Tiện ích


Thống kê truy cập

ĐỔI MỚI GIẢNG DẠY, NGHIÊN CỨU NGỮ VĂN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Tác giả: PGS.TS. Đoàn Trọng Huy - ĐHSPHN - Cập nhật: 28/03/2018

Công cuộc Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo đã được triển khai với những chuyển động của toàn bộ hệ thống. Các trường Đại học Sư phạm đã đi trước một bước trong sự nghiệp đào tạo là một động thái tích cực rất đáng hoan nghênh.

Công cuộc Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo đã được triển khai với những chuyển động của toàn bộ hệ thống.

Các trường Đại học Sư phạm đã đi trước một bước trong sự nghiệp đào tạo là một động thái tích cực rất đáng hoan nghênh.

Tuy nhiên, mọi sự cần phải được tiến hành đồng bộ, trong đó có những hoạt động như điều kiện tiên quyết: đổi mới chương trình đào tạo sư phạm, và kèm theo là viết lại các bộ giáo trình. Trước hết là phải đổi mới tư duy – sự khởi đầu cho mọi đổi mới. Phải xây dựng một quan niệm chính thống, và vận dụng triết lý giáo dục, trong đó có triết lý dạy – học ngữ văn. Đó là những chuyên đề lớn và quan trọng của những hội nghị khoa học khác.

Những điều trên coi như là mặc định.

Xin đứng ở vị trí một giảng viên để tham luận tập trung về một nhiệm vụ trọng tâm quan trọng bậc nhất: giảng dạy và nghiên cứu khoa học.

***

I/ ĐỔI MỚI GIẢNG DẠY NGỮ VĂN

Triết lý dạy học ngữ văn có ý nghĩa như kim chỉ nam định hướng cho mọi hoạt động giáo dục đào tạo trong các khoa ngôn ngữ văn học. Tiếp đó, tinh thần của mục tiêu đào tạo thông qua chương trình, giáo trình phải được hiện thực hóa ở tất cả các khâu nghiên cứu, giảng dạy.

Sau đây, xin phép nêu ra hai kiến giải quan trọng.

I.1/ Đa dạng hóa các phương pháp và loại hình giảng dạy

I.1.1/ Thống nhất về quan niệm nội hàm phương pháp và loại hình dạy học

Phương pháp dạy học có thể xác định ngắn gọn là cách thức hình thức hoạt động dạy học trong các môi trường dạy học. Phương pháp nhằm đạt mục đích dạy học theo mục tiêu đào tạo với hiệu quả cao nhất, chính là phát triển các năng lực cá nhân sinh viên. Cần hiểu, có sự bao gồm hai biểu hiện – bên ngoài (các loại hình dạy học) và bên trong (phương pháp khoa học chung như phân tích, tổng hợp, so sánh).

Loại hình dạy học thông thường được hiểu có ba dạng, ba kiểu thức chính.

Đó là dạy học cá thể hoá (nhóm nhỏ hoặc cá nhân); dạy học hợp tác (hội thảo, đối thoại, giải đáp) và dạy học theo trình độ (chung hoặc chuyên).

Mỗi chiến lược dạy học lại có các cách tiếp cận phân biệt tương đương: gián tiếp, trực tiếp hoặc độc lập.

I.1.2/ Vận dụng và phát huy những nguyên lý và phương châm của phương pháp dạy học

Các phương pháp giảng dạy nói chung và phương pháp bộ môn cụ thể cần tiếp thu và vận dụng hiệu quả tích cực của khoa học giáo dục hiện đại.

Trên cơ sở các nguyên lý, phương châm hiệu lực của các “nguyên lý tự do” của Lev Tolstoi, “nguyên lý dân chủ” của John Dewey có thể bổ sung “nguyên lý đồng đẳng” như gợi ý của UNESCO về tình hình “xã hội học tập – nhà trường tư duy” hiện nay.

I.1.3/ Tổng hợp, lựa chọn và vận dụng phương pháp thích hợp, hiệu quả nhất

Hiện đang được thực hiện một số phương pháp tiến bộ đã có những hiệu quả nhất định.

