Tiện ích


Thống kê truy cập

PHÁT HIỆN MỘT SỐ TÁC PHẨM MỚI THUỘC THỂ LOẠI TỪ THỜI LÊ TRUNG HƯNG(*)

Tác giả: LÊ TÙNG LÂM - Cập nhật: 02/08/2020

Từ là một thể loại văn học Trung Quốc đã được du nhập vào Việt Nam. Đây là một thể loại văn học gắn liền với âm nhạc và diễn xướng. Để sáng tác, người nghệ sĩ phải chiểu theo thanh luật của từ điệu để điền từ. Sự kết hợp hài hoà giữa ngôn từ và nhạc tính để lay động lòng người chính là điểm đặc sắc của từ khúc. Để làm được điều đó không chỉ cần đến tài văn chương thường được sĩ tử xưa dụng công rèn luyện mà còn cần tới một tâm hồn nghệ sĩ với cảm quan âm nhạc tinh tế - điều mà không phải bất kỳ ai cũng có được(1).

Người tác từ đầu tiên trong lịch sử nước ta là nhà sư Khuông Việt với tác phẩm Ngọc lang quy nhằm tiễn sứ thần Tống triều Lý Giác về nước năm 987. Tuy nhiên cho đến thời Lê Trung hưng, từ khúc vẫn chưa phải là một thể loại văn chương được phổ biến rộng rãi: "việc tác từ ở giai đoạn này chỉ là sự thể nghiệm một thể loại văn học khác bên cạnh các thể loại thơ ca truyền thống”(2). Cho tới nay chúng ta chỉ tìm được bảy tác giả và 58 tác phẩm từ trong thời kì này(3).

Trong bài viết này, chúng tôi xin giới thiệu hai tác giả mới với 19 tác phẩm từ chưa từng được biết đến trong thời Lê Trung hưng. Đây là tác phẩm của một nhóm bạn thơ phong lưu tài tử. Trong đó có một nhân vật khá nổi tiếng trên văn đàn. Đó là văn sĩ Đặng Trần Côn. Khoảng năm Ất Mão 1735, Đặng Trần Côn cùng ba người bạn là 楊監生Dương Giám sinh và hai tài tử ở đất Sơn Tây 阮紫頷 Nguyễn Tử Hàm và 阮玉蟾 Nguyễn Ngọc Thiềm liên cú thù tạc, xướng họa về nhiều đề tài khác nhau theo hai thể: thơ và từ. Chúng tôi đã gắng công tra cứu song trừ Đặng Trần Côn ra thì không thể tìm được bất cứ một thông tin nào về những người còn lại.

Nhóm bạn này thường ưa đi chơi đêm, lập hội thơ liên cú thù tạc, xướng họa. Theo đúng thể lệ trong hội thơ của vườn Kim Cốc, người nào không làm được thơ sẽ bị phạt uống ba đấu rượu. Đây là một nếp sinh hoạt rất tao nhã và thú vị.

Tác phẩm của họ được chép trong phần 撫掌新書Phủ chưởng tân thư, cuốn 名言雜著 Danh ngôn tạp trước kí hiệu A.1073 đang được lưu trữ trong kho sách Hán Nôm. Cho tới giờ, sách vẫn được bảo quản trong điều kiện rất tốt. Sách dày 260 trang, kích cỡ 30x20cm. Phần Phủ chưởng tân thư dài 16 trang được chép bằng chữ khải đẹp, rõ ràng. Mỗi trang có 9 dòng, mỗi dòng có khoảng 18 chữ.

Sách có thể chia làm hai phần: phần đầu chép các tác phẩm từ của Đặng Trần Côn và Nguyễn Ngọc Thiềm, phần sau chép hai bài thơ xướng họa của cả bốn người. Tuy nhiên chủ yếu tập sách chép tác phẩm của Nguyễn Ngọc Thiềm và Đặng Trần Côn gồm 17 bài từ trên 15 trang đầu.

