Tiện ích


Thống kê truy cập

GIẢI NHỊ PHÂN NGƯỜI/ TỰ NHIÊN VÀ DIỄN NGÔN MỚI VỀ NHÂN TÍNH (đọc những truyện ngắn về tự nhiên của Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Huy Thiệp)

Tác giả: PGS. TS Trần Văn Toàn - Cập nhật: 20/03/2018

Tháng Ba năm 2011 Karen Thornber đến Việt Nam trong một hội thảo khoa học quốc tế do Viện Văn học tổ chức với bài thuyết trình về phê bình sinh thái. Gần như ngay lập tức, hướng nghiên cứu này được khởi động tại Việt Nam và nhanh chóng có được những thành tựu rất đáng ghi nhận. Đã hình thành cả một đội ngũ những nhà dịch thuật và nghiên cứu với những công trình và bài viết thực sự có giá trị từ Huỳnh Như Phương, Trần Hải Yến, Đỗ Văn Hiểu, Trần Ngọc Hiếu, Đặng Thái Hà …

\

1.   

Tháng Ba năm 2011 Karen Thornber đến Việt Nam trong một hội thảo khoa học quốc tế do Viện Văn học tổ chức với bài thuyết trình về phê bình sinh thái. Gần như ngay lập tức, hướng nghiên cứu này được khởi động tại Việt Nam và nhanh chóng có được những thành tựu rất đáng ghi nhận. Đã hình thành cả một đội ngũ những nhà dịch thuật và nghiên cứu với những công trình và bài viết thực sự có giá trị từ Huỳnh Như Phương, Trần Hải Yến, Đỗ Văn Hiểu, Trần Ngọc Hiếu, Đặng Thái Hà … và gần đây nhất là hai cuốn chuyên luận của Nguyễn Ánh Nguyệt – Lê Lưu Oanh[1] và Nguyễn Thị Tịnh Thy[2]. Lí giải về sự phát triển rất nhanh của hướng nghiên cứu này, theo tôi, có ít nhất hai nguyên nhân: (1) đây là hướng nghiên cứu với khung tri thức liên ngành và vì thế cho phép kết hợp trong nó cả nghiên cứu nội tại và ngoại tại về văn học (2) khủng hoảng của môi trường sinh thái đang là một vấn đề có tính toàn cầu, đặc biệt là ở các nước đang phát triển như Việt Nam. Phê bình sinh thái, vì thế, đem văn học đến gần với đời sống với rất nhiều biến động của môi trường sinh thái và từ đó kì vọng có được những tác động trực tiếp đến thực tiễn. Nhận xét về phê bình sinh thái tại các nước phương Tây, Glen A. Love nhận thấy: chính trong nỗ lực kiến tạo một đạo lý và mỹ học mới của con người và tự nhiên mà người ta hi vọng tìm lại được vai trò xã hội đã mai một của phê bình văn học[3]. Đặc điểm này một lần nữa được chứng thực trong những công trình phê bình sinh thái của Việt Nam. Người nghiên cứu trong khi theo đuổi những ý tưởng học thuật của mình cũng đồng thời được sống với những cảm xúc và trách nhiệm công dân (đặc điểm này được nhìn thấy khá rõ ngay từ nhan đề cuốn chuyên luận của Nguyễn Thị Tịnh Thy) từ đó góp phần xây dựng một ý thức về môi trường sinh thái trong cộng đồng.

Tuy nhiên, bên cạnh những nguyên nhân trực tiếp từ khủng hoảng môi trường, để có một nhận thức sâu về sự xuất hiện của phê bình sinh thái, theo chúng tôi, cần đặt hướng nghiên cứu này vào một phối cảnh bao quát hơn. Trong bài dẫn luận cho Tuyển tập phê bình sinh thái: các cột mốc quan trọng trong sinh thái văn học với tựa đề ‘Nghiên cứu văn học trong thời đại khủng hoảng môi trường’, Cheryll Glotfelty lưu ý chúng ta một thực tế: chủng tộc, giai cấp và giới tính là 3 chủ đề ‘nóng’ của nghiên cứu văn học trong thế kỉ 20 và sinh thái là chủ đề kế tiếp của những chủ đề trên. Đằng sau sự xuất hiện của những chủ đề nghiên cứu này thực chất là sự vận hành của những cặp nhị phân: da trắng/ da màu; thượng lưu, trung lưu/ dưới đáy; nam/nữ; người/ tự nhiên. Trật tự trước sau trong các cặp nhị phân này hàm chứa trong nó những tương quan quyền lực: vế trước luôn chiếm ưu thế, luôn được nhấn mạnh; vế sau luôn là cái yếu thế, cái bị trấn áp[4]. Đây cũng là lí do để Cheryll Glotfelty, ở một đoạn khác, nói đến một sự liên kết giữa phê bình nữ quyền và phê bình sinh thái, nói đến cái gọi là sinh thái nữ quyền (ecofeminism): có một sự tương đồng trong cách thức người phụ nữ và tự nhiên bị chiếm đoạt và nô dịch bởi đàn ông và loài người.[5] Với logic đó, theo chúng tôi, bên cạnh sinh thái nữ quyền hoàn toàn có thể nói đến những liên kết khác như sinh thái chủng tộc (eco-racism), sinh thái giai cấp (eco-classism). Vì thế, sự kiện những chủ đề chủng tộc, giai cấp, giới tính và sinh thái lần lượt nổi lên trong văn học (cũng như trong các phong trào xã hội) cần được cắt nghĩa từ xu hướng tìm kiếm một sự cân bằng trở lại, thậm chí là sự đảo chiều của tương quan quyền lực giữa các cặp nhị phân nói trên. Văn học và phê bình văn học đang chứng kiến sự cất tiếng của những chủng tộc da màu, của tầng lớp dưới đáy, của người phụ nữ và giờ đây là của tự nhiên. Đó là sự cất tiếng của những tiếng nói mà trước đó đã bị đẩy vào hậu trường, bị buộc phải câm lặng, hoặc bằng những cách thức khác nhau bị chiếm dụng bởi những tiếng nói khác, trở thành ‘tiếng vọng’ cho những tiếng nói khác.