Phương pháp dạy học tích cực bao gồm nhiều biện pháp nhằm phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của người học. Đó là thực hiện quy trình học hỏi – học hiểu – học tập – học hành. Học phải động não, phải thấu hiểu và thực hành, ứng dụng. Điều này rất có ý nghĩa ở các trường học nghề như sư phạm. Tất cả tri thức phải được biến hóa thành khả năng nghiệp vụ trong tương lai.

Phương pháp dạy học dựa trên vấn đề khá phổ biến ở phương Tây – dựa trên quá trình nêu vấn đề, nhận biết vấn đề và giải quyết vấn đề.

Thông thường, bài giảng giáo trình nằm trong vấn đề bao trùm, là một vấn đề cụ thể. Một vấn đề cụ thể lại bao gồm những vấn đề lớn, nhỏ khác nhau.

Chẳng hạn, theo kết cấu của giáo trình lịch sử văn học về một tác gia thường có mấy vấn đề chính: quá trình sáng tác; thành tựu sáng tác; đặc điểm phương pháp và phong cách nghệ thuật. Cách đặt vấn đề và nêu vấn đề thâu tóm trong mỗi mục thường là: Cái gì? (tức nội dung), thế nào? (tức cách thức) và tại sao? (tức nguyên do).

Lan truyền trong dạy học là các câu hỏi mở đầu bằng Wh trong tiếng Anh. Hỏi và phải biết suy nghĩ qua vấn đề. Do cách tiếp cận khác nhau, ở những hoàn cảnh và thời điểm khác nhau, lại có những cách xem xét và đánh giá mới, thường là vấn đề, chủ đề có tính thời sự - Đọc lại Nhật ký trong tù, Nguyên Hồng từ cái nhìn thế kỷ, Tiếp nhận Nguyễn Du ngày hôm nay,…

Các vấn đề này được đưa vào trong quá trình giảng dạy, hướng dẫn nghiên cứu, học tập, hội thảo,…

Xin đề xuất phương pháp dạy học tương tác.

Phương pháp này tổng hợp, tích hợp được tất cả những tiến bộ của các phương pháp đổi mới lâu nay. Tinh thần cơ bản là phát huy vai trò chủ đạo của thầy và vai trò chủ động tiếp nhận của người học. Có sự tương tác của hai đối tượng, sự hợp đồng thích hợp cung và cầu trong truyền thụ và tiếp thu. Dạy học chỉ đạt hiệu quả cao nếu xác lập được mối quan hệ hợp lý và sự tác động hiệu quả từ hai phía.

Có thể đây là lối tư duy hiện đại theo đà xuất hiện của “bốn trụ móng” UNESCO, trong đó có phong cách “học để biết cách học” (learning to learn), “học để sáng tạo” (learning to create). Cách dạy học này cũng phù hợp với tinh thần của triết lý bộ môn là phát huy nội lực của các chủ thể để sáng tạophát triển.

I.2/ Kết hợp giảng dạy và nghiên cứu ở các khâu trong quá trình dạy học

I.2.1/ Nội dung giảng dạy phải thể hiện thành tựu nghiên cứu khoa học cập nhật

Một bộ giáo trình thường được soạn thảo có giá trị tương đối cố định trong vòng mươi năm hoặc hơn tùy theo các lần sửa đổi, điều chỉnh của chương trình đào tạo. Chính vì vậy, việc thiết kế bài giảng ngoài phần diễn giải giáo trình thường phải bổ sung những tri thức cập nhật từ việc nghiên cứu khoa học của bộ môn, hoặc của khoa học ngữ văn nói chung.

Nhiều giảng viên là chuyên gia trong các lĩnh vực cụ thể trong phần giảng dạy, nên ngoài việc thu nhận và thể hiện thành tựu chung của giới nghiên cứu thì có thể trình bày trực tiếp những kết quả nghiên cứu khoa học của bản thân, Điều đó không chỉ nâng cao uy tín cá nhân của nhà khoa học, mà chính là góp phần gia tăng chất lượng của bộ giáo trình như phần cương lĩnh tri thức cơ bản của việc đào tạo.

