Tiện ích


Thống kê truy cập

CON NGƯỜI NAM BỘ NỖ LỰC THOÁT KHỎI SỰ VÔ TĂM, VÔ TÍCH TRONG SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ

Tác giả: Phạm Thị Thu Thuỷ * - Cập nhật: 19/05/2017

Trong xã hội hậu hiện đại, “cái ngã của con người chập chờn đâu đó ở ngoại biên thế giới, chứ nào phải chiếm lĩnh trung tâm như ảo tưởng của mình” . Con người bị gạt ra ngoài cuộc sống của gia đình, cộng đồng, “bị đá văng ra khỏi thế giới” (Kafka). Con người không còn là thỏi nam châm có sức mạnh hút vạn vật về phía mình mà là kẻ chầu rìa, sống tạm, sống nhờ trong vũ trụ vô biên.

Trong xã hội hậu hiện đại, “cái ngã của con người chập chờn đâu đó ở ngoại biên thế giới, chứ nào phải chiếm lĩnh trung tâm như ảo tưởng của mình” (1). Con người bị gạt ra ngoài cuộc sống của gia đình, cộng đồng, “bị đá văng ra khỏi thế giới” (Kafka). Con người không còn là thỏi nam châm có sức mạnh hút vạn vật về phía mình mà là kẻ chầu rìa, sống tạm, sống nhờ trong vũ trụ vô biên.

Thức nhận tinh thần trên, không muốn dừng chân tại “Cánh đồng bất tận”, Nguyễn Ngọc Tư thử sức mình cùng “Gió lẻ”, “Khói trời lộng lẫy” và gây ấn tượng với “Sông”, “Đảo”; con người Nam Bộ trong sáng tác của chị bởi vậy cũng phần nào thoát khỏi những ám ảnh, quẩn quanh về cuộc sống nghèo khổ, tù đọng và bắt đầu day dứt, giằng xé bởi nỗi đau mất ý nghĩa tồn tại, không biết “tôi là ai đây” (Kafka) giữa biển trời mênh mông. Nhiều nhân vật của “Đảo” tồn tại đấy mà mờ nhạt, không đáng kể giữa nhân gian. Chỉ vài tháng sống chung, những người vợ ở xóm Thơm Rơm (Tro tàn rực rỡ) đã chẳng còn được chồng nhìn ngó đến. Họ lặng lẽ, cam chịu thân phận của kẻ bị gằn hắt, ở bên lề trung tâm. Chàng trai hai mươi bốn tuổi (Biến mất ở Thư Viên) háo hức vẽ ra trong tưởng tượng một đám cưới nhưng từ lúc đặt chân vào Thư Viên đến khi nhà sách rung chuông đóng cửa, cô dâu “không một lần đưa mắt tìm” và có lẽ cũng thấy hết sức bình thường khi chú rể tương lai đã “đi vào khe sách và náu trong bóng tối trong veo” (2). Sự vun đắp, hiện hữu hóa ra không tưởng, nhẹ tênh.

Lo âu vì bị đẩy ra ngoại biên, con người Nam Bộ trong tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư cố gắng bằng mọi phương cách hòa nhập vào cộng đồng để trở thành trung tâm, là trung tâm. Đó là nhu cầu tự khẳng định mình, là khát vọng chính đáng được đề cập trong văn chương kim cổ, từ thơ của Nguyễn Trãi đến tác phẩm của Nguyễn Công Trứ, đậm đặc trong sáng tác của Xuân Diệu và láy lại trong nhiều trang viết của các tác giả đương thời. Dù rằng cố gắng ấy giống như một cú lội ngược dòng, lạc hướng với quy luật phát triển của xã hội và đặc thù của văn chương “hậu hiện đại”: phi trung tâm, giải tôi… Nỗ lực thoát khỏi sự vô tăm, vô tích của con người Nam Bộ được Nguyễn Ngọc Tư phân tích ở một vài khía cạnh cụ thể sau:

1. Biến mất để được kiếm tìm và nhớ thương

Có thể nói rằng biến mất để được kiếm tìm và nhớ thương là sợi chỉ xuyên suốt trong nhiều tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư, là quan niệm mới mẻ và táo bạo của những người trẻ nói chung và con người Nam Bộ “hậu hiện đại” nói riêng. Trong xã hội vốn hoang phí sự dửng dưng, dè xẻn tình yêu thương, để trở thành trung tâm, con người buộc phải có động thái gây chú ý, bằng cách tự “delecte” bản thân tạm thời hoặc vĩnh viễn khỏi dòng đời xô bồ. Họ nghĩ rằng sự biến mất của mình sẽ làm cho ai đó hoặc hụt hẫng, trống vắng hoặc sung sướng, hả hê và như vậy có nghĩa là họ vẫn còn tồn tại, vẫn có sức ám ảnh. Niềm tin ấy khi thì tồn tại trong vô thức nhân vật, lúc lại bùng nổ mãnh liệt qua từng hành động, ngôn ngữ.

