niệm của dân gian, tiếng hát trở thành một biểu tượng của những tâm hồn đẹp, đáng được trân trọng. Chỉ những con người có tâm hồn đẹp mới có thể cất lên giọng hát hay làm mê đắm lòng người. Bởi vậy, không phải ngẫu nhiên mà trong vốn từ tiếng Việt, từ “Thanh sắc” để chỉ vẻ đẹp của người phụ nữ lại bao gồm hai yếu tố: Thanh (âm thanh- giọng nói, tiếng hát); Sắc (vẻ ngoài, sắc đẹp) và các triều đình phong kiến khi chọn mỹ nhân hay việc lựa chọn các cô gái cho những nghi lễ quan trọng của hội làng thường là những người có đủ cả hai yếu tố này.

Thêm nữa, Tiếng hát còn “là thanh nhạc thuần túy không đệm đàn. Trong quan hệ với âm nhạc- và đây là một quan niệm cổ truyền rất xa xưa- tiếng hát là khởi nguyên; khí nhạc, dù là nhạc tôn giáo, chỉ được coi là kĩ xảo [918; 11] trở thành âm thanh chân thực nhất của tâm hồn con người. Khi cất tiếng hát, con người huy động một cách vô thức tất cả những đặc điểm cá nhân độc đáo của mình để truyền vào lời ca những sáng tạo riêng. Thủy nguyên, giữa sáng tạo thơ và ca hát không tách rời nhau. Người nguyên thủy không thể quan niệm có một loại “thơ” đứng riêng tách rời với “hát”. Hát ca được coi là hình thức biểu hiện bình thường của thi nhân. Nhà thơ thần hiệp ở Ailen được gọi là Amorgen có nghĩa là Ra đời từ tiếng hát. Nhà thơ mù Home đi khắp các thành bang để hát về những chiến công của người anh hung Asin và Ô đi xê. Tiếng hát lúc này còn trở thành biểu tượng của năng lực tinh thần, của sự sáng tạo vừa có sức mạnh tự biểu hiện vừa có sức mạnh nối kết những tâm hồn đồng điệu. Vì tiếng hát là biểu tượng của sự sáng tạo nguyên thủy cho nên trong sự phân thứ bậc của xã hội xưa “Những nhạc công chơi thụ cầm thuộc đẳng cấp con người tự do, nuôi gia súc chứ không phải là thành viên của đẳng cấp giáo chức như những thi nhân” [918; 11 ].

            Như vậy, Tiếng hát không chỉ đơn thuần có ‎ nghĩa về mặt nghệ thuật. Theo dòng chảy của cuộc sống, nó đã trầm tích vào mình rất nhiều quan niệm và trở thành một biểu tượng với nhiều ‎‎y nghĩa thú vị. Biểu tượng này từ văn hóa đã đi vào văn học dân gian một cách tự nhiên, xuất hiện ở rất nhiều các thể loại.

III. Biểu tượng Tiếng hát trong văn học dân gian Việt Nam

            Trong giới hạn khảo sát của mình chúng tôi nhận thấy Tiếng hát xuất hiện rất nhiều lần trong các tác phẩm thuộc các thể loại văn học dân gian khác nhau. Song điều đó không có nghĩa tần số xuất hiện là như nhau giữa các thể loại và giữa các vùng miền. Sơ bộ, chúng tôi xin đưa ra vài nhận xét có tính chất bước đầu như sau:

            - Tiếng hát xuất hiện với tư cách một biểu tượng tập trung nhiều nhất ở truyện cổ tích. Truyền thuyết xuất hiện ít hơn, tuyển tập thần thoại chúng tôi có trong tay không thấy xuất hiện.

            - Trong tương quan giữa văn học dân gian của dân tộc Kinh với văn học dân gian các dân tộc thiểu số ở Việt Nam thì biểu tượng Tiếng hát xuất hiện chủ yếu ở văn học dân gian các dân tộc ít người.

            Những biểu hiện trên không phải là ngẫu nhiên vô căn cứ nhưng việc lí giải các lí do không phải là mục đích của bài viết này. Mục đích quan trọng của chúng tôi là tìm hiểu những ‎y nghĩa khác nhau của biểu tượng Tiếng hát trong văn học dân gian Việt Nam, cụ thể là trong truyện kể dân gian.