Đó là chưa kể việc thiết kế một giáo án giảng dạy bậc Đại học đã phải tham khảo các bộ giáo trình liên quan của các trường Đại học, hoặc cơ quan nghiên cứu như các Viện Văn học, Ngôn ngữ, Viện Khoa học Giáo dục, Viện Triết học,… hoặc các sách chuyên đề, chuyên khảo. Các Kỷ yếu Hội thảo khoa học thường là tài liệu tham khảo giàu tính thời sự cho những người đứng lớp trên bục giảng Đại học.

I.2.2/ Tăng cường đầu tư cho hướng dẫn học tập sinh viên

Phần hướng dẫn học tập, thảo luận nghiên cứu ở mỗi chương, mục giáo trình thực chất mang tính mở. Do vậy, phần này phải được đưa vào trong thiết kế bài giảng như bộ phận thiết yếu có tính chất cơ động, linh hoạt trong thực hiện.

Ngoài những câu hỏi hướng dẫn nhằm hiểu sâu và nắm chắc giáo trình, còn cần những gợi ý mở rộng để thảo luận, nghiên cứu nâng cao. Đây cũng là một biện pháp để phát huy tính sáng tạo của sinh viên ngữ văn. Họ là những bạn đọc có tri thức, hứng thú cảm nhận và có thể đóng vai trò đồng sáng tạo trong quá trình tiếp nhận. Hơn thế, sinh viên chính là đối tượng có điều kiện tốt nhất để gắn bó, hợp tác với giảng viên để thực hiện những đề tài nghiên cứu lớn, nhỏ do người thầy chỉ đạo, hướng dẫn và nghiệm thu.

Những hướng dẫn, thảo luận nghiên cứu khoa học có thể được tăng cường qua khâu tự học, hoặc học tập thể - nhóm, tổ, lớp như công việc tiếp nối của diễn giảng trên lớp, nằm trong thời lượng hoạt động chuyên môn của giảng viên.

 

II/ ĐỔI MỚI NGHIÊN CỨU VÀ HƯỚNG DẪN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

 II.1/ Tăng cường hoạt động nghiên cứu khoa học theo chức năng, nhiệm vụ

Có một thực trạng đáng buồn và gây bức xúc trong dư luận xã hội là trình độ và khả năng nghiên cứu của giới khoa học còn nhiều bất cập.

Theo những thông tin đáng tin cậy đã  được công khai, thì số công trình (sách, báo, bài viết) được công bố của một giảng viên có trình độ chỉ đạt khoảng 1/10 hàng năm. Cũng theo một số liệu cụ thể, trong vòng 15 năm qua, 1 Giáo sư công bố trung bình khoảng 0.5 bài viết trên báo quốc tế - tức bằng khoảng 1/5 so với Thái Lan, 1/6 so với Malaysia và khoảng 1/10 so với Singapore. Tất nhiên, một phần cũng do thiếu điều kiện đăng tải ở báo chí, hoặc tham dự các diễn đàn quốc tế. Nếu tính cả  các tham luận Hội nghị khoa học quốc tế ở Việt Nam, chắc con số công trình của các nhà khoa học có học hàm, học vị có thể tăng hơn, nhưng không đáng kể so với khu vực – do ta có số lượng vào loại cao nhất: hơn 100000 thạc sĩ, trên 24000 tiến sĩ, trên 11000 Giáo sư, Phó Giáo sư.

Đổi mới nghiên cứu khoa học, trước hết là tự nâng cao giá trị khoa học của bản thân.

Theo các văn bản pháp quy, căn cứ vào Luật Giáo dục và Luật Giáo dục Đại học, thì nhiệm vụ chính trị của một giảng viên bao gồm giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Số giờ được quy định trong chế độ làm việc là 40 giờ/ tuần,  tức 1760 giờ/ năm. Trong phân bổ đại thể là 3 (giảng dạy), 2 (nghiên cứu), 1 (hoạt động chuyên môn khác).