Phần từ chỉ có Nguyễn Ngọc Thiềm và Đặng Trần Côn sáng tác theo bốn đề mục sau:

春夜懷情人Xuân dạ hoài tình nhân: gồm bốn bài từ theo điệu 雨中花Vũ trung hoa. Nguyễn Ngọc Thiềm và Đặng Trần Côn mỗi người làm hai bài.

*戎婦寄征夫Thú phụ ký chinh phu: gồm bốn bài từ. Hai bài đầu theo điệu 滿庭芳Mãn đình phương. Nguyễn Ngọc Thiềm và Đặng Trần Côn mỗi người làm một bài. Hai bài sau theo điệu 望江湖Vọng giang hồ. Hai người mỗi người làm một bài.

*征夫寄還Chinh phu ký hoàn: gồm có bảy bài.

Bốn bài đầu theo điệu 望江南Vọng Giang Nam. Đặng Trần Côn làm 3 bài, Nguyễn Ngọc Thiềm làm một bài. Ba bài sau theo điệu 長相思Trường tương tư. Đặng Trần Côn làm một bài, Nguyễn Ngọc Thiềm làm hai bài.

*奪錦榮歸Đoạt cẩm vinh quy: gồm hai bài từ theo điệu 南鄉子Nam hương tử. Đặng Trần Côn và Nguyễn Ngọc Thiềm mỗi người làm một bài.

Do nhiều nguyên nhân khác nhau, phần đông các bài từ này đều có tính không chuẩn xác khi so sánh với từ phổ. Tuy nhiên, nếu xét trên văn đàn thời Lê Trung hưng thì đây cũng không phải một hiện tượng gì đặc biệt(4).

Đề tài xướng vịnh thù tạc ở đây chỉ quanh quẩn chuyện mĩ nhân, tình ái. Đặc biệt ở đây ta đã bắt gặp 11 bài từ về chủ đề chinh phu, chinh phụ: Thú phụ kí chinh phu (người vợ có chồng đi lính thú gửi cho chồng), Chinh phu kí hoàn (người chồng đi chinh chiến gửi lại). Tác phẩm khắc họa khá thành công tình cảm sâu đậm của đôi vợ chồng trẻ phải chia lìa giữa buổi binh đao.

Người chinh phu ra đi với bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ, ôm mộng công danh. Chàng tuy nhớ thương vợ da diết song vẫn quyết chí xông pha dựng xây nghiệp lớn:

魂歸故里

身在重關

正名韁多絆

賊甲未殘

弧矢男兒多事

卿卿有鏡莫驚鸞

歸去也印大如斗

領與伊看

“Hồn quy cố lý

Thân tại trùng quan

Chính danh cương đa bạn

Tặc giáp vị tàn

Hồ thỉ nam nhi đa sự

Khanh khanh hữu kính mạc kinh loan

Quy khứ dã ấn đại như đấu

Lãnh dữ y khan “

(Hồn về chốn cũ

Thân tại quan san cách trở

Chính danh phải chịu nhiều điều ràng buộc

Quân giặc chưa tan

Nghiệp cung kiếm nam nhi nhiều phận sự

Vợ yêu chớ u buồn vì lẻ loi chiếc kính ở buồng loan

Khi trở về ấn lớn bằng cái đấu

Lĩnh về cùng xem)

Chinh phu kí hoàn - Đặng Trần Côn

Người vợ trẻ cũng ở nhà vò võ ngóng trông chồng nơi quan ải, tiếc thương cho tuổi xuân của mình:

夫君一去幾時還

魂夢乍知青海外

望眸不到玉門關

紅淚濕欄杆

心意苦

不奈朔風寒

料想黃雲征戰地

壯懷直擬斬樓欄

寧肯念花顏

“Phu quân nhất khứ kỉ thời hoàn

Hồn mộng sạ tri Thanh Hải ngoại

Vọng mâu bất đáo Ngọc Môn Quan

Hồng lệ thấp lan can

Tâm ý khổ

Bất nại sóc phong hàn

Liệu tưởng hoàng vân chinh chiến địa

Tráng hoài trực nghĩ trảm Lâu Lan

Ninh khẳng niệm hoa nhan ?”

