Tiện ích


Thống kê truy cập

NGUYỄN TUÂN – NGƯỜI ĐI TÌM VÀ SÁNG TẠO CÁI ĐẸP

Tác giả: Đoàn Trọng Huy - Cập nhật: 14/08/2017

Các nhà thơ lớn, nhà văn lớn thường có hẳn một hệ thống quan niệm thẩm mỹ, mang nét độc đáo. Vì vậy, để thấu đáo trong dư luận văn đàn, có thể và cần bàn về mỹ học của Nguyễn Tuân. Nói cách khác, cần xem xét kỹ về chủ thể thẩm mỹ với các phạm trù biểu hiện và đối tượng thẩm mỹ với đặc tính và các phạm trù của nó trong sáng tác của Nguyễn Tuân.

KỶ NIỆM 30 NĂM NGÀY MẤT NGUYỄN TUÂN

(Bàn thêm về quan niệm thẩm mỹ Nguyễn Tuân)

Đoàn Trọng Huy

Đã có nhiều ý kiến bàn luận về Nguyễn Tuân và cái đẹp [5, tr 179 – 185, tr 219 – 226]. Nhà văn lớn Nguyễn Tuân được mệnh danh là “Người săn tìm cái đẹp” (Nguyễn Thành), hoặc “Người đi tìm cái đẹp, cái thật” (Nguyễn Đình Thi) [5].

Các nhà thơ lớn, nhà văn lớn thường có hẳn một hệ thống quan niệm thẩm mỹ, mang nét độc đáo. Vì vậy, để thấu đáo trong dư luận văn đàn, có thể và cần bàn về mỹ học của Nguyễn Tuân. Nói cách khác, cần xem xét kỹ về chủ thể thẩm mỹ với các phạm trù biểu hiện và đối tượng thẩm mỹ với đặc tính và các phạm trù của nó trong sáng tác của Nguyễn Tuân.

YYY

I/ HÀNH TRÌNH TÌM KIẾM LÝ TƯỞNG THẨM MỸ CỦA NGUYỄN TUÂN

Sự đổi đời, đời sống và đời nghệ thuật của văn nghệ sĩ thời tiền chiến có một “trục bản lề” lịch sử – Cách mạng tháng Tám 1945.

Nguyễn Tuân cũng không phải là ngoại lệ. Ông quan niệm cái mốc lịch sử ấy đã tạo ra sự Lột xác kỳ diệu của bản thân.

Hành trình nghệ thuật của Nguyễn Tuân được xác định một cách đại thể là từ Nghệ thuật vị nghệ thuật đến Nghệ thuật vị nhân sinh.

Tuy nhiên, như giới nghệ sĩ đã nhận định: Nguyễn Tuân là một “hiện tượng” phức tạp. Do đó, con đường đi từ “nghệ thuật cũ” đến “nghệ thuật mới” cũng phức tạp, không hề đơn giản. Có lúc thẳng tắp, trơn chu cũng có lúc quanh co, gập ghềnh.

Lột xác (tên cũ là Vô đề ,Tạp chí Văn mới, 1945) là tâm sự chân thành rất mực, tuy nhiên không tránh khỏi nét bồng bột, cực đoan. Quả lắc đồng hồ tâm lý phải khuynh tả một chút trong cơn dao động thời cuộc...: “Mày huỷ diệt hết những con người cũ ở trong mày đi – những con người mà mày mệnh danh là cố nhân... Đào thải chưa đủ. Phải tàn sát. Giết, giết hết. Thò đứa nào ở dĩ vãng hiện về đòi hỏi bất cứ một tí gì của mày bây giờ, là mày phải giết ngay. Mày phải tự hoại nội tâm mày đi đã” [4, tr 343].

Đây là cái giờ nghiêm trọng của đời Nguyễn trong không khí: “Ngoài đường, cuộc Cách mệnh đang bước dài trên khắp ngả phố”. Đó là giờ khắc tuyệt giao giữa Mới và Cũ. Ở Chùa Đàn vẫn còn là lưu luyến với một cái đẹp hư ảo trong mối xung đột giả tưởng: “Cho tới ngày nay, chưa có cuộc Cách mệnh nào của Con Người mà bỏ được tiếng hát” [4, tr 404].

Dù sao, đây mới là tâm sự và chuyển biến nghệ thuật của nhà văn trong buổi đầu khi tiếp xúc và tiếp nhận cách mạng.