Trong sự so sánh với các chủ đề chủng tộc, giai cấp, giới tính, bên cạnh sự tương đồng, phê bình sinh thái vẫn có một khác biệt rất cơ bản: nếu như những cặp nhị phân trong các chủ đề chủng tộc, giai cấp, giới tính được xây dựng trong những quan hệ xã hội loài người thì cặp nhị phân trong phê bình sinh thái được triển khai dựa trên tương quan giữa người và tự nhiên. Xung quanh mối tương quan này chúng tôi muốn lưu ý hai điểm:

Thứ nhất: mặc dù vẫn luôn có những tiếng nói khác song về cơ bản, chủ âm chính trong những diễn ngôn về người/ tự nhiên vẫn là chủ nghĩa nhân loại trung tâm luận[6]. Diễn ngôn này xuất phát từ phương Tây nhưng cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ đã trở thành diễn ngôn chủ đạo trên toàn thế giới. Diễn ngôn này biện hộ cho vị thế thống trị của nhân giới với tự nhiên giới và hệ quả của diễn ngôn này là những khủng hoảng của môi trường. Đây chính là điểm nhấn trong công trình của Cheryll Glotfelty và đây cũng là nguyên nhân trực tiếp cho sự xuất hiện của phê bình sinh thái như một diễn ngôn phê phán về sự kiêu ngạo của nhân giới.

Thứ hai: tuy nhiên, khủng hoảng sinh thái, với tất cả tầm quan trọng của nó, không lí giải được toàn bộ những diễn ngôn về tự nhiên trong văn học. Không ít những tác phẩm viết về tự nhiên đã ra đời trước khi loài người phản tỉnh về vị thế thống trị của mình trước tự nhiên. Mối quan hệ giữa người / tự nhiên trong trường hợp này không chỉ là mối quan hệ giữa thống trị/ bị trị mà còn là mối quan hệ giữa mình / kẻ khác. Không thể nhận biết về mình nếu không có sự khu biệt nó với kẻ khác. Kẻ khác (trong trường hợp này là tự nhiên) là một kiến tạo để loài người nhận diện về mình, để thăm dò, kiến tạo về nhân tính. Nói cách khác, chính trong nhu cầu nhận thức về bản thân, nhân loại đã tạo lập cho mình những diễn ngôn khác nhau về tự nhiên. Điều này khiến cho những diễn ngôn về tự nhiên không bao giờ là thuần nhất và trong nhiều trường hợp là hoàn toàn đối nghịch. Nếu ở đâu đó cần thiết để làm nổi bật lên thuộc tính văn minh, tinh thần khai sáng, nhân tính và sức mạnh chinh phục của loài người thì tự nhiên được miêu tả trong thuộc tính của cái hoang dã, tăm tối, thú tính, bất kham… Theo chiều ngược lại, để loài người nhận thức rõ hơn về tình trạng tha hoá, nô lệ và tàn nhẫn trong tồn tại của mình thì ngay lập tức tự nhiên lại được miêu tả trong vẻ đẹp của sự thuần khiết, tự do, bao dung... Con người trong khi đào xới về tự nhiên, kiến tạo những diễn ngôn về tự nhiên cũng đồng thời truy tìm bản thân, kiến tạo những diễn ngôn về nhân tính. Nhận diện về phê bình sinh thái, Glen A. Love nói đến việc tái định giá tự nhiên (revaluing nature)[7] nhưng trên thực tế naturehuman là một cặp nhị phân nên định giá về nature cũng đồng thời là tái định giá human. Nói cách khác, sự hình thành một diễn ngôn mới về tự nhiên cũng đồng thời là hình thành một diễn ngôn mới về vị thế của con người trong quan hệ với tự nhiên, hình thành một diễn ngôn mới về nhân tính. Phê bình sinh thái, theo chúng tôi, cần quan tâm đến chức năng kiến tạo và chất vấn về nhân tính này của văn học. Chỉ như thế chúng ta mới có thể có được cái nhìn toàn diện về những diễn ngôn về tự nhiên trong văn học.

Từ cách đặt vấn đề này, với đối tượng khảo sát là 3 truyện ngắn: Một lần đối chứng, Phiên chợ Giát, Sống mãi với cây xanh của Nguyễn Minh Châu và truyện ngắn Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp, tiểu luận của chúng tôi sẽ tập trung đi sâu phân tích những hệ quả của việc giải nhị phân người/ tự nhiên trong việc kiến tạo một diễn ngôn mới về nhân tính trong văn học Việt Nam hiện đại.

2/ 2.1 Một lần đối chứng (1982), là tác phẩm đầu tiên của Nguyễn Minh Châu viết về loài vật với một chủ đích được phát biểu trực tiếp ngay trong tác phẩm:

Tôi không muốn viết một câu chuyện mà loài vật được nhân cách hoá, gán ghép cho loài vật những biểu hiện của lòng nhân ái và trí  khôn mà nó không có, xoá bỏ những ranh giới giữa loài vật và người (TVT nhấn mạnh). [8]

Cái đặc trưng cho tự nhiên (mà cụ thể hơn ở đây là loài vật) là sự hoang dã. “Hoang dã” là một từ khoá trở đi trở lại trong tác phẩm. Cái hoang dã có không gian riêng: không gian của bãi tha ma, của cánh rừng hoang. Đó là một không gian bị ngăn cách với không gian của con người (không gian của văn minh) nhưng vẫn luôn chứng tỏ sức mạnh xâm lấn của nó qua khả năng tái - hoang dã không gian của xã hội loài người. Sức mạnh xâm lấn đó hiện lên với những dòng miêu tả ánh trăng đầy ám ảnh:

[T]rong một đêm đông sáng trăng, cái vừng trăng khuyết rồi lại đầy mà tất cả mọi người sống trong thành phố đã bỏ quên giữa bầu trời từ bao đời nay bỗng trở nên sáng tỏ vằng vặc, làm lu mờ hết mọi thứ ánh sáng của con người văn minh (TVT nhấn mạnh) […] Quả đúng như điều tôi đã cảm nhận thấy từ trong phòng, trăng sáng quá, thứ ánh sáng vừa bâng quơ, lạnh lẽo vừa lai láng tràn đầy đến mức làm não cả lòng người ấy chỉ có thể thấy trong những đêm sáng trăng suông ngoài đồng nội hoặc xa hơn, thế giới của những cánh rừng.[9]

Hấp lực và sức sống của cái hoang dã thật ghê ghớm: nó biến một con mèo nhà ốm o, bị thế giới con người xua đuổi bỗng trở thành một con mèo hoang đầy man rợ, cường tráng. Nó khiến con mèo cái vốn được miêu tả như “cô gái nhà lành”, thuỳ mị nhưng theo những chu kỳ nhất định lại chuồi ra khỏi mọi bảo bọc, níu giữ của thế giới người để chạy theo tiếng “gầm gào hung dữ” của con mèo hoang, chạy theo tiếng gọi từ “khoảng u tối và mênh mông của bản năng giống loài”. Đỉnh điểm của sự hoang dã là hành động cắn chết bầy mèo con chưa mở mắt của con mèo hoang. Viết về hành động “sát nhân” đó, với Nguyễn Minh Châu, là để nhắc nhở người đọc về một thực trạng đau lòng:

Và rồi người ta vẫn không làm sao quên, như một vết thương chung của mọi người, trong những thời đó cũng không thiếu gì chuyện con người ăn thịt lẫn nhau, hãm hại và giết chóc lẫn nhau – trong những thời hỗn mang đó, quy luật tồn tại của sinh vật đã xen vào quy luật sống cao cả giữa người và người.[10]

Có thể thấy ở Một lần đối chứng một đường phân giới mà Nguyễn Minh Châu  đã vạch ra giữa người và con vật. Con vật, dù được thuần hoá bao nhiêu vẫn luôn chứng tỏ trong nó tập tính hoang dã. Trong tương quan đó, nhân tính được xem là “quy luật sống cao cả giữa người với người”. Sức mạnh của nhân tính được hiểu là sự vượt lên “quy luật tồn tại của sinh vật”, quy luật của cái hoang dã. Người Việt có lẽ không phải là một dân tộc có truyền thống triết học nhưng khái niệm “con người” trong tiếng Việt lại hàm chứa một triết lý sâu sắc. Con người là tổ hợp của conngười. Với Nguyễn Minh Châu  hai nhân tố này là hai giá trị loại trừ nhau. Thuộc về con là cái ác, là bản năng mù quáng. Thuộc về người là cái thiện, là lí trí và trí tuệ:

[T]ôi muốn rằng, chúng ta – các bạn đọc và tôi – nhân danh loài người, thử làm một cuộc đối chứng với loài vật – một cuộc đối chứng giữa thiện và ác, giữa lý trí, trí tuệ và bản năng mù quáng (cũng là một cuộc đối chứng giữa hai mặt nhân cách và phi nhân cách, giữa cái hoàn thiện và cái chưa hoàn thiện, giữa ánh sáng và những khoảng bóng tối vẫn còn rơi rớt bên trong tâm hồn mỗi người – miếng đất nương náu và gieo mầm của lỗi lầm và tội ác).[11]

Sự sâu sắc của nhà văn (như người ta vẫn thường nói) là ở chỗ: ông nhận thấy sức mạnh ghê gớm của cái hoang dã, của bóng tối, của tội ác và tác phẩm của ông thông qua sự đối chứng với thế giới loài vật để nhắc nhở mỗi cá nhân phải sống để làm sáng danh cái thiện, sáng danh phẩm cách của người.

2.2 Tuy nhiên, như người ta thường thấy ở những tác phẩm lớn, trong Một lần đối chứng vẫn có những ngoại lệ. Nhân vật nhà văn (cũng là người kể chuyện) đã có lúc nhận thấy thứ “trực giác nhạy bén như loài vật của mình”.[12] Một lần khác, ông đã có cả một đoạn miêu tả đầy ấn tượng về “cảnh tình tự thanh cao”, về “vũ khúc tình yêu dưới trăng [...] như một thứ ngôn ngữ tuyệt vời của tình yêu không bao giờ có thể thổ lộ cạn lời” của đôi mèo.[13] Ở những chi tiết như thế dường như đường phân giới người / vật đã bị vi phạm. Nhưng phải đến Phiên chợ Giát (1989) đường phân giới giữa người / vật mới thực sự được tháo dỡ.

Trước tiên, trong tác phẩm này đầy ắp những sự song trùng, sự trộn lẫn, sự lai ghép, thẩm thấu giữa người – loài vật (tự nhiên). Có một điểm cần đặc biệt lưu ý: không ngẫu nhiên mà thính giáckhứu giác trở thành những kênh chính để Nguyễn Minh Châu  khắc hoạ lão Khúng: đôi tai của lão “thính nhạy như lỗ tai loài vật”, “lão nghe được gần như cùng một lúc hai hột sương rơi trên tàu là chuối bên hồi nhà”. Nếu như con Khoang “có thể đánh hơi thấy từ xa mùi mồ hôi muối” của lão Khúng thì một cách tự nhiên hai cánh mũi của lão Khúng cũng “hít hít cái mùi phân vừa trút ra khỏi cơ thể con vật còn nóng ấm và đầy nồng nàn đang tan vào không khí về sáng hơi giá buốt”. Có thể nói đến ở đây một sự phát hiện về thân thể - cái thân thể với những giác quan tự nhiên, với quy luật tự nhiên trước đó chủ yếu chỉ dành cho khi miêu tả loài vật đã được sử dụng cho những miêu tả về người. Những dấu hiệu báo hiệu tuổi già của lão Khúng: “hay ho, hay nhức xương, lại hay nằm mê” cũng là cái cơ thể già nua của con Khoang (“bà lão hom hem”, “mụ già khụt khịt hay cảm cúm”), của những con bò già nua như con Khoang:

Bất giác lão nhìn sâu vào cặp mắt của một con bò đang mệt nhọc bước đi từng bước ậm ạch, lọc cọc ngay sát bên chiếc xe của lão. Đấy là một con bò đực ít nhất cũng đã từng sống trên vài chục năm, con vật gần như đã trụi hết lông, yếm chảy sát gối, và đặc biệt hai con mắt toét nhèm của nó nhìn sao mà cứ hướng vào lão - hai con mắt đầy âm thầm và nhẫn nhục của con vật già nua đang bình thản đi đến chỗ chết.[14]

Chính thân thể tự nhiên đó đã trở thành dấu gạch nối giữa người – vật (tự nhiên). Thân thể cho thấy cái gốc gác tự nhiên của người. Thân thể như là mẫu số chung giữa người và con vật. Thân thể khiến người trở thành con - người và vì thế mà có những tương thông, tương cảm với con - vật. Giữa con - ngườicon - vật, giữa người và tự nhiên như có sự phản chiếu, liên nối với nhau. Con Khoang, ở phần kết truyện “ngước cặp mắt đầy nhẫn nhục và sầu não lên nhìn lão Khúng” và cái nhìn của lão Khúng với “người bạn đời” này “cũng đầy sầu não và phiền muộn”. Trong thời khắc đưa con Khoang rời nhà, lão Khúng “ngoái cổ, bằng con mắt con vật (TVT nhấn mạnh), nhìn một lần cuối cùng ngôi nhà”. Và thậm chí, ngay cả từ những cái tên (Khúng – Khoang) cũng vang lên như có chung một nguồn cội.

Nhưng có lẽ sự tương thông con ngườicon vật được thể hiện đậm đặc nhất qua hình ảnh đầy chất nghịch dị (grotesque):

[L]ão lại nằm mơ, nhưng khác với lần trước, là chính lão bị đánh bằng búa tạ, chính lão là con bò. Lão tự nhìn minh trong cái thân hình nửa bò nửa người, máu me đầm đìa, mà lão lại vẫn bình thản y như tuân thủ một điều đương nhiên mà trong khi thức lão không hề được biết.