Tùy theo phân hạng – trợ giảng, giảng viên, giảng viên chính, giảng viên cao cấp thì số giờ quy định lại khác nhau, hạng càng cao thì càng nhiều. Hiện Bộ Giáo dục – Đào tạo đang phân tầng (phân loại) Đại học, gồm ba tầng – nghiên cứu, ứng dụng và thực hành. Phân lượng có thể khác nhau, chênh lệch nhau. Tuy nhiên, ở các trường lớn – trọng điểm quốc gia, các khu vực thì hầu như không có sự phân biệt rõ rệt giữa nghiên cứuứng dụng.

Tóm lại, với số lượng thời gian tương đối lớn – trên dưới 500 giờ/ năm, việc cần phải đạt đến số một vài công trình trong năm (bài báo, tham luận Hội nghị khoa học…) là cần thiết. Tất nhiên, còn có nhiều hình thức tham gia nghiên cứu, như các dự án, các đề tài cấp quốc gia của tập thể đội ngũ.

Các Hội nghị khoa học, Hội thảo đề tài… ở các trường Đại học, các cơ quan nghiên cứu Vụ, Viện… chính là các cơ hội, thử thách để mỗi người phát huy khả năng đóng góp tích cực vào sự nghiệp khoa học nói chung.

Tích tiểu thành đại, lấy ngắn nuôi dài sẽ tạo được những công trình quy mô (sách, chuyên luận,tuyển tập…) trong cả quá trình công tác, giảng dạy và nghiên cứu. Đó cũng là kinh nghiệm thực tế của đội ngũ đông đảo, nhất là của những người đi trước.

Ngay trong khoa Ngữ văn Đại học Sư phạm đã có nhiều tấm gương sáng của nhiều thế hệ giảng viên, nhất là số có học hàm, học vị, có uy tín trong giới khoa học của cả nước. đó cũng là niềm tự hào chung, và là điều rất đáng khích lệ với đội ngũ, nhất là lớp trẻ.Từ trước tới nay, Khoa vẫn  là một trung tâm nghiên cứu Khoa học Ngữ Văn và Sư phạm có uy tín trong cả nước.

II.2/ Tăng cường đầu tư và đổi mới hướng dẫn nghiên cứu khoa học cho các hệ đào tạo

Có những công việc chuyên môn với những quy trình, mức độ khác nhau cho các hệ đào tạo Đại học và sau Đại học. Như việc hướng dẫn khóa luận hay đồ án, luận văn tốt nghiệp cho sinh viên, hướng dẫn học viên Cao học làm luận văn Thạc sĩ, hướng dẫn Nghiên cứu sinh làm luận án Tiến sĩ.

Sau đây xin quy vào một vài vấn đề chung nhất.

II.2.1/ Đầu tư công sức, hướng dẫn tìm đề tài nghiên cứu

Thông thường, đây là sự khởi đầu có nhiều khó khăn, phức tạp ở nhiều mức độ khác nhau của sự nghiệp đào tạo.

Đã có không ít sự lúng túng trong tìm kiếm, lựa chọn vấn đề, khổng thể tránh khỏi có những loại đề tài sáo mòn, hoặc khiên cưỡng khi vận dụng vào phân tích tác gia, tác phẩm hoặc tiến trình văn học.

Chẳng hạn, lý luận thi pháp vận dụng vào khảo sát văn học một thời kỳ, một dòng văn học,một tác gia  nhưng có khi chỉ xem xét áp đặt vào một bài thơ, một bài ca dao ngắn. Hoặc như một nét phong cách được quy cho là toàn bộ phong cách của một nhà văn, kể cả nhà văn lớn.

Nếu biết cách, và có cách khai thác tốt, sẽ thấy có thể có vô số đề tài lớn, nhỏ cho nghiên cứu.

Trước hết và sau cùng, bao giờ đề tài, vấn đề cũng nằm ngay trong bản thên của lịch sử văn học của chính khoa học ngôn ngữ, văn học, giáo dục… Nói cách khác, những vấn đề nội tại, hàm chứa trong tiến trình vận động của văn học trong hình thành và phát triển của quan niệm tư tưởng, phong cách nhà văn; trong tổng thể một tác phẩm hoặc nhóm tác phẩm như những sản phẩm tinh thần có  đời sống, có sinh mệnh.