Chặng thứ hai tiếp sau mới là chặng Đường vui.

Cách mạng dần dần giải thoát tâm hồn nghệ thuật cho Nguyễn Tuân, đưa nhà văn đến với nhân dân và cuộc sống chiến đấu. Tuy nhiên, quá trình chuyển biến cũng diễn ra không hẳn là đơn giản, dễ dàng.

Có thể nói – từng bước, từng bước trên đại lộ của cuộc đời mới và nghệ thuật mới, Nguyễn Tuân dần dần tiếp cận, và nhận ra được cái đẹp chân chính thật sự tiến bộ. Ý thức thẩm mỹ được hoàn thiện cùng với sự kiên định lý tưởng thẩm mỹ mới.

Từng là một nhà duy mỹ có hạng, môn đệ trung thành của thuyết Nghệ thuật vị nghệ thuật, chuyển sang quan điểm nghệ thuật và quan niệm thẩm mỹ mới tiến bộ ngày nay, Nguyễn Tuân đã thực sự tiến hành một cuộc “cách mệnh” bản thân khổ ải như một trận “Lột xác”. Căn bệnh cũ, đã bằng cách nào hay cách khác, chỉ rình rập, tái phát, phải mất bao công phu, phòng ngừa và chữa trị mới có thể tiệt nọc!

Thật là chông chênh giữa hoài cổ với tôn sùng nét văn hoá truyền thống, cũng mong manh là giới hạn giữa thưởng thức tinh tế hương vị, cảnh sắc quê hương, đất nước với thứ nhấm nháp dư vị cổ xưa. Nhưng nguy hiểm hơn cả, là sự trỗi dậy của một cái tôi cá nhân vị kỷ, kênh kiệu và ngông ngạo trên sự đời, và tình người, để “khinh thế ngạo vật” như anh chàng Nguyễn ngày nào. Cũng rất vất vả là sự dấn thân để tìm ra những cái đẹp chân thật, quý giá trên đời bằng tấm lòng thành thực và trí tuệ sắc sảo.

Chỉ từ những năm 60, đặc biệt là những năm chống Mỹ, nhà văn mới bước vào thời kỳ chuyển biến thực sự trên hành trình nghệ thuật theo  lý tưởng thẩm mỹ mới. Ấy là do kết quả của những trải nghiệm thực tế, thực tâm đi vào đời sống lao động, sản xuất và cả tiếp cận với hoạt động chiến đấu qua cuộc kháng chiến hào hùng vào bậc nhất của lịch sử dân tộc.

Tuy nhiên, trên dư luận văn đàn, đã từng có những luồng ý kiến nhận xét và đánh giá chưa thật thấu đáo và thoả đáng về nhà văn.

Đó là khuynh hướng đơn giản, có phần nào phiến diện khi đánh giá hành trình chuyển biến nghệ thuật của Nguyễn Tuân là triệt để, thông thuận, hoặc nhấn mạnh về một vài phương diện nào đó trong thể hiện lý tưởng thẩm mỹ hoàn chỉnh. Như nặng về công lao, nhà văn tìm kiếm, phát hiện mà nhẹ phần cống hiến sáng tạo cái đẹp. Hoặc như tôn vinh cái đẹp, cái thật chưa tương xứng với cái tốt.

Một khuynh hướng gây nhiều hệ luỵ và cả phản ứng với chính nhà văn là giáo điều, áp đặt. Những ý kiến đánh giá kiểu này thường thiếu cả lý và tình, có định kiến, xơ cứng, máy móc ảnh hưởng của xã hội học dung tục. Có bạn văn viết về Cảnh sắc và hương vị đất nước trong văn Nguyễn Tuân, đã nhận xét: “... tác động của xu thế phê bình văn học một thời làm ông chột dạ” [5, tr 218]. Thực ra, Nguyễn Tuân rất dị ứng với lốphê bình ấy.

II/ VỀ CHỦ THỂ THẨM MỸ

Nói một cách tóm tắt theo lý luận văn học, thì chủ thể thẩm mỹ là chủ thể xã hội, có khả năng hưởng thụ, sáng tạo và đánh giá thẩm mỹ. Chủ thể thẩm mỹ là các nghệ sĩ, các nhà văn và cả những ai có tiềm ẩn những năng lực thẩm mỹ như cảm thụ, đánh giá thẩm mỹ và có hoạt động thẩm mỹ ngoài nghệ thuật. Và như vậy, là hết sức đa dạng, phong phú.