Từ Cánh đồng bất tận trở về trước, nỗ lực không vô tăm vô tích của con người Nam Bộ được phóng rọi từ điểm nhìn của người ở lại. Hình ảnh kẻ ra đi luôn xâm chiếm, chi phối “bầu khí quyển” của người ở lại. Nếu bé Cải (Cải ơi), vợ ông Sáu (Biển người mênh mông) là hai nhân vật biến mất từ đầu đến cuối thiên truyện thì anh Sáng (Một dòng xuôi mải miết), người đàn bà buôn hàng bông (Dòng nhớ), gã chồng làm nghề thợ gặt (Cái nhìn khắc khoải), đào Hồng (Cuối mùa nhan sắc)… lại thoáng ẩn, thoáng hiện. Nhưng dẫu thế nào, họ cũng gây ra nỗi nhớ thương, sự kiếm tìm cho những người thân yêu. Ông Năm Nhỏ quên sao được những lần dắt con Cải đi hái xoài chín, dạy con lội sông, chơi diều, cõng con đi tắt mấy vạt đồng đến khám bệnh chỗ ông bác sĩ già. Ông Sáu dành cả đời đi tìm người gá nghĩa với ông mà không có niềm vui được con bồng con bế, lại phải nghe lời đay nghiến, chì chiết của chồng những lúc chồng say xỉn. Tìm để gửi một câu xin lỗi, để hỏi sao bao năm rồi mà cổ chẳng chịu về. Sau dáng chạy chấp chới theo triền sông mỗi lần có chiếc ghe bầu đi ngang, qua những đêm ngồi hút thuốc, chong chong nhìn ra ngọn đèn đỏ ối của những người ở lại, bức chân dung người ra đi dần hoàn thiện. Đó là Sáng, “trạc ba sáu, ba bảy tuổi” nhưng “già dặn, chững chạc trầm lặng”; “mùa gặt năm nào cũng xuôi ghe chở bầy vịt đổi đồng về xóm Rạch Giồng” vì “nhớ má và muốn gặp em” (3). Đó là người bán hàng bông “tóc dài, da ngăm ngăm, không đẹp, không xấu. Mới đầu đi với chồng, sau chồng bỏ lên bờ vì cơ cực quá trời, hồi trẻ có đứa con gái đầu lòng chừng bảy tháng tuổi thì rớt xuống sông chết” (4); tháng tháng đem ra giặt lại món đồ của con, của chồng còn giữ được và đêm đêm ngồi thêu rồi lại tháo ra để nén nước mắt rơi. Chỉ bấy nhiêu chi tiết thôi nhưng đủ để khi ra đi, hình ảnh, dấu ấn của anh Hai, dì Ba… Nam Bộ vẫn còn in đậm trong tâm trí người ở lại. Những người thân yêu mong mỏi họ trở về để thâm tình cũng như nước dưới sông, có chảy đi đâu sẽ hợp lại một dòng xuôi chảy mãi, rằng sống đã không gần được nhau thì chết hãy nằm bên nhau… 