Vẫn bằng cái hình thù gớm ghiếc ấy, lão đang cùng bí thư Bời sóng đôi bước đi trên một dải đất bằng phẳng trên một vùng cao nguyên nóng như rang. (…) Đêm tối sập xuống, bóng tối nhẹ như bấc và đầy huyền ảo, con bò hóa thân của lão Khúng bỗng chốc trở nên say sưa, ngây ngất trước hương vị của đất cày[15]. Đến bây giờ nó đang đứng chỉ có một mình giữa vùng đất cao nguyên Đắc Lắc mới được bàn tay những người khai hoang cày vỡ và nó thấy chỉ chốc lát nữa, trời sẽ sáng và nó phải rời những luống cày để trở về sống trong rừng cây xanh biếc kia. Nó chính là loài thú hoang, hay đúng hơn, một con vật gia súc đã trở nên hoang dã, đã tìm trở lại được cái cuộc sống tự do muôn thuở của nó.[16]

Trong đoạn văn trên rất khó phân biệt được đó là người bị vật hoá hay con vật đã được người hoá. Cùng lúc cả hai thuộc tính người – con vật song tồn với nhau làm thành một chỉnh thể con – người thống nhất. Trong ngườicon, trong nhân tính cũng có cả tự nhiên tính. Những người nông dân như lão Khúng trong khi biến đổi tự nhiên thì cũng đồng thời được tự nhiên nhào nặn lại. Không chỉ sống với mà lão Khúng đã thực sự sống cuộc đời của con Vá, con Khoang trong suốt cuộc đời khó nhọc, khai phá đất đai của mình. Lão cũng là con Vá, con Khoang suốt đời vạch những luống cày trong đêm tối. Lão cũng là con Vá con Khoang bằng khứu giác loài vật luôn ngất ngây trước hương vị của đất cày!

Và trong conngười. Cái phần bò trong con – người lão Khúng một nửa thuộc về thế giới của sự thuần hoá và nửa kia thuộc về vương quốc của cái hoang dã. Một lần nữa cặp đôi vật nuôi và thú hoang trong Một lần đối chứng được trở lại nhưng đã trong một tương quan khác. Cái hình hài vật nuôi của con Khoang sao mà cay đắng, máu m đầm đìa. Đối lập lại, hình hài thú hoang của nó lại đầy thảnh thơi, thư thái. Những câu văn gợi cảm nhất, đẹp nhất, giàu chất thơ trong Phiên chợ Giát là dành cho thế giới của cái hoang dã. Cái hoang dã ở đây (những con bò hoang và rừng sâu, ngập tràn nắng ấm và cây lá xanh biếc) không còn là vương quốc tăm tối, man rợ, tội lỗi trong Một lần đối chứng nữa mà hiện lên trong cái đẹp hư ảo của khát vọng về sự tự do, về một cuộc sống rộng rãi, khoáng đạt.[17] Nhìn ngắm mình trong hình hài của con vật lần đầu tiên lão Khúng phát hiện ra sự “bình thản”, “tuân thủ” của bản tính vật nuôi, bản tính nô lệ của mình. Nhưng, cũng là lần đầu tiên, chính trong hình hài con vật, lão cảm nhận được cái đẹp của sự hoang dã, của “cuộc sống tự do muôn thuở”. Cái hoang dã như một vẫy gọi, nó làm lộ ra một tầng vỉa chìm sâu trong lão Khúng. Cái tầng vỉa mà suốt đời mình lão không hề nhận biết về nó giờ đây, khi đưa tiễn người bạn già (hay là chính mình) bước những bước chân cuối cùng, bỗng hiện lên thật rõ nét. Và sự phát hiện ấy sẽ không buông tha lão Khúng. Nó cứ chập chờn trước mắt lão, lần này không phải là trong giấc mơ nữa:

[H]ai mắt lão Khúng vẫn không rời cái hình dáng con bò với bốn cái chân đang đi từng bước thủng thỉnh trong đêm vắng phía trước mặt lão, ngay trước con mắt lão. Vẫn y như hình dáng của chính lão - cái hình dáng thật mà chỉ một lần lão vừa được nhìn thấy.

Nó khiến:

Lão nhớ lại cánh rừng ở trong giấc mơ với tòa lá xanh thẫm, cây lim lẫn thông già mọc trên vách đá, những con bò hoang dã đi đứng trên vỉa núi đá đầy cheo leo hoặc bình yên gặm cỏ giữa những khoảng rừng bằng ngập đầy nắng. Trong đàn bò kia đã từng có mặt lão, cái dáng dấp thong dong và thư thái nhất trần đời của lão.[18]

Và chính đó là nguyên nhân sâu xa để lão Khúng: “đi đến một cái quyết định đầy điên rồ: lão quyết định giải thoát con vật” và cũng là để đáp ứng “cái nhu cầu đầy bức bách tự giải thoát”.[19] Vậy nên:

Càng xua được con vật dấn mình vào giữa rừng sâu càng xa con đường "bò lăn" ở ngoài kia, lão Khúng càng thấy yên tâm, lại thấy có một cái gì khoái lạc, tự thỏa mãn, chẳng lẽ lão cảm thấy được lão đang xua đuổi cái số phận quá đỗi nhọc nhằn của lão ra khỏi đời lão, cái số phận nửa người nửa con vật?[20]

Nhẫn nại, chấp nhận, cam chịu là nhân tính mà hoang dã tự do cũng là nhân tính. Nói cách khác, ở Phiên chợ Giát nhân tính không đối lập với cái hoang dã; trái lại, nó mở rộng, vươn xa về phía hoang dã, tìm thấy ở đó những dưỡng chất mới, những chân trời mới. Hơn nữa, dường như chỉ trong hình hài con vật lão Khúng mới thật sự được sống với thế giới hoang dã đầy đẹp đẽ và quyến rũ, thế giới của giấc mơ, của mơ ước, khao khát. Cặp nhị phân giữa người/ con vật  (tự nhiên) đến đây đã hoàn toàn bị giải thể. Hay nói cách khác, một tương quan mới giữa người và tự nhiên đã được thiết lập!

         2.3 Giải nhị phân người / tự nhiên và cùng với đó hành hành trình mở rộng nhân tính về phía tự nhiên sẽ được triển khai triệt để hơn trong Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp.