Nguyễn Tuân là một chủ thể thẩm mỹ đặc biệt. Bởi vì, nhà văn lớn có thể ví  là “chủ thể của chủ thể”, có vai trò và vị thế của chủ thể thưởng thức và sáng tạo, đánh giá và định hướng thẩm mỹ. Trong chừng mực nhất định, ông còn bao quát cả biểu hiện thẩm mỹ và tổng hợp nhiều năng lực thẩm mỹ. Ấy là vì, trên tất cả, nhà văn có cốt cách và năng lực của một nghệ sĩ tài hoa, một nhà văn hoá đầy bản lĩnh.

Nguyễn Tuân quả là một nhà nghệ thuật đa tài trên phương diện văn chương, ngôn ngữ và cả biểu diễn. Riêng về văn thì đã hội đủ chất văn thơ, nhạc hoạ và cả kịch, phim – rất hiện đại nữa.

Nguyễn Đình Thi đã tôn vinh Nguyễn Tuân là “một bậc thầy của nghệ thuật ngôn từ”. Còn Tố Hữu thì nói đại ý, coi nhà văn là người “thợ kim hoàn” về chữ nghĩa.

Am hiểu nghệ thuật và dấn thân cả trong nghệ thuật âm thanh, ánh sáng và diễn xuất, Nguyễn Tuân được mệnh danh là con người tài hoa: Tuân tài tử màn ảnh và sân khấu (Thiên Trường), “Nhà văn – diễn viên Nguyễn Tuân” (Trương Quân), Nguyễn Tuân - diễn viên sân khấu (Đình Quang), Hát ả đào đêm xuân (Hoàng Cầm),... [5]. Dù là nghệ sĩ trên trang viết, hay tài tử trên sàn diễn, cả hai đều nhất quán trong một ngôn ngữ nghệ thuật đặc trưng.

Nguyễn Tuân là người có ý thức thẩm mỹ đầy đủ và sâu sắc bậc nhất,. Đó là ý thức như một hệ thống hoàn chỉnh các thành tố cảm xúc thẩm mỹ, thị hiếu thẩm mỹ, và nhất là quan niệm và lý tưởng thẩm mỹ.

Nhà văn có đầy đủ các trạng thái rung động một cách trực tiếp và cảm tính trước các hiện tượng thiên nhiên, đời sống và nghệ thuật – tức có được một cảm xúc thẩm mỹ mạnh mẽ. Qua đó, nhà văn đã khám phá ra vẻ đẹp của thế giới và con người và cái đẹp khách thể  và của chính mình.

Từ Vang bóng một thời, ta như thấy được sự khám phá vẻ đẹp xưa – đến các tác phẩm ký, tuỳ bút trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ chính là sự phát hiện vẻ đẹp chân chính và tiến bộ ngày nay (Tuỳ bút kháng chiến và hoà bình, tập I – II; Sông Đà; Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi; Cảnh sắc và hương vị đất nước;...), Nguyễn Tuân đã thể hiện một biệt tài về tìm kiếm và thể hiện cái đẹp muôn hình, vạn trạng để dâng hiến cho đời. Đối tượng thẩm mỹ kích thích cảm xúc thẩm mỹ của chủ thể, nhưng lại có sự nhập cảm của ý thức chủ thể vào đối tượng.

Con sông thơ mộng và dữ dội đã trở thành dòng chảy huyền thoại, người lái đò vật lộn thác lũ đã trở thành dũng sĩ – nghệ sĩ nhờ ngòi bút tài hoa của nhà văn (Sông Đà). Đừng vui, Bài ca trên mặt phần đường hay chính đó là khúc hát tâm hồn của tác giả ? Cánh B.52 rụng xuống một thôn hoa Hà Nội  phải chăng, là luận đề minh triết về sự đối lập giữa thiện và ác, chính nghĩa và phi nghĩa, là hình ảnh tượng trưng kỳ thú về đối chứng “huỷ diệt” và “tái sinh”, về sự sống trên cái chết của nhà mỹ học uyên thâm. Nhà văn tham gia đóng phim Chị Dậu của Ngô Tất Tố, hứa sẽ đóng một vai người  Hà Nội trong phim Luỹ Hoa của Nguyễn Huy Tưởng, nhưng qua những cảnh tượng của núi sông, miền biên giới hay giới tuyến, nhà văn cũng đã tạo ra những  cận cảnh, những đoạn dựng – montage – như điện ảnh.