Ở trong nhiều sáng tác sau này, nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư bắt đầu ý thức về việc biến mất như là cách để chống lại sự lãng quên của cuộc đời, thấy mình vẫn còn hiện hữu, có ý nghĩa với một ai đó. Có thể kể đến hàng loạt người trẻ như hai chị em Di - Phiên (Khói trời lộng lẫy), Ánh, Ân, Bối, Xu (Sông), người kể chuyện và Sinh (Biến mất ở Thư Viên)… Ở Khói trời lộng lẫy, khi kiệt cùng sức lực vì thương yêu và thù hận, Di để mình tan biến vào khói nhen lên từ những nếp lá mục nhà mình, nhưng đó là sự hóa thân thành một dáng hình huyền hoặc trong ánh sáng rực ngời. Với Sông, Nguyễn Ngọc Tư đã rốt ráo đề cập tới một vấn đề mà con người Nam Bộ “hậu hiện đại” ý thức triệt để, mãnh liệt. Trôi dạt, biến mất vừa là định mệnh, vừa là phương cách thoát khỏi “nỗi lo âu mang tên ngoại biên” (Nguyễn Thanh Nga). Ánh không cùng hành trình đi dọc sông Di với Ân nhưng lại được Ân nhắc tới nhiều lần. Chị vẫn có mặt trong những cuộc trò chuyện ngắn ngủi qua điện thoại giữa Ân và sếp, trong những lần Ân hỏi thăm về chị khi dừng chân bên đường. Bối là kẻ có khoái cảm với sự vần vũ của trời đất, thích “bắt lấy khoảnh khắc của một tia sét lóe lên, một bầu trời đen tối đầy thịnh nộ, một cơn lốc xoáy” (5) bỗng nhiên biến mất không lí do giữa cuộc hành trình, “như thể một cơn lốc xoáy đã vùi thân xác anh ta vào đụn cát, một tia sét nóng ba chục ngàn độ đã làm tan chảy đến mẩu xương cuối cùng” (6). Ân “ngờ rằng Bối đang chơi trò mất tích để được tìm” (7) và rõ ràng là Xu thấy Bối đã để lại những hụt hẫng, trống trải, chênh vênh cho hai người ở lại, Ân thì hay nhớ Bối nói này nói kia mỗi khi mây đen oằn nước báo hiệu một cơn giông. Sự ra đi của Bối đã đạt được mục đích. Rốt cục, Xu và Ân cũng chọn cách trút bỏ mọi mất mát, tan vỡ nơi rốn Túi, hi vọng đó là cách có thể gây nhớ thương cho người mẹ mải loay hoay với các cuộc tình, làm day dứt những người đàn bà ưa phản bội. Đến Đảo, việc “delecte” dấu ấn tồn tại không còn là chuyện buộc phải hoặc nên chọn làm mà đã trở thành niềm vui thích, một “nghi lễ” kì lạ, bạo lực tinh thần các nhân vật ở lại và độc giả. Bảy năm Sinh không vết tích (Biến mất ở Thư Viên) là bảy năm Hảo ngóng trông, tìm kiếm, phỏng đoán và lãng quên hạnh phúc hiện tại. Hảo rạo rực, tươi tắn, đầy sức sống khi nghĩ đến giả thiết Sinh biến mất vào trang sách mà vô cảm với sự quan tâm, hi sinh của chàng trai kém mình tám tuổi. Hình ảnh Sinh không chỉ chế ngự mọi cảm xúc, hành động, ngôn ngữ của Hảo mà còn khiến chàng sinh viên vừa tốt nghiệp bị tổn thương. Nỗi đau thốt lên thành lời: “nhìn tôi đi, tìm kiếm tôi đi” (8) và nỗi đau hóa ra hành động: “đi vào khe của những cuốn sách, náu trong thứ bóng tối trong veo” (9) với hi vọng mình còn tồn tại, còn có ý nghĩa. Biến mất chồng lên biến mất để lại khoảng trống toang hoác trong tâm hồn người ở lại và trái tim bạn đọc ngộp thở đến cùng cực. Mô - tip này tiếp tục được láy lại ở Lưu lạc khi Diệu ra đi, trở về và lại ra đi. Nếu việc đứa trẻ mười hai tuổi mất tích là do mải chơi, vô tình đã gieo lại cho cha mẹ, anh chị bao chờ đợi, tìm kiếm thì chuyện người đàn bà tóc vàng, móng tay đen, mỡ bụng dày sau làn áo bỏ nhà đi hoang là ý thức cay đắng về sự xa lạ, lạc loài của mình trong đại gia đình. Diệu cần tiếp tục ra đi để được sống đúng với chính mình, với bản thể hồn nhiên, hoang dã. Nỗ lực ấy ở con Lì, bản sao cuộc đời Diệu, còn mạnh mẽ, dữ dội hơn. Khi hai má con cãi vã, con Lì nhảy ngay xuống một trạm xăng xa lạ. Con đường trở về gốc gác, cội nguồn càng xa hơn bao giờ hết.

2. Tận hiến để cuộc đời không mờ nhạt, vô nghĩa

Ở một thái cực khác, các nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư lựa chọn cách sống tận hiến cả thể xác lẫn tinh thần để không mất tăm, mất tích giữa dòng đời vô thường. “Tận hiến” vốn là khái niệm dùng trong đạo Thiên chúa, theo nghĩa: tận hiến là cho hết, dâng hết, không còn giữ lại cho mình cái gì; sau này nội hàm và ngoại diên của từ “tận hiến” phát triển, mở rộng và sử dụng ở trong nhiều lĩnh vực của đời sống. Nhân sinh quan “tận hiến để cuộc đời không mờ nhạt, vô nghĩa” được biểu hiện trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư ở hai phương diện.