            2.3.1 Ở nửa đầu tác phẩm, đường phân giới tự nhiên giữa người/ con vật (tự nhiên) dường như trở thành tuyệt đối với sự xuất hiện của khẩu súng săn mà cậu con trai gửi về cho ông Diểu từ nước ngoài. Đúng như phân tích của Đặng Thị Thái Hà:

Chi tiết khẩu súng biểu tượng cho văn minh. Nó cho thấy một sự tự tin của con người vào vị thế tối cao của chính mình trong trật tự tự nhiên mà sự phát triển khoa học kĩ thuật mang lại. Đó là sản phẩm của trí tuệ vượt trội và tư duy duy lí - những phẩm tính được cho là điều kiện cơ bản làm nên “giá trị người”.[21]

Chúng tôi muốn lưu ý thêm một khía cạnh khác: khẩu súng và mở rộng hơn là những khí cụ mà công nghệ đem đến vừa là sản phẩm của trí tuệ con người nhưng cũng đồng thời nhào nặn nên nhân tính, quy định những hành xử của họ. Khẩu súng biến ông Diểu trở thành người - thợ săn. Khu rừng trong mùa xuân hiện lên thật đẹp, thật gợi cảm nhưng điều đó vô can với ông Diểu với tư cách một kẻ đi săn. Những tri thức của ông về khu rừng cũng rất sâu sắc nhưng không phải để thưởng ngoạn. Trong mắt ông chỉ có những đối tượng để ông lựa chọn làm con mồi cho mình. Những bụi cây, ý nghĩa của chúng, là để ông ẩn nấp, rình mồi. Tự nhiên với ông chỉ có hai phương diện: (1) là con mồi (2) là môi trường ở đó ông Diểu hoặc lợi dụng hoặc phải nỗ lực vượt qua để có được con mồi của mình. Xuất hiện một nghịch lý: người bị chính thế giới khí cụ anh ta tạo ra thao túng. Khí cụ hàm ẩn trong mình một cách thế đối đãi với tự nhiên; khí cụ gắn với những chức năng cụ thể và nó buộc người phải hiện thực hoá cách thế đó, chức năng đó: “Ý nghĩ đi săn nảy sinh khi thằng con học ở nước ngoài gửi về biếu ông khẩu súng hai nòng”[22]. Dường như không phải là người tự quyết về hành động của mình với tư cách một chủ thể có lý tính mà chính là khẩu súng (với chức năng của mình) cùng lúc kiến tạo nên người – thợ săn và con mồi. Vai trò ưu trội của người trước tự nhiên cũng vì thế mà trở nên mơ hồ. Như thế, chính ở chi tiết mà đường phân giới người/ tự nhiên dường như hiển nhiên nhất đã tiềm ẩn sự chất vấn về vị thế tối thượng của người.

Nhưng ông Diểu không vào rừng chỉ với khẩu súng trong tay. Ông vào rừng với những trải nghiệm cay đắng của nhân sinh. Những trải nghiệm ấy khi phóng chiếu vào tự nhiên khiến ông Diểu, vừa thoạt nhìn thấy con khỉ đực, đã ngay lập tức phán định về nó:

Ý nghĩ con khỉ đực sẽ là con mồi bám lấy ông Diểu tức thì. Cái thằng bố ô trọc ấy! Đồ phong tình phóng đãng! Vị gia trưởng cộc cằn! Nhà lập pháp bẩn thỉu! Tên bạo chúa khốn nạn.[23]

Hành động “hy sinh thân mình của con khỉ cái” không hề làm ông mủi lòng mà chỉ khiến “ông tức giận” “căm ghét” đến mức sẵn sàng giương súng:

Đồ gian dối, mày chứng minh tấm lòng cao thượng hệt như một bà trưởng giả! Sự tan rã đạo đức bắt đầu từ những tấn kịch thế này, lừa ông sao được?[24]

Cách phán xét tự nhiên đó không chỉ là sự áp đặt thô bạo những trật tự của xã hội người vào tự nhiên mà con cho thấy những tổn thương nội tâm nơi ông Diểu. Ở ông Diểu dường như đã cạn kiệt mọi niềm tin vào những gì tốt đẹp của nhân tính; tất cả đều chỉ là sự ô trọc, là những tấn kịch giả dối, là sự làm trò trơ trẽn, đê tiện. Trước tự nhiên, ông Diểu không chỉ là người - đi săn; ông còn là một người - bệnh với những gánh nặng nội tâm không thể gột rửa, buông bỏ. Một lần nữa vị thế bề trên của người trước tự nhiên, của văn minh trước hoang dã lại bị chất vấn. Sự phân giới người / loài vật (tự nhiên) ở đây vẫn hiện diện nhưng vị thế quyền lực của chủ thể người đã trở nên mơ hồ, bị làm rỗng.

            2.3.2 Bước ngoặt cốt truyện trong Muối của rừng là sự kiện ông Diểu bị mất súng và cái chết của con khỉ nhỏ. Tương quan của ông Diểu với tự nhiên vì thế trở nên cân bằng hơn. Không còn khẩu súng trong tay, ông Diểu phải truy đuổi con mồi, phải tận lực leo lên vách đá hiểm trở. Nhưng như một nghịch lý càng tiếp cận con mồi, càng sở hữu con mồi thì ông Diểu càng phản bội lại mục đích ban đầu của mình. Giữ vai trò quyết định cho sự đảo chiều này là sự hiện diện của cái nhìn từ thế giới tự nhiên, từ những con – vật.

Bắt đầu từ Một lần đối chứng cái nhìn từ thế giới loài vật đã được khắc hoạ. Nhưng đó là cái nhìn khơi gợi sự quan sát và cắt nghĩa của con người, nó khiến nhân vật nhà văn tự hỏi:

[C]ặp mắt loài vật ấy đang muốn nói với tôi điều gì? Trách móc, dè bỉu ư? Doạ dẫm suốt đời sẽ theo đuổi tôi ư? Không, không thể nào hiểu thấu tất cả mức độ sâu xa của một cái nhìn như vậy, có lẽ có đủ chừng ấy điều hắn muốn nói với tôi một lúc.[25]

Cái nhìn của con vật, vì thế, đã bị đối tượng hoá cạn kiệt để trở thành đối tượng nhận thức, tìm hiểu của chủ thể người chứ chưa phải là cái nhìn biến người thành đối tượng bị - quan sát, và vì thế bị - phán xét. Đến Phiên chợ Giát, người bắt đầu trở thành đối tượng trong cái nhìn của loài vật. Trong mắt con Khoang lão Khúng hiện lên như một cái cây dại từ trong đất mọc lên. Tuy nhiên, về cơ bản, lão Khúng không chịu áp lực phán xét từ cái nhìn đó. Chỉ đến Muối của rừng, cái nhìn từ phía loài vật mới thực sự hình thành một quan hệ đối thoại, một tương tác với chủ thể người.