Nhiều tác phẩm có những tiềm năng lớn cho chuyển thể thành những đoạn phim. Từ “cái biển hoa ấy đong đưa vì hương lộng... lũng hoa kỳ diệu” để nói lên tâm hồn Á Đông qua câu thơ của Nguyễn Du: “Hương gây mùi nhớ” (Hương hồng Bungari). Rồi, giữa trời Âu lại làm dậy lên cái hương thơm ngào ngạt của đặc sản dân tộc – Phở. Đây cũng là cái biệt tài độc đáo của nhà văn – nghệ sĩ từng một đời say mê với thanh sắc và hương vị, mà tâm hồn tràn đầy năng lực mỹ cảm.

Nguyễn Tuân từ khi “tập làm bài” (Lời của Nguyễn trong Lột xác), đến lúc “làm bài” đã dần xác định một quan niệm thẩm mỹ chính xác và tiến bộ.

Trên các bình diện, thì quan niệm thẩm mỹ thiên về tư tưởng, trong khi cảm xúc thẩm mỹ thiên về tình cảm, thị hiếu thẩm mỹ lại thiên về sở thích.

Tuy nhiên, theo Hégel trong công trình Mỹ học (1835), coi hoạt động thẩm mỹ là một trong những hoạt động cao nhất của trí tuệ, thì sự thật điều thiện được liên kết chặt chẽ trong cái đẹp...

Như vậy, Chân – Thiện – Mỹ  có mối quan hệ mật thiết hữu cơ với nhau.

Mỹ học của Hégel mới được quan niệm trong phạm vi nghệ thuật, được quan niệm là triết học cũa nghệ thuật. Giờ đây, mỹ học hiện đại được quan niệm ở phạm vi phổ quát – cả về nghệ thuật và tự nhiên. Quan niệm thẩm mỹ có quan hệ với quan niệm nghệ thuật. Quan niệm nghệ thuật được coi là hạt nhân của quan hệ thẩm mỹ – vừa là kết quả, vừa có tác động đến sự chuyển biến đối với quan niệm thẩm mỹ, và còn ảnh hưởng đến sự phát triển của văn học.

Nguyễn Tuân đã trải qua cuộc tranh luận nghệ thuật khởi phát từ năm 1935, và sau này  ông nhận ra sai lầm một cách chân thành là đã theo phái vị nghệ thuật :   “ Mình phải nhận cái tội của mình như thế” [5, tr 161].

Nêu luận đề “Nguyễn Tuân là người đi tìm cái đẹp”, hoặc “Nguyễn Tuân là người đi tìm cái đẹp và cái thật” là để nhấn mạnh mỹ cảm mãnh liệt như đam mê một đời của ông. Tuy nhiên, khi phân tích kỹ hơn, ta có thể thấy rằng, khi cầm bút, tuy còn có phần chưa thật đầy đủ và sâu sắc, nhưng nhà văn đã thể hiện được trách nhiệm nhất là lương tâm của người viết.

Chữ người tử tù (Tạp chí Tao đàn số 1, 1/3/1939) có lúc đã được coi là một ví dụ điển hình của cảm xúc duy mỹ, tập trung miêu tả cái đẹp của hoa tay – tức cái đẹp thiên về hình thức. Khi đọc kỹ, ta sẽ thấy điều gần như ngược lại. Ở đây, nhà văn ca ngợi cái đẹp của lòng người. Nổi bật trên tất cả là hai chữ thiên lương. Ý tưởng viết rất rõ.

Qua con mắt “biệt nhỡn” của viên quản ngục, Huấn Cao hiện rõ là thuộc hạng người khí phách: “chọc trời khuấy nước”, những dòng chữ đẹp “nói lên những cái hoài bão tung hoành của một đời con người”. Hầu như tất cả đất trời tôn “một ngôi sao Hôm nhấp nháy như muốn tụt xuống phía chân giời không định”. Và mọi âm thanh phức tạp của cuộc đời như “bay cao lần lên khỏi mặt đất tối, nâng đỡ lấy một ngôi sao chính vị, muốn từ biệt vũ trụ”.

Quả là những lời ca ngợi tuyệt vời về sự ra đi của một con người chính nhân quân tử, một chính khách hiệp sĩ. Chúng ta đều biết – Huấn Cao, đây cũng chính là bóng dáng tượng hình của Cao Bá Quát – một bậc Thánh Văn, và người hùng tham gia vào khởi nghĩa nông dân, chống lại triều đình đương thời với chính sách hà khắc, gây bất công xã hội làm con người đau  khổ.