Con người Nam Bộ “hậu hiện đại” trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư giàu đức hi sinh và lòng vị tha. Họ muốn đem lại hạnh phúc cho mọi người  theo những cách khác nhau. Cương quyết tất cả mọi người sống trên cù lao Mút Cà Tha chỉ chết vì già, không chết bởi bệnh tật, trưởng ấp Tư Mốt (Thương quá rau răm) đã cố gắng làm những gì có thể nhằm giữ chân bác sĩ Văn. Ông thúc giục bà con ra trạm xá khám bệnh để bác sĩ Văn thấy được sự cần thiết của mình ở nơi mênh mang sóng nước. Ông kêu đám thanh niên đến chỗ bác sĩ Văn đàn hát, rủ đi soi ếch, giúp anh khuây khỏa nỗi nhớ nhà. Ông sai con gái bưng sang phòng bác sĩ Văn rổ khoai luộc, bắc nồi cơm lên bếp, làm cá nấu canh chua trái giác như muốn nhen lên sự quyến luyến lứa đôi. Tuy những điều ấy không ràng buộc được bác sĩ Văn nhưng tình cảm chân thành, hành động sốt sắng và lời nói mộc mạc của người nông dân bộc trực, hồn hậu vì tương lai của bốn mươi ba nóc nhà sống ở cù lao thật “đáng gì”, khiến độc giả rưng rưng, xúc động. Không băn khoăn quá nhiều chuyện được mất, cô gái điếm tên Sương (Cánh đồng bất tận) tìm cách sà vào lòng người đàn ông đầy thù hận, giành phần nấu cơm, thổi lửa, đem cá vô xóm bán, đổi thân xác cứu lấy đàn vịt… Sương nỗ lực sưởi ấm trái tim chai lì cảm xúc của cha hai đứa trẻ, xua tan không khí u ám, buồn tẻ phủ ngập chiếc ghe thiếu vắng hơi người vợ, người mẹ. Tiếc là, sự tận hiến của cô không đúng chỗ, đúng lúc. Nó bị đáp trả bằng thái độ lạnh lùng, cười cợt, bị giày xéo bởi sự hả hê, ác độc từ con người đã đổ vỡ niềm tin. Sương buộc phải ra đi. Cô gái điếm chỉ xuất hiện ở một thời đoạn trong chuỗi ngày lang thang bất tận của gia đình chị em Nương - Điền, song bằng vẻ hồn nhiên đến tưng tửng, lòng yêu ghét rạch ròi mà mãnh liệt, Sương đã gieo vào cuộc sống của hai đứa trẻ bất hạnh niềm mến thương, hi vọng. Nếu sự quên mình của trưởng ấp Tư Mốt là ý thức trách nhiệm của một công dân đối với cộng đồng thì sự hi sinh của cô gái điếm tên Sương được mách bảo bởi bản năng của một người phụ nữ từng trải, nhạy cảm. Và khi sống tận hiến, họ đã xác lập được vị trí của mình trong lòng mọi người và phác những nét khiêm nhường lên bức tranh cuộc đời.

Đối với một số nhân vật, “sự “cho kẻ khác” này tạo cho cuộc đời họ tính chất của người nghệ sĩ: niềm vui không vụ lợi, một sự đam mê, một sự vượt phóng ra ngoài những cái thông thường” (10). Chỉ là những con người nghèo khổ, ít học nhưng dì Bảy (Tình lơ), bà và Bé (Rượu trắng), Nhàn (Tro tàn rực rỡ)… luôn sẵn sàng trao những gì tốt đẹp nhất, nồng nàn nhất mà mình có cho người thân yêu. Cuộc đời họ không nhiều thú vị, cũng chẳng lắm cơ hội. Hạnh phúc lớn nhất của họ là được sống vì người khác và cả chịu đau khổ vì người khác. Bà để dành cho người thương mấy cái chân gà, một ít dưa sả hay phần canh có đầu cá lóc. Bà cần mẫn, kì công lấy rễ cây Chơn Nhơn từ Trảng Cò về phơi ba sương, chín nắng, sao vàng rồi mài mịn rải vào những thùng ủ, chưng cất lên thứ rượu làm mê dụ bao người. Còn Bé vụng về gửi mong nhớ qua những chăm sóc nho nhỏ. Bé tự tẩm rượu ấm mềm, nguyện hiến dâng cho anh phó chủ tịch xã vừa được cất nhắc lên huyện. Bé là bản sao của bà, của những người phụ nữ tháng ngày chỉ quanh quẩn nơi chái bếp nhưng có niềm vui sống mãnh liệt là được cho đi đến tận cùng mọi yêu thương. Nhàn lại chấp nhận cuộc sống tạm bợ, bất trắc đến dại khờ, mù quáng. Nhàn kiên nhẫn nhặt nhạnh lá dừa, vác từng cây gỗ làm tổ thay ngôi nhà chồng vừa quẹt ga đốt. Nhàn đi gửi những thứ cần thiết, để lúc lửa bén nóc nhà, chị chỉ cần lách mình khỏi đám cháy, kiếm chỗ ngồi nhìn chồng đăm đắm. Nhàn lo chồng không có nơi trút hờn giận, thấu vẻ tê mê, rạo rực của chồng khi nhìn lưỡi lửa khát thèm liếm láp đến mẩu gỗ cuối cùng. Và Nhàn đã dâng tặng chồng một khung cảnh rực rỡ, bi ai nhất: lặng lẽ, kiên gan đứng giữa biển lửa. Sự hi sinh của Nhàn vượt khỏi ngưỡng có thể cắt nghĩa, truy nguyên. Nhàn đã tận hiến trọn vẹn cho tình nghĩa phu thê.  