 1. Tiếng hát biểu tượng cho “diễn ngôn” nối kết con người và đấng siêu nhiên           

            Như trên đã nói, con người muốn giao tiếp với thần linh để cầu xin điều gì thì không thể dung thứ ngôn ngữ trần tục mà phải có “lời thiêng” để khấn nguyện. Một trong những hình thức của lời thiêng chính là tiếng hát. Trong truyện dân gian Việt Nam, tiếng hát xuất hiện với tư cách này có thể tìm thấy trong các chuyện cổ như Sự tích hai đứa bé trên cung trăng, Bơ Tin Chung, Đứa trẻ mồ côi. Tiếng hát trong những bài hát này giống như những lời phù chú mà nhân vật bắt buộc phải làm nếu muốn thực hiện một điều gì đó. Làm đúng theo những tiếng hát phù chú cùng các quy định của nó thì nhân vật đạt được mục đích. Ngược lại, nếu vi phạm điều cấm kị thì kết quả của hành động sẽ không trọn vẹn.

Hai anh em trong Hai đứa trẻ mồ côi để có một ruộng lúa tốt ở bên hai sông. Hàng ngày chúng được một con cá to đưa sang để cắt lúa mang về. Một lần, dân làng độc ác đã bắt cá làm thịt khiến cho hai đứa trẻ không có cách gì qua sông mang những lọn lúa cuối cùng về. Có một con nhện đồng y ‎ đưa hai em qua sông với điều kiện cho nó được giăng tơ khắp nhà và khi đi qua sông hai em chỉ được hát chứ không được cười. Hai đứa bé nghe lời và bắt đầu cất lên lời hát mà nhện bắt buộc:

Rập rình rập rình

Có con nhện xinh

Chăng sợi tơ trắng

Để chúng mình qua sông

Tuy nhiên, khi gần đến bờ bên kia, hai anh em không nhịn được bật cười. Thế là tơ nhện đứt và hai anh em rơi xuống nước. May mà nước gần bờ nên hai anh em không chết, chỉ ướt hết quần áo.

Truyện Bơ Tin Chung cũng có mô típ tương tự. Vì A Hếnh nói dối nên vợ chàng là Bơ Tin Chung bỏ đi. Chàng mang đứa con nhỏ đi tìm vợ. Đến một khúc sông sâu, chàng thấy vợ đang kín nước bên bờ kia mà không sao sang sông được. Có con Rịn Ràng đồng ‎y đưa bố con qua sông nhưng với điều kiện khi qua sông không được nói cười, chỉ yên lặng để Rịn Ràng hát lời ca kì diệu:

                           Rịn Ràng! Rịn Ràng! Réo réo

Rịn Ràng! Rịn Ràng! Réo réo.

Chỉ bằng cách hát lên lời ca này và tuân thủ theo mọi cấm kị của nó hai bố con mới có thể qua sông an toàn nhưng tới gần tới bờ không chịu được nữa, A Hếnh bật ra tiếng cười làm tơ nhện đứt hết. Hai bố con rơi xuống sông bị ướt quần áo, may mà không chết.

            Ở truyện Sự tích hai đứa trẻ cung trăng lời ca ma thuật được dùng để gọi con lợn thần có khả năng bắt tôm cá ngoài biền. Con lợn này chính là con cá nhụt mà hai anh em bắt được hóa thành. Cũng giống như chỉ có một lời gọi riêng mà cô Tấm mới gọi được Bống lên, ở đây muốn gọi heo từ biển về mỗi chiều, hai anh em đều phải hát một bài hát cố định:

Ơ heo ơ

Ta cho heo ăn cám, ăn cám

Ơ heo ơi

Ta cho heo ăn cám thật ngon

Với cơm gạo trắng đem trộn muối ngon.

Con nhện, con Rịn Ràng hay con heo đều là các con vật thuộc thế giới thiêng, có khả năng kì diệu giúp con người thực hiện những điều ước mà chỉ bản thân họ thôi thì khó có thể làm được. Bởi vậy, đi kèm với sự giúp đỡ của chúng bao giờ cũng phải có những lời hát đặc biệt để truyền đạt những mong muốn của con người trần tục tới thế giới kì diệu. Chính vì vậy, chúng tôi cho rằng các lời hát, tiếng hát trong các truyện này chính là biểu tượng cho một hình thức giao tiếp đặc biệt giữa con người bé nhỏ, trần tục với các đấng linh thiêng.