Lời khuyên nhủ như bừng sáng, soi rọi con đường giải thoát cho những tâm hồn còn u mê: “Ở đây lẫn lộn... Ở đây, khó giữ thiên lương cho lành vững, và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cái đời lương thiện đi”.

Bữa rượu máu là tác phẩm trong tạp chí Tao đàn số 4 – 1939 (in trong Vang bóng một thời ,1940, sau đổi tên là Chém treo ngành). Đây là một ví dụ khác, tả về cuộc hành quyết những tử tù  “của dư đảng giặc Bãi Sậy”. Khởi nghĩa Bãi Sậy, thực chất là khởi nghĩa thuộc phong trào Cần Vương – phong trào chống thực dân Pháp vào cuối thế kỷ XIX.

Kết thúc trang văn, còn có một chi tiết nói lên tất cả dụng ý sâu xa – như “một tấc lòng” của nhà văn: “Lúc quan Công Sứ ra về, khi lướt qua mười hai cái đầu lâu còn đính vào da cổ người chết quỳ sân pháp trường sắp giải tán, bỗng nổi lên một trận gió lốc xoáy rất mạnh... Trận gió xoắn, giật, hút cát bụi lên, xoay vòng quanh đám tử thi, và đuổi theo các quan đang ra về. Cái mũ trắng ở trên đầu quan Công sứ bị cơn lốc dữ dội lật, rơi xuống bãi cỏ, lăn lộn mấy vòng. Mọi người liếc trộm hai quan Thủ hiến và thì thào...”.

Sở kiểm duyệt lúc ấy ngu dốt, vẫn để đoạn văn này. Mà rất lâu sau, giới phê bình cũng chưa phát hiện ra thâm ý đó: “Chữ đó! có mắt mà không biết đọc” – đó là phản ứng của Nguyễn Tuân khi nói chuyện với sinh viên Khoa Văn trường Đại học Sư phạm vào những năm 60 của thế kỷ XX.

Trong “trận gió lốc xoáy” ở pháp trường ấy, có quấn quyện cơn giận dữ của đất trời và cái phẫn nộ của lòng người, kể cả của nhà văn. Chính Nguyễn Tuân chứ không phải ai khác, bằng trí tưởng tượng của mình, đã tạo ra trận gió oan khốc, kỳ dị ấy để nói lên nỗi đau xót và thương cảm đối với nghĩa quân yêu nước bị hành hình, và tỏ rõ sự căm giận, oán hờn sẽ hành quyết những kẻ thủ ác – đại diện bọn xâm lược và tay sai – “hai quan Thủ hiến” thời ấy.

Quả nhiên, chỉ mấy năm sau thôi, trận gió thần kỳ  của cách mạng đã “làm giông làm tố”, cuốn phăng đi tất cả những phận đời nô lệ oan khổ  cho lồng lộng một đất trời giải phóng.

Đã từ lâu, Nguyễn Tuân là con người có lòng yêu nước âm thầm.

Năm 1939, khi còn là học sinh, ông đã tham gia bãi khoá, phản đối mấy giáo viên Pháp nói xấu người Việt Nam. Trốn ra nước ngoài để thoát cảnh tù túng, ngột ngạt, lại bị bắt giam và chịu quản thúc ở Thanh Hoá. Tác giả Vang bóng một thời đã bị liệt vào loại “thành tích bất hảo”, bị đưa đi trại tập trung ở Vụ Bản, Nho Quan, Ninh Bình, và tiếp tục bị quản thúc.

Một con người vốn đã sẵn máu phản kháng, “nổi loạn” ấy, làm sao có thể viết văn xa rời những vấn đề chính trị – xã hội và đạo đức có tính chất chuẩn mực, lý tưởng?

Lý tưởng thẩm mỹ của Nguyễn Tuân có chiều sâu của ý thức xã hội. Ông đi tìm đồng thời cả cái đẹp cái thật trong cái tốt. Nói cách khác, đó là lý tưởng thẩm mỹ kết hợp được với lý tưởng xã hội lý tưởng đạo đức.