Một cảm quan thấm đẫm trong nhiều sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư là các nhân vật thường đeo đuổi đến cùng với những điều mình nghĩ, mình tin. Đó là một dạng biểu hiện khác của cách sống tận hiến để con người Nam Bộ “hậu hiện đại” không mờ nhạt, vô tăm, vô tích. Họ cô đơn lựa chọn hoài bão riêng, loay hoay, trăn trở tìm hướng giải thoát và chấp nhận mọi rủi ro, mất mát miễn thấy mình được tồn tại, hiện hữu. Một Út Hên (Đảo) suốt ba năm thấp thỏm chờ đợi một vai diễn chính. Bữa được giao vai cô ca ve cắt cổ tay để trốn đầu gấu, “Út Hên nghĩ mình phải diễn vai này hết mình mới được. Cô làm máu chảy thật, chảy đến trôi lớp vải băng bó, trôi cục thuốc gò dùng để rịt vết thương” (11). Một bà ngoại (Đi bụi) muốn dành những năm tháng cuối đời để sống cùng ông bạn già. Dầu gió, thuốc huyết áp, áo ấm… luôn sẵn sàng trong túi xách. Bộ sưu tập bản đồ đánh dấu chi chít những con đường dự định sẽ đi qua. Nhưng hàng núi công việc không tên phục vụ đám con cháu ích kỉ cứ níu chân bà. Đằng đẵng hai mươi năm thêu dệt mộng ước, một buổi đẹp trời, có nắng sáng nhuộm con đường loang ướt thành một dòng sông rờ rỡ, bà ngoại quyết bỏ lại tất cả phía sau, tìm về biển, nơi thân xác của người bạn già đã hóa thành tro. Muộn, nhưng từ bây giờ trở đi, chắc chắn họ không phải chịu cảnh vợ chồng Ngâu.

Song quá mải sống theo điều mình nghĩ, mình tin, con người Nam Bộ trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư thường rơi vào trạng thái cực đoan, vượt khỏi những thông lệ phổ biến, trở nên khác biệt với số đông. Trong Mộ gió, cả xóm nháo nhác vì một cư dân mười một tuổi biến mất, “chị vẫn nghĩ em đang chơi đâu đó” (12). Ảnh em đặt trên bàn thờ đã bao năm, “chị vẫn tin em đi chơi đâu đó” (13). Nên “chị” quyết giữ ngôi nhà ba má để lại trên nền cũ, vườn cũ, kiểu cũ. Cây nào chết, “chị” trồng lại cây như hệt. Đoạn rào nào gãy, “chị” thay đoạn khác giống y chang. “Chị” bền bỉ chờ ngày em trở về. “Chị” tận hiến cả đời cho sự tồn vong của dòng tộc. Phút gặp em, “chị” sụp xuống, “tóc xấp xãi trải xòe ra đất, lưng khum khum như một ngôi mộ” (14). “Chị” gieo vào lòng độc giả niềm cảm thương, day dứt về số phận của những người phụ nữ Nam Bộ sống chết với điều hằng nghĩ, hằng tin. Có nghĩa là “chị” đang tồn tại, hiện hữu.

Tóm lại, chẳng ồn ào, lớn tiếng, con người Nam Bộ “hậu hiện đại” trong tác phẩm của nữ nhà văn ở tận cùng Tổ quốc lựa chọn thái độ sống tích cực, khỏe khoắn, dâng tặng tất cả những gì có thể cho đời, cho người. Họ coi đó là cách “chữa trị” những “sang chấn” do thời đại đem lại. Họ xem đây là một cơ hội để mình sống có ý nghĩa, không nhạt nhòa, vô tăm tích.     

3. Hướng đến giá trị Chân - Thiện - Mĩ

        “Hậu hiện đại vốn không lập thuyết, không muốn trở thành đại tự sự. Thế nhưng, trong quá trình tồn tại và tác động đến mọi mặt đời sống, nó đã để lại dấu ấn nhất định” (15). Sự mâu thuẫn trên có căn nguyên từ chính chủ thể của “hậu hiện đại”, những con người tuy hoài nghi, cô đơn, tha hóa song ở thẳm sâu tâm hồn, họ luôn hướng đến những điều tốt đẹp, tựa như đóa hoa bị tả tơi, bầm dập vì mưa gió vẫn vươn mình đón ánh nắng mặt trời. Trong hành trình thoát khỏi “nỗi lo âu mang tên ngoại biên” (Nguyễn Thanh Nga) để trở thành trung tâm, con người Nam Bộ “hậu hiện đại” lựa chọn con đường đi có cội rễ sâu bền, vĩnh cửu nhất, phù hợp với quy luật phát triển xã hội. Đó chính là việc không chối bỏ bản năng thầm kín, sự quyết tâm đoạn tuyệt với lầm lỡ và niềm khát khao kiếm tìm cái đẹp.