2. Tiếng hát biểu tượng cho sức mạnh tiêu diệt cái ác, cái xấu

Trong Khắp Thái cũng có những lời ca ca ngợi tiếng hát tuyệt diệu như một vật báu có những phép biến hóa thần kỳ, có ma lực ghê gớm:

Tiếng hát vào núi đá thành vôi

Hát vào suối cạn dâng thành sông Đà

Hát cùng chài gấp nên tấm lụa

Hát cùng rau non lớn vụt thành sen

Hát cùng chồng người bỏ vợ quên tình

Hát cùng đầu bạc xanh lại thành gái

Tuy nhiên, chỉ trong tự sự dân gian, Tiếng hát mới được đề cập đến như một biểu tượng của sức mạnh tiễu trừ cái ác, cái xấu. Đó là những truyện lấy hình tượng Tiếng hát làm cơ sở cho sự phát triển của kết cấu truyện như Tiếng hát của người đá, Câu chuyện về tiếng hát, Bà chúa thơ ca, Sông Bằng êm sóng và truyền thuyết Truyện nàng hát hay làm quay muôn giáo. Ở những truyện này, ma lực ghê gớm của tiếng hát luôn được gắn cho một người con gái nhỏ bé xinh đẹp. Cô có giọng hát hay kì lạ có khả năng thôi miên vạn vật. Đặc biệt, tiếng hát này còn có sức mạnh tiễu trữ cái xấu, cái ác như tiêu diệt quân xâm lược, giết chúa đất độc ác bảo vệ cuộc sống yên ấm cho dân làng. Một mặt, y‎ nghĩa này thể hiện ‎ thức của nhân dân ta về sức mạnh to lớn của nghệ thuật; mặt khác nó cũng chính là một hình thức thể hiện giấc mơ công l‎y thiện thắng ác, chính nghĩa thắng gian tà. 

Có thể điểm qua các truyện như sau:

Truyện nàng hát hay làm quay muôn giáo kể về thuở giặc Tần, Hán gọi ta là man rợ, man di thì ở lộ ta có một người con gái đẹp lắm và ca hát hay lắm. Nàng hát ở Hội vật võ làm say mê  muôn người. Truyền rằng khi nàng cất tiếng hát thì chim khắp nơi bay về đậu quanh hội vật. Nàng hát làm tắt nắng, tanh mưa, im sóng, lặng gió, làm xao xuyến muôn loài, làm trăng chao đảo, làm sao vật vờ, làm người sắp chết sống lại, làm trai gái mê mệt nắm cổ tay nhau. Nàng có thể hát đêm này qua đêm khác, ngày này qua ngày khác. Các đạo, các lộ đều nghe thấy, vì rằng không riêng miệng nàng hát mà cả mái tóc dài mượt như nhung, sực nức mùi thơm của nàng, mỗi sợi đều cất lên âm thanh tuyệt vời hòa theo.

            Nàng theo quan tướng ra đánh trận. Nàng hát làm giặc ngẩn ngơ, bàng hoàng buông gươm hang phục hoặc quay giáo chạy dài. Nhưng cứ mỗi lần như thế, chúng rút về đến bên kia biên giới thì hết cơn mê mệt, chúng lạ hung hăng ào sang. Tiếng hát và sắc đẹp của nàng lại làm chúng mê mệt bàng hoàng thua chạy. Cứ thế, chúng thua chạy rồi chúng lại sang, sag rồi lại tơi tả chạy về. Mãi không làm gì được ta, chúng phải xin hòa hiếu và đòi ta phải cho chúng mái tóc kì diệu của nàng. Để tránh nạn can qua cho hai nước, nàng bèn cắt một nửa mái tóc sai sứ đem qua cho chúng.

            Ham sắc, hám tài, ngây ngất về mùi thơm,chúng tranh nhau nắm tóc, ngoạm lấy nắm tóc mà giữ phần. Thằng bị tóc vướng vào răng thì răng thành răng nanh, mọc thò ra khỏi miệng. Thằng tóc móc vào miệng thì nói ồm ồm như chó cắn ma. Thằng tóc vướng vào lưỡi thì lưỡi toàn nói ra những điều hiểm độc. Thấy không đẹp lên, không tài ra mà chỉ xấu đi, ngu độn đi, chúng tức sùi bọt mép,nhưng cũng chẳng làm gì được ta nên chúng chỉ ngấp nghé từ bên nước chúng nhìn sang. Hình ảnh người thiếu nữ xinh đẹp tuyệt trần,  cưỡi ngựa trắng, mái tóc đen láy bay ngang trời với trăm ngàn giọng hát…làm chúng rã rời ‎ y chí.