(Phu quân một đi lúc nào trở lại

Giật mình chợt thấy hồn mộng ngoài cõi Thanh Hải

Mắt ngóng trông chẳng tới Ngọc Môn Quan

Lệ hồng ướt lan can

Tâm ý khổ não

Chẳng kể tới phong hàn

Liệu tưởng chốn chinh chiến mây vàng

Tráng sĩ trong lòng luôn tính chuyện chém giặc Lâu Lan

Há có nhớ tới gương mặt yêu kiều?)

Thú phụ kí chinh phu - Nguyễn Ngọc Thiềm

Chàng ra trận tính chuyện lập tước phong hầu, tận trung báo quốc. Trải qua bao gian hiểm không biết chàng có nhớ tới người vợ hiền lẻ loi chốn buồng loan hay không? Nàng nhớ thương tới đờ đẫn, si dại:

魂迷楚岫夢到秦關

祇黃昏又夜

明月初殘

穿尽燈前冷眼

幾迴把鏡泣孤鸞

腸斷兮憑誰担去

剖與君看

“Hồn mê Sở tụ, mộng đáo Tần quan

Kì hoàng hôn hựu dạ

Minh nguyệt sơ tàn

Xuyên tận đăng tiền lãnh nhãn

Kỷ hồi bả kính khấp cô loan

Trường đoạn hề bằng thuỳ đản khứ

Phẫu dữ quân khan”

(Hồn mê non Sở, mộng đến Tần quan

Hết hoàng hôn lại tới đêm

Trăng sáng mới tàn

Gió rét xuyên vào tận trước đèn

Bao lần soi gương khóc than tấm thân cô độc

Đứt ruột chừ biết cậy nhờ ai đưa tới

Xin mổ ra cho chàng xem)

Thú phụ kí chinh phu - Đặng Trần Côn

Đêm ngày bị nỗi đau xé ruột giày vò, chàng có biết hay chăng?

Căn cứ theo số lượng tác phẩm, chúng ta có thể biết chắc Đặng Trần Côn và Nguyễn Ngọc Thiềm là đôi bạn thân thiết nhất trong nhóm. Hai người rất tự tin, kiêu hãnh về văn tài phun châu nhả ngọc của mình. Cũng có lúc họ bộc lộ khát vọng làm trai lập thân dương danh chốn khoa trường nhưng chung cục lại quay về với cảnh

雄筆掃長篇

占了儒林弟一仙

顯姓揚名新得意

翻螭陛擎天雨露鮮

白面稱青年

梓里香風引玉鞭

晝錦堂青

簫鼓沸喧喧

燭傍青娥共倒顛

“Hùng bút tảo trường thiên

Chiếm liễu nho lâm đệ nhất tiên

Hiển tính dương danh tân đắc ý

Phiên ly bệ kình thiên vũ lộ tiên

Bạch diện xứng thanh niên

Tử lí hương phong dẫn ngọc tiên

Trú cẩm đường thanh

Tiêu cổ phí huyên huyên

Chúc bạng thanh nga cộng đảo điên”

(Ngòi bút hùng tráng viết trường thiên

Chiếm được vị trí đệ nhất trong rừng nho

Tên họ lẫy lừng thật đắc ý

Thỏa thích dưới bệ rồng hưởng ơn mưa móc

Gương mặt thư sinh đáng mặt thanh niên

Khi trở về quê hương cưỡi ngựa tay cầm roi ngọc

Phủ đường lộng lẫy

Tiêu trống nổi vang rền

Bên đèn điên đảo cùng ả mày xanh)

Đoạt cẩm vinh quy - Nguyễn Ngọc Thiềm

Lả lơi cùng người đẹp trong nhịp phách sênh, thả hồn theo điệu hát - đó là việc đầu tiên họ muốn làm sau khi đề tên trên kim bảng. Những tác phẩm trên của hai người có thể coi như một bằng chững xác thực về nếp sinh hoạt tương đối phóng túng của họ: đi chơi kĩ nữ, hát ả đào. Đương thời ngoại thương phát triển, nếp sống đô thị hình thành một cách manh mún đã góp phần tạo điều kiện cho thú ăn chơi xa xỉ này trở nên phổ biến hơn. Tình ái dường như là một phần không thể thiếu trong cuộc đời họ - một niềm hạnh phúc khó có thể diễn đạt thành lời với biết bao nhớ nhung khắc khoải:

愛一刻千金

度一刻千金

….