Ở phần cuối tác phẩm, sau rất nhiều những thử thách, ông Diểu đã có thể sở hữu con mồi của mình. Cái chạm tay đầu tiên của ông Diểu vào con khỉ là để ước lượng trọng lượng của nó: “Dễ đến hơn yến”. Đó là sự tiếp xúc của người – thợ săn và con mồi. Nhưng khi con khỉ “đưa con mắt đờ dại nhìn ông cầu khẩn” thì ông Diểu “bỗng thấy thương hại” – một cảm xúc mà trước đó hoàn toàn xạ lạ với ông. Ở đây có một điểm cần lưu ý: cặp nhị phân giữa người/ tự nhiên trong nhiều trường hợp có quan hệ phản chiếu với cặp nhị phân giữa tâm hồn/ thân thể. Theo đó tâm hồn thuộc về người. Chỉ người mới có nội tâm, có cảm giác đích thực. Thân thể của người sở dĩ được quan tâm vì nó được mặc định đó là một thân thể gắn với tâm hồn, một thân thể không còn hoang dã và bản năng. Thân thể của động vật thiếu vắng chiều kích của tâm hồn và vì thế là một thân thể thuần tuý tự nhiên, một thân thể xa lạ với người, một thân thể vắng mặt. (Đây là lí do sâu xa cho những cư dân trong ngõ 27 hồn nhiên chặt hạ, cưa cắt, hồn nhiên lột da cây sấu dù suốt cuộc đời mình họ đã sống dưới bóng mát của nó (Sống mãi với cây xanh). Đây cũng là lí do sâu xa cho thú đi săn của ông Diểu). Phải biện giải như thế để hiểu được vì sao cái nhìn của con khỉ lại trở thành một sự kiện trong Muối của rừng. “Con mắt đờ dại” và cái “nhìn cầu khẩn” thiết lập tư cách một chủ thể của con khỉ, nó kéo ông Diểu vào một quan hệ hồi – đáp. Trên thực tế thì cảm giác về sự “thương hại”, về lòng chẳng nỡ của ông Diểu đã là một sự trả lời. Điều này khiến thân thể của con khỉ không còn vắng mặt nữa. Nó đã thực sự hiện diện trong nhận biết của ông Diểu:

Viên đạn phá vỡ bả vai của nó, làm trồi ra hẳn đoạn xương dài đến bốn phân. Mỗi khi đoạn xương va chạm, con khỉ quằn quại trông rất đau lòng.[26]

“Quằn quại” là trạng thái của con khỉ nhưng “đau lòng” lại là cảm xúc của ông Diểu. Cách viết của Nguyễn Huy Thiệp cho thấy đau đớn thể xác của con khỉ và xúc cảm của ông Diểu dường như được nối liền với nhau. Không còn khoảng cách giữa người đi săn và con mồi nữa. Sự “đau lòng” nơi ông Diểu chỉ có thể xuất hiện trên cơ sở nhận biết về sự tương đồng của mình với con khỉ: cả hai đều có thân thể, và sự đau đớn của thân thể là như nhau vì thế mà có thể cảm biết, chia sẻ. Dưới một sắc thái khác, nhưng cũng như ở Phiên chợ Giát, một lần nữa, thân thể (cội nguồn tự nhiên) trở thành mẫu số chung giữa con - ngườicon - vật để làm nên những tương thông, xoá đi sự phân giới tàn nhẫn giữa người và động vật (tự nhiên) trước đó. Cần lưu ý là ở thời điểm đứng trước con khỉ ông Diểu chỉ còn lại trên mình duy nhất chiếc quần lót mà rồi đây ông sẽ dùng nó để băng vết thương cho con khỉ. Dường như càng cởi bỏ những vỏ bọc của xã hội văn minh khả năng tương thông với thế giới tự nhiên của ông Diểu lại càng trở nên rộng rãi hơn, tinh tế hơn. Điều này giải thích vì sao sự cảm nhận về cái nhìn nơi con – vật càng lúc càng rõ nét hơn, càng in dấu vào trong cảm xúc và hành động của ông Diểu. Ở đoạn văn tiếp theo, cái nhìn từ “đôi mắt ươn ướt” của con khỉ đực bị thương đã trở thành sự tra vấn, nó khiến ông Diểu bối rối, ông tránh nhìn vào mắt nó. Sự theo đuổi của con khỉ cái cũng là cái nhìn theo riết ông Diểu khiến niềm vui về thành quả đi săn nhanh chóng trở thành sự khó chịu, trở thành một gánh nặng. Ông thấy mình như bị “theo dõi, bị đòi ăn vạ”. Cuộc đi săn kết thúc bằng sự tương tác của những cái nhìn:

Con khỉ đực nằm dài trên vạt cỏ ướt. Ông Diểu buồn bã ngồi nhìn. Cách đó không xa, con khỉ cái cũng thập thò sau một gốc cây theo dõi.

Ông Diểu thấy buồn tê tái đến tận đáy lòng. Ông nhìn cả hai con khỉ và thấy cay cay sống mũi. Hóa ra ở đời, trách nhiệm đè lên lưng mỗi sinh vật quả thật nặng nề. [27]

Cái nhìn của ông Diểu diễn ra từ cái nhìn phán xét của con khỉ cái và nó giúp ông Diểu đi đến một thức nhận mà ông không bao giờ hình dung được khi hăm hở mang súng vào rừng: ông thấy mình và những con khỉ đều chỉ là những “sinh vật” – những tồn tại bình đẳng trước tạo hoá. Hành động phóng sinh con khỉ đực ngay sau đó dù xảy ra rất đột ngột nhưng lại là một tất yếu. Đó là khoảnh khắc của sự đốn ngộ! Chính ở khoảnh khắc này ông Diểu đã được giải thoát khỏi vị thế của người – thợ săn, vị thế của kể thống trị tự nhiên đầy bạo lực trong phần mở đầu tác phẩm. Không chỉ thế, xác tín về những trách nhiệm của mọi sinh vật trong cuộc đời ở đây đồng thời giải thoát ông khỏi trạng thái người – bệnh với những tổn thương nội tâm, với cái nhìn đầy nghi ngờ và tuyệt vọng về nhân tính mà ông đã phóng chiếu vào trong hành động “hy sinh thân mình” của con khỉ cái trước đó. Tất cả những giải thoát đó, xét đến cùng, đều là hệ quả từ sự giải nhị phân người / tự nhiên, từ sự biến đổi người thành con – người.