Câu chuyện về tiếng hát (Dân tộc Xá) kể về cô bé Pen, cô có một tiếng hát có thể làm dịu đi nỗi mệt nhọc của công việc chồng chất ngày đêm  trên vai cô.Tiếng hát làm cối xay ngô quay nhanh hơn,làm bếp lửa nhà sàn bập bùng lắng nghe, làm con cọp rình mò quanh xóm quên cả bắt trộm trâu bò, đờ đẫn trở về rừng. Mỗi khi cô lên nương thì tiếng hát của cô làm cho cỏ cây như vươn dậy để lắng nghe, lúa ngô lên nhanh như gió thổi, cỏ dại thì vươn mình ra cho cô hái bỏ vào hố rồi lấp kín. Muông thú bảo nhau đừng phá phách ruộng nương.

            Trong truyện Bà chúa thơ ca, cô bé Làu Slam hát hay được tôn là bà Chúa thơ ca.Sáng sớm Làu Slam lên nương hát thì ngô, lúa đang rì rào cũng phải im ắng nghe. Chiều chiều xuống suối xúc tôm, cá thì lời hát của Làu Slam làm cho tôm, cá chẳng muốn bơi nhảy. Số bài hát nàng làm ra nhiều hơn lá trê rừng.

Sông Bằng êm sóng (Thái)  kể cho ta nghe về cô gái nghèo với tiếng hát du dương, thiết tha làm mặt sông gợn sóng, cây cối rung cành, quân lính mê mẩn, đã giết được tên Châu Ún tham lam, nhấn chìm xuống dòng sông Bằng êm sóng.

Tiếng hát của người đá kể về cô bé Nai Ngọc có giọng hát tuyệt hay. Tiếng hát của em vang khắp nương rẫy núi rừng, lôi cuốn như hoa thơm quyến rũ ong vàng, bướm trắng. Tiếng hát này đã cứu dân làng khỏi nạn động rừng bởi nghe tiếng hát lạ lùng ấy, từng đàn chim công, chim sẻs, từng đàn hươu sao, lợn lòi…tất cả đều quên chuyện phá lúa. Chúng gật đầu, xòe cánh, đập đập móng…và bắt đầu múa nhảy nhịp nhàng. Tiếng hát khoan thai, chúng nhảy chậm, tiếng hát dồn dập, chúng nhảy nhanh; tiếng hát dìu dặt, chúng lim dim, mắt gật gù như người choáng hơi mem. Tiếng hát của em khiến mọi người làm việc không biết mệt mỏi, tiêu tan mọi sự buồn nản khiến cho nương đầy lúa, rẫy đầy bông, rừng núi đầy hoa nở. Tiếng hát ấy còn có sức mạnh đánh đuổi quân xâm lược. Khi thấy quân giặc tràn đến núi rừng, chứng kiến cảnh đầu rơi máu chảy, em từ từ lùi lại, trèo lên một mỏm đồi và bỗng nhiên cất tiếng hát trầm bổng, ngân nga. Lúc đầu tiếng hát còn chìm trong tiếng sắt thép va chạm nhau, nhưng dần dà sắt thép chìm đi hết, nhường chỗ cho tiếng hát. Tiếng hát của Nai Ngọc kêu gọi những kẻ xâm lược chớ có đi ăn cướp, hãy trở về làng để nhìn mặt vợ, mặt con, hãy trở về làng cũng với vợ con đi hái rau ngọt, đi cắt lúa vàng, tối tối ngủ bên lửa ấm, sáng thức dậy theo mặt trời. Nghe giọng hát như gió mát, quân địch ngừng tay kiếm đứng đờ người ra, như nuốt lấy từng lời ca, binh khí tuột khỏi tay rơi xuống đất lúc nào không biết. Rồi từ từ chúng ngã xuống, ngủ say như chết dưới chân những đàn voi, đàn ngựa…Nhờ có tiếng hát của em, dân làng được sống những ngày ấm no, hạnh phúc.

Những câu chuyện này gơi nhắc ta nhớ đến những câu chuyện khác ở vùng Đông Nam Á và trên thế giới cũng mô tả sức mạnh của tiếng hát, như Duyên tiên (Dân tộc Hán), Nàng tiên cá (Dân tộc Cor), chàng Ta Luông (Dân tộc Dao), Nàng tiên ca trong truyện cổ dân gian Châu Âu với Tiếng hát  mê ly cùng tình yêu bất diệt,  nàng tiên cá trong truyện cổ Andecxen.