獨寢也五更深

溫一半短衾

冷一半短衾

相思梦中尋

“Ái nhất khắc thiên câm

Độ nhất khắc thiên câm

…..

Độc tẩm dã ngũ canh thâm

Ôn nhất bán đoản khâm

Lãnh nhất bán đoản khâm

Tương tư mộng trung tầm”

(Yêu thương một khắc đáng giá ngàn vàng

Thời gian trôi đi một khắc đáng giá ngàn vàng

….

Một mình trên chiếc giường năm canh dài dằng dặc

Ấm nửa tấm chăn mỏng

Lạnh nửa tấm chăn mỏng

Tương tư tìm trong mộng)

Xuân dạ hoài tình nhân -Nguyễn Ngọc Thiềm

Bọn họ là những tài tử đa tình, đã để khá nhiều tâm sức vào chuyện gương lược phấn son.

Phải thẳng thắn nói rằng giá trị nghệ thuật của những tác phẩm trong tập Phủ chưởng tân thư có chỗ cũng chưa phải là điêu luyện. Vì được Đặng Trần Côn và Nguyễn Ngọc Thiềm viết ra trong lứa tuổi thanh xuân khi văn tài còn chưa đạt tới độ chín (năm Ất Mão 1735 - khi Đặng Trần Côn khoảng trên hai mươi tuổi). Đó là một thời thanh niên đầy nhiệt huyết, dùng văn chương kết bạn bốn phương.

Sau đây là phần phụ lục, chúng tôi đã cố gắng biên dịch tất cả các tác phẩm từ và in phần chữ Hán theo đúng văn bản gốc, hi vọng có thể đóng góp một phần nhỏ trong việc nghiên cứu từ điệu trong thời Lê Trung hưng.

PHỤ LỤC

撫掌新書

阮玉蟾

山西和茂

鄧陳琨

山南仁睦

春夜懷情人

蟾宮閨怨

皓娟娟月護松陰

愛一刻千金

度一刻千金

聽聲聲枕畔虫吟

訴一曲春心

傕一曲春心

獨寢也五更深

溫一半短衾

冷一半短衾

相思梦中尋

怕一唱翰音

醒一唱翰音

的淒涼愁思難禁

念一度沉沉

望一度沉沉

右仁睦

Phiên âm:

PHỦ CHƯỞNG TÂN THƯ

Nguyễn Ngọc Thiềm

Sơn Tây Hòa Mậu

Đặng Trần Côn

Sơn Nam Nhân Mục

Xuân dạ hoài tình nhân

Thiềm cung khuê oán

Hạo quyên quyên nguyệt hộ tùng âm

Ái nhất khắc thiên câm

Độ nhất khắc thiên câm

Thính thanh thanh chẩm bạn trùng ngâm

Tố nhất khúc xuân tâm

Thôi nhất khúc xuân tâm

Độc tẩm dã ngũ canh thâm

Ôn nhất bán đoản khâm

Lãnh nhất bán đoản khâm

Tương tư mộng trung tầm

Phạ nhất xướng hàn âm

Tỉnh nhất xướng hàn âm

Đích thê lương sầu tứ nan câm

Niệm nhất độ trầm trầm

Vọng nhất độ trầm trầm

Hữu Nhân Mục

Dịch:

CUỐN SÁCH MỚI ĐƯỢC HOAN NGHÊNH

Nguyễn Ngọc Thiềm

Làng Hòa Mậu, phủ Sơn Tây

Đặng Trần Côn

Làng Nhân Mục, phủ Sơn Nam

Đêm xuân nhớ người yêu

Nỗi oán hận phòng khuê chốn cung trăng

Ánh trăng sáng vằng vặc chiếu trên bóng tùng

Yêu thương một khắc đáng giá ngàn vàng

Thời gian trôi đi một khắc đáng giá ngàn vàng

Bên gối nghe tiếng trùng kêu rả rích

Động một khúc lòng xuân

Giục giã một khúc lòng xuân

Một mình trên chiếc giường năm canh dài dằng dặc

Ấm nửa tấm chăn mỏng

Lạnh nửa tấm chăn mỏng

Tương tư tìm trong mộng

Sợ một tiếng gà gáy

Thức dậy một tiếng gà gáy

Thực thê lương u sầu khó cản

Nhớ một độ buồn thăm thẳm

Ngóng trông một độ buồn thăm thẳm

Hữu Nhân Mục

冷清清月射書軒

惱一段熬煎

傕一段熬煎

恙嚷嚷意馬心猿

度一刻如年

捱一刻如年

相思也凭幽欄

听一聲杜鵑

怨一聲杜鵑

孤另也上牙床

撫一枕無眠

傕一枕無眠

竟何辰和你團圓

做一對因緣

好一對因緣

右和茂

Phiên âm:

Lãnh thanh thanh nguyệt xạ thư hiên

Não nhất đoạn ngao tiên

Thôi nhất đoạn ngao tiên

Dạng nhương nhương ý mã tâm viên

Độ nhất khắc như niên

Nhai nhất khắc như niên

Tương tư dã bằng u lan

Thính nhất thanh đỗ quyên

Oán nhất thanh đỗ quyên

Cô lánh dã thướng nha sàng

Phủ nhất chẩm vô miên

Thôi nhất chẩm vô miên

Cánh hà thì hoà nhĩ đoàn viên

Tố nhất đối nhân duyên

Hảo nhất đối nhân duyên

Hữu Hòa Mậu

Dịch:

Ánh trăng lạnh lẽo chiếu tới thư phòng

Ảo não như bị vò xé

Bồn chồn như bị băm xẻ

Âm thanh lao xao tâm hồn bất định

Một khắc trôi qua tựa một năm

Một khắc lần lữa tựa một năm

Tương tư dựa vào lan can buồn bã

Nghe một tiếng đỗ quyên

Oán hận một tiếng đỗ quyên

Cô đơn trên chiếc giường ngà

Vỗ chiếc gối đơn không ngủ được

Đập chiếc gối đơn không ngủ được

Biết bao giờ mới được cùng người đoàn viên

Làm một cặp nhân duyên

Một cặp nhân duyên hạnh phúc

Hòa Mậu

只个燈兒和个影

誰念我書齋孤另

況雨打梨花

柴門半掩

愁殺春閨永

鸞鳳佳期何日整

沉吟處寒風越冷

正無枕搗床梦見不穩

添却相思病

右和茂

和雨中調

Phiên âm:

Chỉ cá đăng nhi hoà cá ảnh

Thuỳ niệm ngã thư trai cô lánh

Huống vũ đả lê hoa

Sài môn bán yểm

Sầu sát xuân khuê vĩnh

Loan phượng giai kỳ hà nhật chỉnh

Trầm ngâm xứ hàn phong việt lãnh

Chính vô chẩm đảo sàng mộng kiến bất ổn

Thiêm khước tương tư bệnh

Hữu Hòa Mậu

Hòa vũ trung điệu

Dịch:

Chỉ có bóng đèn hòa với bóng ta

Ai nhớ đến ta nơi trai phòng cô đơn lạnh lẽo

Huống hồ mưa gió vùi dập hoa lê

Cửa sài nửa khép

Nỗi muộn phiền làm héo mòn tuổi xuân chốn phòng khuê

Đôi loan phượng bao giờ cho dến ngày sum họp

Ngồi trầm ngâm gió rét càng thêm lạnh

Giường không gối nằm trăn trở không yên giấc

Lại thêm mắc bệnh tương tư

Hòa Mậu

Theo điệu Vũ trung hòa

堦外銀蟾臨玉案

這裡最淒涼庭院

帶悶紗窻花主餓眼

不管神魂亂

猛聽霜宵寒怯雁

心病處一場離怨

想浪度時光

芳容瘦損

誤此風流漢

右仁睦

Phiên âm:

Giai ngoại ngân thiềm lâm ngọc án

Giá lí tối thê lương đình viện

Đái muộn sa song hoa chủ nga nhãn

Bất quản thần hồn loạn

Mãnh thính sương tiêu hàn khiếp nhạn

Tâm bệnh xứnhất trường ly oán

Tưởng lãng độ thời quang

Phương dung sấu tổn

Ngộ thử phong lưu Hán

Hữu Nhân Mục

Dịch:

Ánh trăng sáng từ ngoài thềm chiếu vào bàn ngọc

Trong nhà không khí thật thê lương

Song the rũ buồn, mắt hoa mệt mỏi

Chẳng quản thần hồn rối loạn

Nghe sương đêm rơi buốt lạnh khiến bầy nhạn kinh hồn

Tâm bệnh cả một trường li oán

Nghĩ tới thời gian trôi đi

Nhan sắc hao gầy

Lầm lỡ cuộc đời anh chàng phong lưu

Nhân Mục

戎婦寄征夫

車馬出門

風塵極目

時時有淚難乾

粧樓孤倚

鏡攬怯愁顏

惆悵垂楊滿地

離別後却為君攀

斷腸處珊瑚帳冷

不睡五更闌

時光容易過

月明一片

秋滿千山

正戎衣欲寄力搗風寒

燈下重書錦字

憑雁併信與君看

沙場外何時解甲

奏凱言還

右和茂

滿庭芳調

Phiên âm:

Thú phụ ký chinh phu

Xa mã xuất môn

Phong trần cực mục

Thời thời hữu lệ nan can

Trang lâu cô ỷ

Kính lãm khiếp sầu nhan

Trù trướng thuỳ dương mãn địa

Li biệt hậu khước vị quân phan

Đoạn trường xứ san hô trướng lãnh

Bất thuỵ ngũ canh lan

Thời quang dung dị quá

Nguyệt minh nhất phiến

Thu mãn thiên san

Chính nhung y dục kí lực đảo phong hàn

Đăng hạ trùng thư cẩm tự

Bằng nhạn tính tín dữ quân khan

Sa trường ngoại hà thời giải giáp

Tấu khải ngôn hoàn

Hữu Hòa Mậu

Mãn đình phương điệu

Dịch

Người vợ có chồng đi lính thú gi cho chồng

Xe ngựa ra khỏi cổng

Gió bụi ngút mắt

Giọt lệ lúc nào cũng tuôn rơi khó cạn

Đứngdựa trên lầu son cô quạnh

Soi gương thấy ghê sợ gương mặt buồn bã

Buồn bã trông cây dương liễu rủ đầy đất

Sau khi li biệt chỉ nhớ tới hình bóng chàng

Chốn đoạn trường phòng trướng cao sang mà lạnh lẽo

Năm canh dài không ngủ

Thời gian trôi đi mau chóng

Trăng sáng một vầng

Mùa thu ngập tràn muôn đỉnh núi

Sửa áo nhung muốn gởi gắm chống lại phong hàn

Dưới đèn viết bức thư gấm

Nhờ chim nhạn gởi tới cho chàng xem

Ngoài sa trường lúc nào cởi giáp

Ca khúc khải hoàn trở về.

Hòa Mậu

Theo điệu Mãn đình phương

悶倚高樓

愁橫秋塞

鼕鼕鍾鼓雲間

霜花山色

此去行路難

離何堪忍奈

平生不過望夫山

誰語的冤冤苦苦

孤衾骨欲寒

藁砧何處是

魂迷楚岫

夢到秦關

祇黃昏又夜

明月初殘

穿尽燈前冷眼

幾迴把鏡泣孤鸞

腸斷兮憑誰担去

剖與君看

右仁睦

Phiên âm

Muộn ỷ cao lâu

Sầu hoành thu tái

Đông đông chung cổ vân gian

Sương hoa sơn sắc

Thử khứ hành lộ nan

Li hà kham nhẫn nại

Bình sinh bất quá vọng phu san

Thuỳ ngữ đích oan oan khổ khổ

Cô khâm cốt dục hàn

Cảo châm hà xứ thị

Hồn mê Sở tụ, mộng đáo Tần quan

Kì hoàng hôn hựu dạ

Minh nguyệt sơ tàn

Xuyên tận đăng tiền lãnh nhãn

Kỷ hồi bả kính khấp cô loan

Trường đoạn hề bằng thuỳ đản khứ

Phẫu dữ quân khan.