III/ ĐỐI TƯỢNG THẨM MỸ - SỰ  KHÁM PHÁ VÀ SÁNG TẠO CÁI ĐẸP

Là nghệ sĩ có tư tưởng nghệ thuật ban đầu không thuần nhất, có những mâu thuẫn nội tại, Nguyễn Tuân đã trải qua những bước đi ban đầu rất khó nhọc. Hành trình đi tìm cái đẹp – có lúc thông thuận, mạnh bạo, nhưng cũng có lúc ngập ngừng, dè dặt.

Xét trong căn cốt từ buổi đầu và trong thời gian khá dài, quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Tuân không hoàn toàn là vị nghệ thuật, không hẳn chỉ có duy mỹ thuần tuý kiểu phương Tây. Đó là vì đời sống thực tại, cái hồn thiêng dân tộc còn tác động vào và gây ảnh hưởng đến tâm thức của người viết.

Là người có khát vọng nhân văn, Nguyễn Tuân không thể có chủ nghĩa duy mỹ phi nhân bản. Ông nặng lòng với “đời sống đầy mâu thuẫn, oan khiên và tủi khuất”, bất mãn với “một đời thật tại”, mong muốn “giúp đẹp, góp tốt và làm vui cho cuộc đời” [2, tr 53, tr 117], và kỳ vọng nghệ thuật là “ánh sáng”, là “đốm lửa để làm bừng dậy lòng người” [3(1), tr 81].

Trên hành trình khám phá thẩm mỹ, Nguyễn Tuân đã gặp những sự trái khoáy, nghịch lý – cái đẹp thì không thật, và cái thật thì không đẹp. Nguyễn Đình Thi đã nhận xét như sau: “Cách mạng là sự đổi đời đối với Nguyễn Tuân, vì ông thấy cái có thật bây giờ đẹp và cái đẹp bây giờ có thật trong cuộc đời” [5, tr 547]. Còn những dằn vặt, bức xúc vì những bóng tối, vì những cái vô lý nhưng cái lẽ lớn ấy không bao giờ thay đổi.

Một đời khát khao, mê đắm vì cái đẹp, cái thật, và cái tốt, nhà văn đã đi tìm kiếm để tạo thành những trang nghệ thuật cho đời.

Trong đời sống ấy, có biết bao cái đẹp ta thường tiếp xúc: cái đẹp của tự nhiên, cái đẹp của xã hội, cái đẹp trong bản thân con người, và cái đẹp của nghệ thuật.

Cái đẹp, cái cao cả, cái bi, cái hùng là những phạm trù thẩm mỹ tích cực; còn cái xấu, cái thấp hèn, cái hài là các phạm trù thẩm mỹ tiêu cực.

Cái đẹp nằm ở vị trí trung tâm. Cái bi là cái đẹp khi thất bại, bị huỷ hoại. Cái xấu là đảo ngược giá trị của cái đẹp. Cái hài là sự phá bỏ tính  hài hoà của cái đẹp.

Cái đẹp là một đối tượng thẩm mỹ có phẩm chất nội tại, nhưng có ý nghĩa khách quan, và cũng phụ thuộc vào năng lực thẩm mỹ của chủ thể thẩm mỹ. Bởi, có những cái đẹp lướt qua dưới ánh mắt, tầm nhìn của người vô tình, mà cũng có cái đẹp ẩn khuất – vì tinh tế mà náu mình giữa cái phồn tạp hư ảo của trần gian.

Phải biết khám phá cái đẹp bằng “con mắt xanh” và “tấm lòng vàng”. Văn học nghệ thuật có nhiệm vụ huớng dẫn con người trên con đường khám phá cái đẹp. Nhà văn và nghệ sĩ là người khám phá và sáng tạo cái đẹp trong tác phẩm của mình. Nguyễn Tuân là người đã thực hiện một cách xuất sắc và độc đáo thiên chức này.

Cảm quan thiên nhiên, đất nước thiết tha, mạnh mẽ hiếm có đã giúp Nguyễn Tuân vẽ nên một “bản đồ Việt Nam” bằng ngôn từ thật đặc sắc.

Đất nước như trải dài theo mỗi bước chân của nhà văn. Từ Mũi Lũng Cú tột Bắc tới Huyện đảo nơi biển khơi. Nghe Gió Than Uyên Vẫn nghe tiếng dội Cà Mau ấy. Nhật ký lên Mèo, lại có trang viết Về thăm đất lửa Quảng Trị. Cảnh vật hiện ra với vẻ đẹp hiền hoà, thơ mộng, cùng với vẻ khắc nghiệt, dữ dội, có những nét hiện thực trần trụi và cả những nét mơ màng, hư ảo.