Con người sinh ra luôn có nhu cầu được sống cho mình, sống đúng là mình. Bản năng thầm kín ấy được Nguyễn Ngọc Tư chú ý miêu tả trong các tác phẩm của mình với cái nhìn nhân bản và ở nhiều góc độ khác nhau. Khi là niềm mơ ước về một tổ ấm gia đình, lúc lại là sự khát khao, ham muốn nhục dục. Những con người Nam Bộ luôn đau đáu về một gia đình trọn vẹn, hạnh phúc, thứ mà họ lỡ đánh mất hoặc bị đánh cắp. Câu nói ngây thơ của Điền lần hai chị em đi qua xóm, trong một buổi chiều, gặp những ông già ngồi chơi với cháu (Cánh đồng bất tận) mới xót xa làm sao: “phải chi ông già nầy là ông nội mình, thương đỡ chơi, nghen Hai” (16). Sự hằn học của Diễm Thương (Cải ơi): “Sao tui thù con nhỏ đó quá trời, có nhà mà bỏ, có cha mẹ mà không thèm (…), còn tui, người ta quăng ở đây mười tám năm, mà không ai trở lại tìm, tui chờ hoài” (17) thật tội nghiệp. Tất cả đều mong mỏi một bến đậu. Tổ ấm gia đình trở thành đích đến của hành trình sống vốn nhiều nhọc nhằn, đổ vỡ. Họ nỗ lực vượt qua tủi hờn, rút ngắn khoảng cách để tạo dựng nếp nhà đơn sơ, gắn bó. Đó là một lời đề nghị: “Năm tới, tôi trồng cúc đi bán với Đậm nghen” và cảm nhận hằn lên trong tim Quý (Giao thừa): “thấy cần nắm lấy bàn tay lạnh giá của Đậm, rất cần” (18). Đó là thái độ “càn lên dòng chảy, lên sóng nước mà đi” của Lương (Bến đò xóm Miễu) để dệt nên một khung cảnh hết sức bình dị: Lương - người đàn ông già cỗi - mải miết chèo đò và Bông - đứa con gái lỡ lầm không còn khả năng làm mẹ - ngồi trên bến thu tiền, vuốt phẳng phiu những tờ giấy bạc nhàu lẻ vào chiếc hộp Lương đóng ngày xưa. Mơ ước một tổ ấm gia đình, những con người Nam Bộ nhỏ bé, yếu đuối của Nguyễn Ngọc Tư vẫn là một cái gì đó - đáng kể trong kiếp nhân sinh.

Một ham muốn bản năng khác của con người Nam Bộ mà Nguyễn Ngọc Tư cũng quan tâm khai thác là tính dục, bởi tính dục “là phần bản năng có ý nghĩa quan trọng bậc nhất trong việc quyết định sự tồn tại của con người” (19). Chị chọn viết về những con người có ham muốn rất người, rất đời này vì đó là dạng nhân vật thường có nội tâm “phức tạp, vật vã đấu tranh với bản năng và lí trí, với chính mình và cái nhìn chật chội của xã hội” (20) khác kiểu nhân vật “đèm đẹp” xuất hiện ở giai đoạn sáng tác trước của Nguyễn Ngọc Tư. Có thể kể đến  những người căng tràn sức sống, yêu và sẵn sàng dâng hiến như cô sinh viên trong Của ngày đã mất, Bé trong Rượu trắng. Giấu nụ cười trong mền nhưng cô sinh viên thẳng thắn bày tỏ: “được nằm kế bên thầy, thích lắm” (21), cô “cắn” vào tay thầy, để lại những dấu răng trên da thịt thầy. Mười bảy tuổi, Bé tự tay tẩm rượu ấm mềm, mở sẵn cửa chái, lên giường nằm, “mong được người ta ôm xiết một lần, lúc chia tay” (22). Ở Sông, Nguyễn Ngọc Tư còn mạnh dạn viết về đòi hỏi xác thịt của những người đồng tính, vốn khác người, luôn “vùng vẫy làm sao để sống như mình muốn, như chính mình” (23). Rời xa Tú, bạn tình đã không còn thuộc về mình, nhưng kí ức các cuộc ái ân vẫn làm Ân bồi hồi. Đi dọc sông Di, Ân nhiều lúc khó kiềm chế được nhu cầu thỏa mãn tình dục. Ân muốn chạm vào gương mặt nhỏ nhắn, thanh tú của Bối và gói nó bằng hai tay. Ân đã cắn nhẹ vành tai bị sứt, lưỡi thoáng chạm vào làn da ngậm nắng của Xu khi Xu có cử chỉ đầy âu yếm với mình. Vậy là, trong hành trình đến với Chân - Thiện - Mĩ, với nỗ lực thoát khỏi sự vô tăm, vô tích, con người Nam Bộ “hậu hiện đại” trong tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư chẳng hề ngại ngần phô bày khát khao bản năng thường bị khuất lấp, chối bỏ; góp phần hiển lộ các trạng thái đa dạng và chân thật của đời sống; qua đó khẳng định bản lĩnh nghề nghiệp và trái tim nhân hậu của nhà văn.