Hữu Nhân Mục

Dịch:

Buồn bã đứng tựa trên lầu cao

Nỗi buồn tràn ngập quan ải lúc trời thu

Ầm ầm tiếng trống vang vọng giữa tầng mây

Hoa sương sắc núi

Đi con đường này hiểm trở

Li biệt sao có thể chịu đựng

Bình sinh chẳng đi quá ngọn núi Vọng phu(5)

Ai nói xiết nỗi oan khổ này

Tấm chăn mỏng lạnh thấu xương

Chàng đang ở nơi nao

Hồn mê non Sở, mộng đến Tần quan

Hết hoàng hôn lại tới đêm

Trăng sáng mới tàn

Gió rét xuyên vào tận trước đèn

Bao lần soi gương khóc than tấm thân cô độc

Đứt ruột chừ biết cậy nhờ ai đưa tới

Xin mổ ra cho chàng xem

Nhân Mục

自從別後守空帷

直到于今眉懶畫

病愁腿却小腰圍

欲啼恐人知

愁無柰

相見無片時

梦則怜身不到花園

幾度蝴蝶飛

即即何日歸期

右仁睦

望江湖調

Phiên âm:

Tự tòng biệt hậu thủ không duy

Trực đáo vu kim my lãn hoạ

Bệnh sầu thoái khước tiểu yêu vi

Dục đề khủng nhân tri

Sầu vô nại

Tương kiến vô phiến thì

Mộng tắc lân thân bất đáo hoa viên

Kỉ độ hồ điệp phi

Tức tức hà nhật qui kỳ

Hữu Nhân Mục

Vọng giang hồ điệu

Dịch:

Từ sau khi từ biệt ngồi giữ chốn phòng khuê trống trải

Cho tới nay vẫn lười vẽ mày

Bệnh sầu lỏng lưng eo

Muốn hét lên lại sợ mọi người biết

Buồn rầu sao chịu nổi

Không có lúc được gặp nhau

Trong mộng xót thân chẳng tới được hoa viên

Mấy độ cánh bướm đua bay

Biết ngày nào là lúc trở về

Nhân Mục

Theo điệu Vọng giang hồ

夫君一去幾時還

魂夢乍知青海外

望眸不到玉門關

紅淚濕欄杆

心意苦

不奈朔風寒

料想黃雲征戰地

壯懷直擬斬樓欄

寧肯念花顏

右和茂

和前調

Phiên âm:

Phu quân nhất khứ kỉ thời hoàn

Hồn mộng sạ tri Thanh Hải ngoại

Vọng mâu bất đáo Ngọc Môn Quan

Hồng lệ thấp lan can

Tâm ý khổ

Bất nại sóc phong hàn

Liệu tưởng hoàng vân chinh chiến địa

Tráng hoài trực nghĩ trảm Lâu Lan

Ninh khẳng niệm hoa nhan ?

Hữu Hòa Mậu

Hoạ tiền điệu

Dịch:

Phu quân một đi lúc nào trở lại

Giật mình chợt thấy hồn mộng ngoài cõi Thanh Hải(6)

Mắt ngóng trông chẳng tới Ngọc Môn Quan(7)

Lệ hồng ướt lan can

Tâm ý khổ não

Chẳng kể tới phong hàn

Liệu tưởng chốn chinh chiến mây vàng

Tráng sĩ trong lòng luôn tính chuyện chém giặc Lâu Lan(8)

Há có nhớ tới gương mặt yêu kiều?