Nhưng tự nhiên không chỉ gửi đến ông Diểu cái nhìn của sự khẩn cầu, tra vấn. Cái nhìn của tự nhiên còn hiện diện nơi những bông hoa tử huyền “cứ ba chục năm mới nở một lần. Người nào gặp hoa tử huyền sẽ gặp may mắn”. Tự nhiên đã ghi nhận và ban thưởng cho hành động của ông Diểu. Với cái nhìn này từ tự nhiên, người không còn vai trò độc tôn trong sự phán xét và thiết lập giá trị nữa. Nó bắt đầu phải chịu sự phán xét từ kẻ khác, sự phán xét từ tự nhiên. Ông Diểu khi bước ra khỏi chỗ nấp đã không thể lạnh lùng ngắm bắn con khỉ cái được nữa. Ông đã lộ diện là người và chịu sự phán xét của tự nhiên:

Khi ông Diểu chuẩn bị bóp cò thì con khỉ cái quay lại nhìn ông. Đôi mắt nó sợ hãi kinh hoàng. Nó vứt phịch con khỉ đực xuống đất rồi chạy biến đi. Ông Diểu thở phào rồi khẽ bật cười. Ông nhô hẳn người ra khỏi chỗ nấp.

-       Sai lầm rồi!

Ông Diểu rủa thầm vì ông vừa bước ra thì con khỉ cái quay lại tức thì. "Nó biết mình là người thì thôi hỏng việc!" Y như rằng, con khỉ cái vừa lén nhìn ông vừa lao đến chỗ con khỉ đực. Nó ghì lấy con khỉ đực vào lòng rất nhanh và khéo. Cả hai lăn tròn trên đất. Bây giờ thì con khỉ cái chắc chắn sẽ điên cuồng như một mụ ngốc. Nó sẽ cuồng nhiệt hy sinh bởi lòng cao thượng của nó sẽ được thiên nhiên tính điểm. Ông đã lộ mặt là tên ám sát! Dù chết nó vẫn nhe răng để cười. Bất luận thế nào ông cũng sẽ đau đớn, sẽ thao thức, thậm chí ông sẽ chết sớm hai năm nếu ông bắn nó lúc này. Tất cả chỉ vì ra khỏi chỗ nấp sớm mất hai phút.[28]

Theo tôi, đó là một thông điệp rất có ý nghĩa: con người chỉ có thể làm điều ác khi nó lẩn tránh cái nhìn phán xét, khi nó không phải chịu sự phán xét. Sự hình thành cái nhìn phán xét từ tự nhiên là điều kiện để người trở thành con – người, trở thành một tồn tại trong tự nhiên như mọi sinh vật khác. Vị thế con – người này kiến tạo một đạo lý sống mới, một nhân tính mới dựa trên sự tương thông với vạn vật thay thế cho sự vị kỷ, thống trị. Văn học là câu chuyện được xây dựng từ những cái nhìn, về những cái nhìn. Ý thức sinh thái nếu có một ý nghĩa nào đó với sáng tạo văn học thì chính là ở chỗ: nó làm một cái nhìn mới, cái nhìn phán xét về con người từ phía của tự nhiên. Cái nhìn đó nhắc nhở con người về bổn phận, về những giá trị mà nó phải tuân thủ trước tạo hoá. Sự hiện diện của một cái nhìn như thế, quả thực đã nới rộng không gian cho sự sáng tạo văn học. Tôi muốn nói, sinh thái không chỉ là một đề tài cho văn học. Ý thức về sinh thái còn góp phần mở rộng cảnh giới cho sáng tạo văn học khi nó thiết lập một cái nhìn từ tự nhiên để từ đó mở rộng năng lực nhận biết thế giới và con người của văn học.[29]

3. Có thể thấy, giải nhị phân người/ tự nhiên đã khiến con - người trở thành đối tượng của sự miêu tả trong văn học. Cùng với điều này nhân tính không chỉ được nhận biết từ điểm nhìn của các tương quan xã hội. Nhân tính còn được kiến tạo từ điểm nhìn của tự nhiên. Nhân tính không phải là sự đối lập với tự nhiên mà được mở rộng về phía tự nhiên, có những cội rễ sâu xa gắn kết với tự nhiên. Quan trọng hơn, nhân tính được hình thành dưới cái nhìn chất vấn và phán xét của tự nhiên. Một nhân tính theo mô hình kiến tạo này đồng thời đem đến cho con người có một vị thế mới: nhỏ bé hơn, khiêm tốn hơn trong tự nhiên nhưng có lẽ vì thế mà khả năng cảm nhận và thấu hiểu về muôn loài trở nên rộng rãi và sâu xa hơn. Cũng vì thế mà nó giúp con người có thêm một cái nhìn để phản tư, để đối thoại và hoàn thiện mình.

Cũng cần nói thêm: với sự hiện diện của khẩu súng trong Muối của rừng người ta nhận thấy sự hiện diện của cặp nhị phân mới: con người/ máy móc. Đây là điều mà Greg Garrard đã chỉ ra:

[T]rong thế giới này, cái thế giới đang chới với bên bờ vực của sự sụp đổ cuối cùng, đường biên không thể vượt qua giữa con người và động vật bị phá vỡ đi để củng cố cho ranh giới tách biệt giữa con người với máy móc[30]

Cặp nhị phân con người / máy móc mà tương quan quyền lực (như chúng ta đã thấy ở trên) đã trở nên nhập nhằng, phức tạp hơn rất nhiều và đang là một trong những cặp nhị phân quan trọng nhất trong văn học đương đại. Thậm chí là cặp nhị phân quyết định sự tiến hoá của nhân loại. Những cỗ máy hiện đại, những chương trình về trí tuệ nhân tạo rồi đây có thể cạnh tranh với con người trong sức mạnh của lí tính nhưng có lẽ chúng sẽ không bao giờ có được thuộc tính con (những cảm giác của một cơ thể sống) của con – người. Tương quan đó càng giúp chúng ta nhận thức rõ hơn về chiều kích tự nhiên của nhân tính. Sự đào sâu vào chiều kích tự nhiên của nhân tính vì thế là một đóng góp đặc biệt quan trọng của phê bình sinh thái. Nó giúp nhân loại định hướng cho tương lai của mình khi được đặt trước sự lựa chọn tự nhiên hay máy móc.