Xưa kia, trong hoàn cảnh mất nước, ta có thể thấy được cái tâm trạng bơ vơ, day dứt của Thiếu quê hương. Nhà văn chỉ thể hiện trạng thái: “thầm lén mà yêu thương, mà ngợi ca đất nước muôn vẻ, muôn hình của mình” (Cầu ma). Giờ đây, đất trời đã hoàn toàn giải phóng, nhà văn thoả thuê, thả sức miêu tả, thể hiện quê hương, đất nước với vẻ đẹp như công trình nghệ thuật thiên tạo và cả: “Sức mạnh của đất nước luôn luôn hiện hình trên từng tấc gang đường xa” (Đường vui).

Nguyễn Tuân đi và viết với nhiều tư cách: nhà du lịch, tham quan địa lý, nhà khảo sát địa chất, nhà quan sát xã hội, nhà nghiên cứu lịch sử và văn hoá,... Chính vì vậy, mà bạn đọc có điều kiện thưởng ngoạn, và cảm nhận được nhiều điều thú vị ở những góc nhìn, những phương diện quan sát phong phú, đa dạng.

Có những địa phương nằm trong những vùng thẩm mỹ đặc biệt, cũng là vùng thâm canh sáng tác, mà nhà văm trở đi trở lại nhiều lần, và có thời gian lưu trú, “cắm rễ” khá lâu để có thể quan sát, miêu tả một cách kỹ lưỡng.

Đó là vùng Tây Bắc, và vùng giới tuyến. Hà Nội đất kinh kỳ, nơi chôn rau cắt rốn của tác giả, vì thế, dĩ nhiên là được gắn bó máu thịt suốt một đời tài hoa.Tuy xưa kia từng đặt chân đến Huế, Sài Gòn nhưng mấy mươi năm đất nước bị tạm thời chia cắt , nhà văn chỉ vô Nam trongta6m tưởng. Sau ngày thống nhất, cùng với các bạn văn, Nguyễn Tuân làm những chuyến xuyên Việt lý thú – qua Huế, vào tận Minh Hải. Rồi Long Xuyên, Châu Đốc, Hà Tiên,... Từ vùng biên giới Tây Nam đến các đảo, gồm cả Côn Đảo, Cà Mau,... Nguyễn Tuân từng cầm chén rượu đón bình minh trên biển Năm Căn, và từng ngồi bên rừng đước với gió, nắng, và cả đêm trăng Cà Mau ngắm mênh mông ngập tràn sóng biển…

Cảnh thường có nhiều người, người luôn trong cảnh, và nổi bật lộng lẫy trên nền phông cảnh. Đó là những con người Đi mở đường với những Bài ca trên mặt phần đường. Đó là khung cảnh Than Quỳnh Nhai mới khai thác, công nhân nhóm lửa thùng phuy luyện than cốc, là cảnh tượng vật lộn chèo chống với dòng thác của Người lái đò Sông Đà.

Nguyễn Tuân như người hoạ sĩ tài năng, có nhiều bút pháp linh hoạt, đã tạo nên những tuyệt tác mỹ thuật đầy màu sắc mà lung linh, huyền ảo. Có những trang viết lại giàu chất tạo hình, bài trí, phối cảnh như của nhà điêu khắc và đạo diễn điện ảnh.

Tóc chị Hoài là một sự đặc tả cận cảnh, con sông lại là sự liên tưởng kỳ diệu từ mái tóc mây thiếu nữ: “Con sông Đà tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây bắc bung nở hoa ban, hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân”, “Sông Đà như một áng tóc mun dài ngàn ngàn, vạn vạn sải,... (Người lái đò Sông Đà).

Đây lại là cái nhìn từ tít cao, như từ “chín tầng mây” dọi xuống, mà ẩn hiện cái bồng bềnh, kỳ ảo như miền cổ tích.

Sự tương tác thể loại, và nghệ thuật ngôn từ đã đem lại cho văn Nguyễn Tuân những vẻ đẹp đặc sắc. Trong ký có truyện, tuỳ bút mà có những trang đầy chất tiểu thuyết, những trang văn đậm chất thơ: cảnh, người, việc, sự kiện tâm tình được tượng hình trên trang viết. Trong xưa có nay, hôm nay mà thắm bóng thời xưa, hiện thực đấy mà bay bổng xa vời thăm thẳm trong cái lãng mạn mù khơi…

Có thể nói, những trang văn của Nguyễn Tuân hội tụ được cả sự hiện thực hoá của lý tưởng thẩm mỹ.