Tiếng hát, với ‎y nghĩa là biểu tượng của sức mạnh diệu kỳ diệt trừ cái ác, cái xấu phải chăng còn cho thấy khát vọng hòa bình, không thích đổ máu trong các cuộc chiến tranh của nhân dân ta? Có lẽ ‎y nghĩa này ra đời khá muộn chứ không phải là lớp ‎y nghĩa nguyên thủy.

4. Tiếng hát là biểu tượng của mối quan hệ giữa con người và nghệ thuật với cuộc sống lao động của nhân dân

Chúng tôi nhận thấy thuộc loại này có hai kiểu kết cấu:

Loại kết cấu thứ nhất, Tiếng hát không tham gia vào chi phối toàn bộ câu chuyện mà chỉ xuất hiện ở phần đầu. Ở đây, tiếng hát đóng vai trò dẫn dụ những chàng trai hay cô gái dưới thủy cung lên trần thế sống và kết hôn với những con người nơi đây. Truyền thuyết Vua bà kể về câu chuyện tiếng hát của Nhữ Nương cất lên khi lam làm nơi đầu sông cuối bãi đã làm cho chàng con út vua thủy tề say mê tới mức phải trốn cha lên hát chín đêm với nàng. Cuối cùng hai người trở thành vợ chồng và sống hạnh phúc mãi mãi. Nhữ Nương trở được dân phong làm vua bà, được coi là thủy tổ của hát Quan họ.

            Chiếc sáo thần kỳ nói về cô gái con vua thủy tề vì thấy trên trần gian có nhiều người đánh đàn, ca hát hay nên đêm nào cũng trốn lên trần gian chơi. Hễ nghe gà gáy sang là lại trở về lòng đất. Sau đó nàng kết hôn với chàng Hơ Rít thổi sáo giỏi để có thể suốt ngày ca hát với người trần gian.

            Kết thúc của những câu chuyện theo kiểu này bao giờ cũng có hậu, chàng trai và cô gái sống hạnh phúc suốt đời. Chính tiếng hát của dương gian đã giữ chân những con người ở một thế giới khác. Điều này không chỉ thể hiện những nhận thức về vai trò của nghệ thuật của nhân dân ta mà sâu xa hơn, nó còn cho thấy tình cảm gắn bó với cuộc sống trần tục. Cũng như Từ Thức dù được sống sung sướng nơi tiên cảnh vẫn không nguôi một tấm lòng trần, ở các câu chuyện này, tác giả dân gian đã cho ta thấy một nhân sinh quan tiến bộ và lành mạnh. Tiếng hát, do vậy chính là biểu tượng cho sự gắn bó của con người và nghệ thuật với cuộc sống lao động của nhân dân. Chỉ khi mối quan hệ này được thiết lập thì con người mới có thể sống hạnh phúc và nghệ thuật mới có thể thăng hoa để ngân nga muôn đời nơi dân chúng.

            Ngược lại, nếu xa rời cuộc sống lao động của nhân dân thì con người và nghệ thuật sẽ chết. Trương Chi và Hà Ô Lôi giống như hai tiếng chuông cảnh tỉnh về điều này.

            Trương Chi có giọng hát rất hay, tiếng hát của chàng bay vào dinh quan Tể tướng làm cho con gái quan tương tư quên ăn biếng ngủ. Nhưng công chúa chỉ yêu tiếng hát mà không yêu người. Thấy hình dáng xấu xí của Trương Chi, nàng đã đuổi chàng ra khỏi dinh quan. Uất ức và tương tư, chàng Trương chết, tiếng hát nhập vào cây bạch đàn tạo thành một khối đỏ không tan. Cái chết của Trương Chi do chính chàng gây ra bởi chàng đã khước từ nguồn cội nghệ thuật của mình. Công chúa cũng như nơi cao sang quyền quy không thể hòa điệu với những tâm hồn và cuộc sống lao động của nhân dân.

Hà Ô Lôi có giọng hát rất hay. Chàng đem tiếng hát của mình để mua vui nơi quyền qu‎y, mua vui cho các bà các cô. Cuối cùng chàng bị đánh chết bởi đã đem tiếng hát ấy đi dụ dỗ những cô gái đẹp con quan. Cái chết của Hà Ô Lôi phản ánh bi kịch của người nghệ sĩ dân gian đã tiêm nhiễm phải thói ích kỉ chốn xa hoa, xa rời cuộc sống lao động của nhân dân. Theo quan niệm của dân gian, tiếng hát làm cho cuộc sống lao động trở nên đẹp đẽ và đáng qu‎‎y. Vậy tiếng hát tách rời lao động, tách rời cuộc sống của Hà Ô Lôi đã bị dân gian xa lạ và cuối cùng vẫn bị giai cấp qu‎y tộc bóc lột, rẻ rúng và ngược đãi, hủy hoại.