Đóng lại Muối của rừng là hình ảnh ông Diểu trần truồng cô đơn đi lẫn vào trong làn mưa xuân. Ông Diểu vào rừng với khẩu súng và trở về trong sự trần truồng với một nội tâm đã được thanh tẩy. Đấy là hình ảnh của kẻ bị lưu đầy, kẻ một lần nữa đánh mất thiên đường hay là một thiên sứ mà thiên nhiên gửi đến cho nhân sinh vốn chất đầy lầm lạc và tổn thương? Câu trả lời cho hành trình trở về của ông Diểu có lẽ lại được tìm thấy trong hình ảnh của bác Thông (Sống mãi với cây xanh, 1983) – người biết nghe được tiếng nói của cây cỏ, đất đai. Với tuyệt đại đa số những cư dân của ngõ 27, bác là người “hơi dở tính”. Là người có lẽ được kính trọng nhưng chắc chắn là khó, rất khó để thấu hiểu và cảm thông. Những con người như ông Diểu và bác Thông là như thế: cô đơn, lạc lõng trong hiện tại nhưng phải chăng, chính vì thế mà họ là nhân tính mà con người hướng đến trong tương lai? Là những nhân vật mà văn học kiếm tìm và kiến tạo?

                                                                                    Đồng Xa, 30/09/2017



[1] Nguyễn Thị Ánh Nguyệt – Lê Lưu Oanh (2016), Con người và tự nhiên trong văn xuôi Việt Nam sau năm 1975 từ góc nhìn phê bình sinh thái, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.

[2] Nguyễn Thị Tịnh Thy (2017), Rừng khô, suối cạn, biển độc… và văn chương, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.

[3] Glen A. Love (1996), “Revaluing Nature – Toward an Ecological Criticism”, The ecocriticism reader: landmarks in literary ecology, Cheryll Glotfelty, ed., Harold Fromm, ed., University of Georgia Press, tr.238

[4] Về vai trò của những cặp nhị phân, tham khảo: Đặng Thị Thái Hà (2014), “Bước đầu tìm hiểu truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp (từ điểm nhìn phê bình sinh thái”, tham luận tại hội thảo khoa học Phát triển văn học Việt Nam trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế, Viện Văn học; Nguyễn Thị Tịnh Thy (2017), Tlđd, tr.170

[5] Dẫn theo bản dịch của Trần Thị Ánh Nguyệt, trong sách Con người và tự nhiên trong văn xuôi Việt Nam sau năm 1975 từ góc nhìn phê bình sinh thái, Tlđd, tr. 240, 250. Về chủ nghĩa nữ quyền sinh thái, xem: Nguyễn Thị Tịnh Thy (2017), tlđd, tr.45-52

[6] Đỗ Văn Hiểu (2016), Phê bình sinh thái cội nguồn và phát triển, tổng thuật sách Phê bình sinh thái Âu – Mỹ, Nxb Học Lâm (2008) (tiếng Trung),

http://nguvan.hnue.edu.vn/Nghiencuu/Lyluanvanhoc/tabid/104/newstab/615/Default.aspx

[7] Glen A. Love (1996), Tlđd

[8] Nguyễn Minh Châu (1999), Tuyển tập truyện ngắn, NXB Văn học, Hà Nội, tr. 275. Trong bài viết, những trích dẫn từ tác phẩm của Nguyễn Minh Châu đều rút từ sách này

[9] Nguyễn Minh Châu (1999), Tlđd, tr. 264-65

[10] Nguyễn Minh Châu (1999), Tlđd, tr.

[11] Nguyễn Minh Châu (1999), Tlđd, tr. 275-76.

[12] Nguyễn Minh Châu (1999), Tlđd, tr.

[13] Nguyễn Minh Châu (1999), Tlđd, tr.

[14] Nguyễn Minh Châu (1999), Tlđd, tr. 642 - 43

[15] Chi tiết này gợi liên tưởng trực tiếp đến cảm nhận của con bò ở đoạn văn ngay trước đó: “Con khoang đen lấy làm sung sướng chun mũi hít hít, chỉ có nó mới cảm nhận được đầy đủ mọi hương vị của đất mới được cày lật lên đang toả ra từ hai bên vệ đường”, Nguyễn Minh Châu (1999), Tlđd, tr. tr.633

[16] Nguyễn Minh Châu (1999), Tlđd, tr. 634-35.

[17] Về nét nghĩa này, Phạm Phương Chi có cách biện giải rất thú vị: “Việc xây dựng hình ảnh con bò trong mối tương quan liên tục với các hình ảnh thuộc về đất đai như bó cỏ, mùi phân, luống cày, cái chuồng, dây chão... tạo mối liên tưởng về nhu cầu đối với nỗi khổ. Đó là sự hợp lí nằm trong điều phi lí. Ai cũng muốn hạnh phúc nhưng cũng vì thế mà ai cũng luôn canh cánh về cái việc phải làm, về mục tiêu cần đạt. Đồng thời vói quá trình đi tìm đủ đầy là sự hao hụt bản năng sống hồn nhiên, tự do như cây cỏ; thanh thản như núi rừng”, Xem: Phạm Phương Chi (2016), “Kết cấu hình tượng của tác phẩm Phiên chợ Giát và những đóng góp của Nguyễn Minh Châu cho sự đổi mới văn xuôi Việt Nam đương đại”, trong sách Văn học Việt Nam trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế, Nguyễn Đăng Điệp (chủ biên), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 446

[18] Nguyễn Minh Châu (1999), Tlđd, tr. 636

[19] Nguyễn Minh Châu (1999), Tlđd, tr. 636-37

[20] Nguyễn Minh Châu (1999), Tlđd, tr. 638

[21] Đặng Thị Thái Hà (2014), Tlđd.

[22] Nguyễn Huy Thiệp (1999), Như những ngọn gió, NXB Văn học, tr.199

[23] Nguyễn Huy Thiệp (1999), Tr. 116

[24] Nguyễn Huy Thiệp (1999), tr. 118

[25] Nguyễn Minh Châu (1999), Tlđd, tr.253-54

[26] Nguyễn Huy Thiệp (1999), tr.122

[27] Nguyễn Huy Thiệp (1999), tr.125

[28] Nguyễn Huy Thiệp (1999), tr. 118-19. Những đoạn in nghiêng là nhấn mạnh của chúng tôi.

[29] Một cái nhìn chi tiết hơn về tác động của điểm nhìn từ tự nhiên đến văn xuôi  nghệ thuật Việt Nam đương đại, xin xem Trần Thị Ánh Nguyệt – Lê Lưu Oanh (2016), tlđd, tr. 72- 93.

[30] Greg Garrard (2004),  Ecocriticism, Routledge, tr. 144, dẫn lại theo Đặng Thị Thái Hà (2014), tlđd.

Nguồn: Kỷ yếu Hội thảo quốc tế Phê bình sinh thái  - Tiếng nói bản địa tiếng nói toàn cầu, Nxb Khoa học xã hội 2017


Cập nhật: 20/03/2018 - Lượt xem: 127

Bài cùng chuyên mục