Vấn đề chỉ là phương pháp khai thác với những quan điểm, tư tưởng chính trị, lịch sử, xã hội và những lý thuyết về văn học – nghệ thuật dưới những ánh sáng mới của thời đại. Những cách tiếp nhận khác nhau sẽ đem lại những kết quả nghiên cứu không giống nhau. Từ phương pháp so sánh, sẽ nảy sinh những phát hiện về tương đồng và dị biệt.

Chỉ xin nêu một dẫn chứng gần nhất hiện nay.

Kỷ niệm đại lễ 250 năm sinh của Nguyễn Du được tiến hành từ đầu năm và sẽ kết thúc vào tháng 12/2015. Qua các hội thảo khoa học ở các địa phương cũng như trung ương, các trường Đại học, hay ở cơ quan nghiên cứu các Vụ, Viện,  qua dư luận truyền thông, báo chí đã có thể thấy hàng trăm đề tài các loại, với những cách tiếp cận hết sức phong phú. Có sự vận dụng lý luận văn học hiện đại với nhiều lý thuyết mới lạ xuất hiện (như phê bình nữ quyền chẳng hạn). Truyện Kiều sau hai thế kỷ  cho tới nay vẫn là tác phẩm có lịch sử tiếp nhận phong phú nhất và cũng rất phức tạp do những chính kiến, tư tưởng và quan điểm học thuật khác nhau và còn được tiếp tục khai thác, khám phá cùng với di sản văn hóa của bậc đại thi hào.

Đề tài của nghiên cứu văn học xuất phát từ những vấn đề văn hóa, xã hội và của bản thân tiến trình vận động, sự phát triển của văn học. Chỉ cần theo dõi chủ đề của các Hội thảo khoa học do Hội đồng lý luận phê bình Văn học Nghệ thuật Trung ương đề xuất và trực tiếp chỉ đạo mấy năm nay đủ rõ:

-  Phấn đấu sáng tạo nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật có giá trị tư tưởng nghệ thuật cao (Hội thảo 2013, xuất bản 2014).

-  Vấn đề đạo đức xã hội trong văn học nghệ thuật hiện nay (Hội thảo 2014, xuất bản 2015).

-  Văn học nghệ thuật với việc xây dựng nhân cách con người Việt Nam hiện nay (Hội thảo 10/2015, sẽ xuất bản vào năm 2016).

Riêng Hội thảo này đã có trên 100 tham luận.

Những năm chẵn về năm sinh, ngày mất của các nhà văn tên tuổi cũng là dịp để tổ chức những Hội thảo và những chủ đề cho báo chí, truyền thông.

Đã có những Hội thảo Kỷ niệm 100 năm ngày sinh Nguyễn Tuân - 2010, 10 năm ngày mất Tố Hữu – 2012, 95 năm ngày sinh Nguyên Hồng – 2013, 100 năm ngày sinh Nam Cao – 2015, 120 năm ngày sinh Trần Tuấn Khải – 2015… Những kiệt tác cũng được đọc vào những thời điểm có ý nghĩa lịch sử ( 70 năm Nhật ký trong tù  - 2013) hoặc những phong trào văn thơ tiêu biểu (Nhìn lại Thơ mới và văn xuôi Tự lực văn đoàn – 2013).

Thường xuyên tìm ra vấn đề, đề tài là do cách tiếp cận mới, góc nhìn mới, cái nhìn, nghệ thuật mới, sự vận dụng lý luận mới. Với một tác gia lớn, một tác phẩm kiệt tác bất hủ hầu như để một đời nghiên cứu cũng chưa đủ.

Xin chia sẻ một trải nghiệm bản thân. Do ngưỡng mộ tài năng thi ca lớn Chế Lan Viên, tôi đã để công nghiên cứu, tới nay đã ra sách và viết hơn 60 bài về nhà thơ với niềm hứng thú và suy tư như chưa vơi cạn. Với Tố Hữu cũng tương tự, có tới hơn 40 đầu sách, bài báo các loại.