Một điều có thể khẳng định là trong tương quan các ‎y nghĩa trên của biểu tượng Tiếng hát, lớp ‎y nghĩa này ra đời muộn nhất. Nó đã nói được nhiều vấn đề của thời đại. Những vấn đề này cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị.

*          *

                                                     *

Như vậy, trong cuộc sống đầy khó khăn vất vả của mình, nhân dân không những sáng tạo ra biết bao lời ca, tiếng hát để thể hiện tâm tư cảm xúc của mình mà còn sáng tác về bản thân những tiếng hát ấy. Tiếng hát trong văn hóa và văn học dân gian đã trở thành một biểu tượng độc đáo, trong đó các tác giả vô danh gửi gắm biết bao tầng bậc ‎y nghĩa. Những lớp y‎ nghĩa của biểu tượng này có sự tiếp biến, bồi đắp thêm qua các chặng đường lịch sử khác nhau. Bóc tách được từng chặng đường lịch sử là một điều khó bởi không thể xác định chính xác thời điểm ra đời cụ thể của một tác phẩm văn học dân gian. Bởi vậy sự trình bày thứ tự trước sau của các lớp ‎y nghĩa trên chỉ có tính chất tương đối. Tìm hiểu biểu tượng Tiếng hát, chúng tôi muốn làm rõ mối quan hệ giữa văn hóa và văn học dân gian. Đồng thời tìm hiểu một kiểu sáng tác về tiếng hát trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam. Những ‎ mặt ‎ y nghĩa của biểu tượng này trong văn học dân gian vừa có sự kế thừa ở văn hóa vừa có sự bổ sung, sáng tạo riêng. Thiết nghĩ đây là con đường đi chung từ mẫu gốc đến các sáng tác nghệ thuật.

 

THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.Phạm Đức Dương. Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh văn hóa Đông Nam Á.

2. Nguyễn Bích  Hà. Thạch Sanh và kiểu truyện dũng sĩ trong truyện cổ Việt Nam và Đông Nam Á. NXB Giáo dục. Hà Nội.1998. 276 trang.

3. Nguyễn Thị Bích Hà. Nghiên cứu văn học dân gian từ mã văn hóa dân gian. Bài giảng sau đại học. Hà Nội.2007.

4. Nguyễn Thị Ngân Hoa. Tìm hiểu những nhân tố tác động tới quá trình biến đổi ‎ nghĩa của biểu tượng trong ngôn ngữ nghệ thuật. Tài liệu đánh máy.

5. Vũ Ngọc Phan. Tục ngữ- ca dao- dân ca Việt Nam. Nxb Văn học. Hà Nội. 2007.

6. Hoàng Phê (Cb). Từ điển tiếng Việt. Nxb Đà Nẵng-Trung tâm từ điên học Hà Nội. Đà Nẵng.2002.

7. Lê Chí Quế (Cb), Võ Quang Nhơn, Nguyễn Hùng Vĩ. Văn học dân gian Việt Nam. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. Hà Nội. 2001

8. Trần Quốc Vượng. Văn hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm. Nxb Văn hóa dân tộc- Tạp chí văn hóa nghệ thuật. Hà Nội. 2000.

9. Viện Văn học. Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam, tập1, 2, 3. Nxb Giáo dục. Hà Nội. 1999.

10. Viện nghiên cứu Văn hóa. Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam. Tập 18, 19 - dân ca. Nxb Khoa học xã hội. H. 2007.

11. Jean Chevalier- Alain Gheerbrant. Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới. NXB Đà Nẵng- Trường Viết văn Guying Du. 2002.       

12. Truyện cổ tích các dân tộc ít người Việt Nam, tập1, 2, 3. Nxb Văn học.H.1994

 

 

 

(Source: Khoa Ngữ văn - Đào tạo Cao học )
Tin khác:
  
  
  
  
  

Tin khác:
  
  
  
  
  
Tin tức - Sự kiện In Ấn  
Khoa Ngữ Văn - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Faculty of Philology, Hanoi National University of Education
Địa chỉ: Nhà B, 136 Xuân Thủy - Cầu Giấy - Hà Nội   Điện thoại: 04.7549076/04.7547424   Email: nguvan@hnue.edu.vn