Ông già làm nghề chăn vịt trong truyện Cái nhìn khắc khoải của Nguyễn Ngọc Tư đã khẳng định: “làm người, không làm thì thôi, làm phải cho ngon, thiệt khó” (24). Câu nói giản dị của một con người chất phác, mộc mạc lại là triết lí sống của các thế hệ lưu dân Nam Bộ vốn trọng nghĩa khinh tài, đồng thời cũng gợi lên những thách thức, khó khăn mỗi cá nhân phải đối diện trong xã hội nhiều cạm bẫy. Nỗ lực không vô tăm vô tích, con người miệt mài, bền bỉ trên hành trình hướng về cái Thiện - những thứ trong trẻo, an lành vẫn lấp lánh đâu đây khắp cõi nhân gian.

Nguyễn Ngọc Tư đặc biệt quan tâm đến những con người đang cố gắng phản kháng, ngăn cản sự hoành hành của cái xấu, cái ác. Ông già (Hiểu lầm nhỏ về gia tài của cô gái nhỏ) kiếm sống nhờ bọn “giang hồ bệ rạc, du đãng hết thời” nhưng thương thắt ruột, thắt gan “đứa con gái xanh, mảnh như nhánh trúc”, “ngày càng gày gò do vừa học vừa làm ở xưởng tàu hủ đâu đó trong hẻm” (25). Ông lo lắng khi nghe thằng Giang Hồ Con nói: “Chút tui lấy cái quý giá nhất của con nhỏ ho lao đó xài đỡ…” (26), hiểu lầm về mất mát mà đứa con gái phải chịu đựng nên trong hoàn cảnh của mình ông chỉ có thể “hất cái pít tông ngun ngút lửa” vô lòng thằng Giang Hồ Con để “cháy tiêu cái công cụ cưỡng hiếp con gái nhà lành rồi” (27). Trong khoảnh khắc thiu thiu bên anh Tìm Nội, “em” (Gió lẻ) chợt nghe thấy một âm thanh rất nhanh “giống hệt của người thanh niên xoáy ngọn dao vào tim chị đàn bà giữa chợ” (28). Nó là dự cảm về cái xấu, cái ác. Nhìn thấy anh Tìm Nội cho xe lao vào ông Buồn đang chậm rãi làm tín hiệu mở đường ở phía trước, em đã “ngã người giằng tay anh Tìm Nội và kiệt sức níu chiếc xe trôi nghiêng về phía mình” (29). Hành động của ông già, của em rất nhanh, không so đo tính toán, chẳng màu mè, phô trương. Họ ứng xử theo sự thôi thúc của lương tri, theo tiếng gọi của bản năng hướng thiện nguyên sơ.