Dĩ nhiên ở nhà văn, nhà thơ lớn có sự nghiệp sáng tác đồ sộ, để tìm ra vấn đề thì cũng phải biết cách đào sâu, lật đi lật lại, xoay trở nhiều góc độ để quan sát, khảo nghiệm, suy tư. Tóm lại,chủ yếu  phải có phương pháp chính xác và hiệu quả.

Đề tài nghiên cứu phải có tiêu chí đích đáng khoa học, thực sự có ý nghĩa, có giá trị. Có những vấn đề lạ mà không mới, mới mà kỳ dị - khác thường và bất thường, cần phải xem xét hết sức thận trọng, nhất là vấn đề còn  tranh luận gay cấn, phức tạp  có tính chất nhạy cảm cả về chính trị tư tưởng và cả về học thuật.

II.2.2/ Gia tăng và đổi mới quy trình hướng dẫn tiến hành nghiên cứu khoa học

Tìm được đề tài phải xử lý và tiến hành thực hiện theo một lộ trình được thiết kế một cách khoa học: từ nghiên cứu tác gia, tác phẩm. đọc kỹ  văn bản, đọc hết các công trình liên quan, lập thư mục đến xây dựng đề cương, tiến hành viết các bước.

Với mỗi công trình khóa luận, luận văn, luận án, do có những mức độ khác nhau, yêu cầu khác nhau nên cần phải có những hoạt động hướng dẫn chuyên biệt, theo những văn bản pháp quy và quy định khoa học.

Người hướng dẫn với cương vị và chức trách được quy định cần có kế hoạch, lịch trình làm việc khoa học, thực hiện nghiêm túc và yêu cầu sinh viên, học viên, nghiên cứu hoàn thành với tinh thần kỷ luật, trách nhiệm cao nhất. Đồng thời thường xuyên khích lệ, tạo điều kiện tốt nhất cho người tiếp nhận hướng dẫn nghiên cứu.

Đặc biệt, như vai trò người đỡ đầu tinh thần, cần xem xét kỹ những phần đã hoàn thành để kịp thời bổ cứu, chinh lý hoặc phát huy. Một việc quan trọng là cần giúp đỡ để công bố kịp thời các bài viết theo mức yêu cầu trên các phương tiện truyền thông từ trang mạng của Khoa và cơ sở liên quan  đến báo chí và diễn đàn khoa học trong ngoài trường vào những cơ hội, những dịp thuận lợi nhất.

Quy trình hướng dẫn cần được đổi mới trên tinh thần trách nhiệm cao, chú trọng phương pháp và những lý thuyết mới, phát huy cao độ tính độc lập, tự chủ và sáng tạo của người được hướng dẫn.

Các giảng viên cần nhận thức rõ hướng dẫn nghiên cứu, cũng là cơ hội rèn giũa bản lĩnh khoa học làm nên mình  và hợp tác đồng hành cùng đối tượng khám phá, sáng tạo khoa học.

***

Từ Hội nghị khoa học quốc gia này, mong rằng sẽ có những hội nghị khác về những chuyên đề đã đề xuất như trên: triết lý giáo dục và triết lý dạy học ngữ văn, mục tiêu đào tạo đổi mới, chương trình và giáo trình mới.

Mong rằng kết quả của Hội nghị này như thành tựu một sự đầu tư trí tuệ, tâm huyết quý giá sẽ được phát huy, tạo sự chuyển động dây chuyền trong hệ thống các trường sư phạm và lan tỏa tới cả nhà trường phổ thông.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.      Phạm Minh Hạc (2011), Triết lý giáo dục Việt Nam và thế giới, Giáo dục.

2.      Đoàn Trọng Huy (2012), Triết lý Hồ Chí Minh về giáo dục, Tạp chí Triết học.

3.      Đoàn Trọng Huy (2012), Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục – đào tạo, Tạp chí Giáo chức Việt Nam số 61.

4.      Đoàn Trọng Huy (2014), Suy nghĩ về đổi mới phương pháp dạy và học văn, Kỷ yếu Hội thảo khoa học Dạy học Ngữ văn trong bối cảnh đổi mới căn bản,  toàn diện giáo dục Phổ thông, Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh.

Cập nhật: 28/03/2018 - Lượt xem: 49

Bài cùng chuyên mục