Lịch sử, văn hoá, truyền thống là một cội nguồn cảm xúc thẩm mỹ của nhà văn lớn. Câu chuyện hôm nay vẫn thấp thoáng cái đẹp xưa, nhưng là cái đẹp đã thăng hoa, hiện đại hoá.

Nguyễn Tuân từng muốn mỗi ngày đều có cái say của rượu tân hôn, kỳ vọng mỗi trang đời là một trang nghệ thuật. Mỹ cảm với cảm xúc thẩm mỹ của nhà văn như là vô tận. Luôn luôn đổi mới  cảm giác, nhận thức như phương châm cảm thụ cái đẹp của Nguyễn Tuân. Đời là những  “ Trang hoa” luôn mở dưới ánh sáng nghệ thật mới.

Cáu đẹo văn hoá là một phương diện rất được lưu ý của nhà văn trong đó có văn hoá ẩm thực đặc sắc. Đặc biệt là ứng xử văn hoá đã tạo ra phong cách sống đẹp nổi tiếng hào hoa, lịch thiệp, tinh tế Nguyễn Tuân.

  Cái đẹp, cái cao cả, cái hùng tráng là những giá trị thẩm mỹ tự thân thường được miêu tả, thể hiện tập trung, sáng tỏ. Tuy nhiên, cũng trong phạm trù thẩm mỹ tích cực này có sự đan xen giữa cái bicái hùng để tạo nên cái bi mang sắc thái bi tráng.

Đào cộng sản, Đất cũ Sơn La ( Sông Đà ) là những điển hình về đất và người, về sự và tình. Cái bi thương lại gợi bao thương cảm: Xoè. Đó là cấu trúc nội tại một tập tuỳ bút. Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi là tập ký loại kiệt tác cũng đan xen, đối sánh cái cao cả. cái hào hùng như phẩm chất  cao của cái đẹp, với cái hài  thật sắc bén, giàu sức mạnh của nụ cười đả kích sự xấu xa, thấp hèn, sự ác độc, tàn nhẫn của kẻ thù. Biệt tài của nhà văn còn ở sự đan cài chồng chéo, đối sánh hai bình diện bi tráng và bi thương. Ở Đám cưới giữa trận địa pháo hiển hiện hai hình ảnh hạnh phúc trong chiến tranh : đám cưới của nữ pháo thủ ở trận địa pháo và đám tang có đặt tấm thiệp cưới ngày Noel  trong áo quan của nữ bác sĩ bệnh viện Bạch Mai thiệt mạng trong trận bom B.52. Còn ở Cánh B. 52  rụng xuống một thôn hoa Hà Nội ta có được hai nụ cười cùng lúc: nụ cười sảng khoái, thoả thuê chiến thắng và nụ cười khinh bỉ, hả hê với thảm bại nhục nhã của kẻ thù, bi tráng và hài hước qua một niềm lạc quan  tin tưởng xen lẫn lòng căm giận, hận thù

YYY

Nguyễn Tuân  xứng đáng được tôn vinh là nhà văn – nghệ sĩ một đời săn tìm, thể hiện và sáng tạo cái đẹp cho nghệ thuật. Đó là nhà Duy mỹ chân chính vì cái đẹp lý tưởng  của Con Người trong cuộc đời đi lên theo ánh sáng văn minh hiện đại.

Bằng cuộc đời đẹp như hoa, Nguyễn Tuân đã hiến cho đời những Trang hoa, những Tờ hoa vì mãi mãi tương lai nghệ thuật..

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Đoàn Trọng Huy (2007), Nguyễn Tuân, in trong Tinh hoa văn thơ thế kỷ XX, Giáo dục.

[2] Nguyễn Tuân (1999), Nguyễn Tuân – Bàn về văn học nghệ thuật, Hội Nhà văn.

[3] Nguyễn Tuân (2000), Nguyễn Tuân – Toàn tập (1, 2, 3, 4, 5), Văn học.

[4] Nguyễn Tuân (2005)        , Nguyễn Tuân – Tuyển tập (1, 2, 3), Văn học.

[5] Nhiều tác giả (1999), Nguyễn Tuân – Về tác gia và tác phẩm, Giáo dục.

Cập nhật: 24/07/2017 - Lượt xem: 18

Bài cùng chuyên mục