Con người Nam Bộ “hậu hiện đại” trong guồng quay điên đảo của thời cuộc đặc biệt vẫn biết ăn năn, sám hối. Dù là cảm giác day dứt của người cha thấy tuyệt vọng vì mớ kiến thức của mình không đủ để trợ giúp con gái trên trường quay một gameshow (Chuồn chuồn đạp nước) hay những ám ảnh quặn thắt của hai người đàn bà: một “mải đi theo những đường chỉ tay như mê lộ” (30) đã làm thất lạc đứa con trai bé bỏng (Coi tay vào sáng mưa), một gặp gỡ người tình  trên cái chòi lá trong cơn vần vũ đất trời, tuyệt vọng nghĩ về trận bão đời sẽ hành hạ, quăng quật các con sau khi sự thật bị phát giác (Một chuyện hẹn hò); nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư không né tránh sai lầm, vấp ngã, vẫn có những khoảng lặng tĩnh tâm, vẫn có những quyết định bất ngờ nhưng thanh thản. Người cha “ở với đám chuồn chuồn cào cào ong mật suốt cả cơn nắng tắt, nghĩ mông lung, tụi chuồn chuồn đã chơi với mình suốt một tuổi thơ sao không đẻ cho mình thấy, hay là mình đã từng thấy nhưng cuộc sống thành thị khiến mình quên đi” (31). Người mẹ chào giã biệt người tình rất khẽ và “nhảy ào xuống nước, nhanh như một cái nháy mắt… bươn bả vẹt sóng, nôn nả về phía bờ lá xa xăm” (32). Chị muốn đoạn tuyệt với xấu xa, lầm lỡ. Chị đã không thể chạm tay vào bờ đất nhưng các con chị có thể được ngẩng đầu. Hành trình hướng thiện cay đắng, gian nan mà ấm áp niềm tin, hi vọng. Đến với cái Chân, cái Thiện thực chất con người đã đạt đến cái Đẹp. Nhưng anh Hai Nam Bộ có chất chịu chơi, phóng khoáng, không thỏa mãn với cái gì hiền hòa, bằng lặng. Họ tìm kiếm những thứ hiếm hoi, rực rỡ, dành dụm cho mình một thế giới riêng biệt, khác thường. Nếu Vĩnh (Sầu trên đỉnh Puvan) người đã đi gần khắp các châu lục, khám phá bao ngọn núi, dòng sông, vùng đất đẹp nhất, khao khát được xem hoa sầu nở trên đỉnh Puvan thì Tam (Tro tàn rực rỡ) “có khi đứng, khi quỳ, giữ một khoảng cách vừa phải với lửa, say đắm, tê mê ngắm chúng cho đến khi cái lưỡi đỏ khát thèm liếm láp đến mẩu gỗ cuối cùng” (33). Cái Đẹp là mục đích sống của Vĩnh, là điều anh chờ đợi, chinh phục, gọi mời anh ngồi dậy mỗi ban mai, giúp anh xóa đi cảm giác trống rỗng nên khi được chiêm ngưỡng những “bông sầu đang chuyển sang phớt tím, trong vắt, hắt sáng lên vùng trời tối tăm mưa gió” (34) mà anh nghĩ không gì có thể đẹp hơn, Vĩnh thấy mình ngơ ngác, hoang mang, rời rã. Anh chọn cái chết như để bảo toàn cái Đẹp, như muốn khẳng định hành trình đến với cái Đẹp là con đường không có điểm dừng, không có giới hạn. Trong khi đó, ánh sáng lộng lẫy của tro tàn lại làm Tam thấy mình được sống một cuộc đời khác, có ý nghĩa hơn những tháng ngày say xỉn, ngủ vạ vật bên hiên nhà; làm dịu đi những mất mát, tủi hờn vì đứa con đuối nước dòng kinh. Có say sưa đứng ngó mái lá bị lửa ăn rào rào thì Tam mới còn hiện hữu trong câu chuyện kể của bà con xóm Thơm Rơm, mới làm nỗi thèm khát được chồng nhìn thấy của người đàn bà cồn cào, xa xót hơn bao giờ hết. Ở đây, cái Đẹp đã là phương cách để tồn tại, là cố gắng tận cùng của nỗ lực không vô tăm vô tích.          

Có thể nói, bằng tài năng văn chương thiên bẩm, trái tim giàu trắc ẩn, Nguyễn Ngọc Tư đã rất sâu sắc, tinh tế khi viết về những con người Nam Bộ không buông xuôi, luôn nỗ lực thoát khỏi sự vô tăm, vô tích. Nhu cầu được là chính mình, khao khát sống cuộc đời có ý nghĩa, hướng đến giá trị Chân - Thiện - Mĩ luôn dạt dào trong tâm hồn họ. Đó là dòng chảy được khơi nguồn từ thời gian đằng đẵng, không gian mênh mông, giúp họ không bị “bứng” khỏi cội rễ, lạc điệu với truyền thống của dân tộc, bản sắc của vùng đất tân lập. 

(*) NCS Bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại, giảng viên CĐSP Hải Dương

CHÚ THÍCH

1. Nhật Chiêu, Thiền và hậu hiện đại, trong Phê bình văn học hậu hiện đại Việt Nam, Nxb Tri thức, Hà Nội, 2013, tr.49.

2, 8, 9, 11, 30, 33. Nguyễn Ngọc Tư, Đảo, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2014, tr.12-13, 12, 13, 38, 68, 140.

3, 4, 18. Nguyễn Ngọc Tư, Giao thừa, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2011, tr.107-111, 47, 73.

5, 6, 7. Nguyễn Ngọc Tư, Sông, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2013, tr.44, 129, 71.

10. Trần Hữu Dũng, Những dâng hiến lặng lẽ, Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn, số Tết Canh Dần, 2010.

12, 13, 14, 22, 25, 26, 27. Nguyễn Ngọc Tư, Khói trời lộng lẫy, Nxb Thời đại, Hà Nội, 2010, tr.68, 69, 70, 118, 75, 77, 81.

15, 19. Lê Huy Bắc, Văn học hậu hiện đại - Lí thuyết và tiếp nhận, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2012, tr.316, 237.

16, 17, 24. Nguyễn Ngọc Tư, Cánh đồng bất tận, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh,  2011, tr.194, 11, 58.

20. Phạm Xuân Nguyên, Nguyễn Ngọc Tư “đổi món” với Sông, http://www.tuoitre.vn, ngày 14-9-2012.

21, 28, 29, 31, 32, 34. Nguyễn Ngọc Tư, Gió lẻ và 9 câu chuyện khác, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2008, tr.101, 171, 171, 25, 122, 59.

23. Nhã Vân, “Nguyễn Ngọc Tư: Đem chuyện phòng the ra viết, hổng dám đâu”, http://www.nld.com.vn, ngày 02-8-2004.

 

Cập nhật: 05/06/2017 - Lượt xem: 154

Bài cùng chuyên mục