Hòa Mậu

Họa theo điệu trên

征夫寄還

鞭馬登程

風塵作客

匆匆人去雲間

黃花古道

別易見難

悶殺河橋秋色

行行處綠水青山

也寄得長亭牢落

雲路戟枝寒

春花又今日

魂歸故里

身在重關

正名韁多絆

賊甲未殘

弧矢男兒多事

卿卿有鏡莫驚鸞

歸去也印大如斗

領與伊看

右仁睦

Phiên âm:

Chinh phu kí hoàn

Tiên mã đăng trình

Phong trần tác khách

Thông thông nhân khứ vân gian

Hoàng hoa cổ đạo

Biệt dị kiến nan

Muộn sát hà kiều thu sắc

Hành hành xứ lục thuỷ thanh sơn

Dã ký đắc trường đình lao lạc(9)

Vân lộ kích chi hàn

Xuân hoa hựu kim nhật

Hồn quy cố lý

Thân tại trùng quan

Chính danh cương đa bạn

Tặc giáp vị tàn

Hồ thỉ nam nhi đa sự

Khanh khanh(10) hữu kính mạc kinh loan

Quy khứ dã ấn đại như đấu

Lãnh dữ y khan

Hữu Nhân Mục

Dịch:

Người chinh phu gửi về

Quất ngựa lên đường

Phong trần làm khách

Người nhanh chóng đi khuất tầm mây

Hoa vàng lối cũ

Chia li thì dễ mà gặp nhau thì khó

Nỗi phiền muộn nhuộm đầy sắc thu trên chiếc cầu bắc qua sông

Đi khắp nơi nước biếc non xanh

Cũng gởi gắm nỗi buồn khổ vất vả chốn trường đình

Đường mây phủ giáo thương giá buốt

Hoa xuân nay lại nở

Hồn về chốn cũ

Thân tại quan san cách trở

Chính danh phải chịu nhiều điều ràng buộc

Quân giặc chưa tan

Nghiệp cung kiếm nam nhi nhiều phận sự

Vợ yêu chớ u buồn vì lẻ loi chiếc kính ở buồng loan

Khi trở về ấn lớn bằng cái đấu

Lĩnh về cùng xem

Nhân Mục

自從弓馬別鸞帷

遠塞迢迢空盻望

寒山片片幔遮圍

情許夢魂知

纔眼去

也是合歡時

寄語少年嬌麗

妾倚門休唱惜春飛

粧束時予歸

右和茂

和原韻望江南調

Phiên âm:

Tự tòng cung mã biệt loan duy

Viễn tái thiều thiều không hễ vọng

Hãn sơn phiến phiến mạn già vi

Tình hứa mộng hồn tri

Tài nhãn khứ

Dã thị hợp hoan thì

Kí ngữ thiếu niên kiều lệ

Thiếp ỷ môn hưu xướng tích xuân phi

Trang thúc thời dư quy

Hữu Hòa Mậu

Họa nguyên vận Vọng Giang Nam điệu

Dịch:

Từ khi ra trận xa rời chốn buồng loan

Quan ải xa mờ vẫn ngóng trông

Núi non buốt giá lớp lớp vây quanh

Tình nhung nhớ mộng hồn có biết

Vừa đưa mắt nhìn

Thấy là lúc hợp hoan

Gởi gắm những lời về thời thiếu niên kiều lệ

Nàng tựa cửa chớ hát khúc ca tiếc nuối xuân qua

Sửa soạn quần áo ta sẽ về

Hòa Mậu

Họa nguyên vận điệu từ Vọng Giang Nam

他鄉跡滯未能還

落落悲笳吹夜月

恾恾征雁度長關

癡夢不相干

驚醒處

霜侵鐵衣寒

料想閨中紅臉婦

含情空自滴庭蘭

怎不損芳顏

右仁睦

和前調原韻

Phiên âm:

Tha hương tích trệ vị năng hoàn

Lạc lạc bi già xuy dạ nguyệt

Mang mang chinh nhạn độ trường quan

Si mộng bất tương can

Kinh tỉnh xứ

Sương xâm thiết y hàn

Liệu tưởng khuê trung hồng kiểm phụ

Hàm tình không tự trích đình lan

Chẩm bất tổn phương nhan

Hữu Nhân Mục

Họa tiền điệu nguyên vận

Dịch:

Lưu lạc nơi đất khách, chưa thể quay về

Tiếng kèn Hồ ảo não thổi trong đêm trăng

Vài cánh chim nhạn bay trên bầu trời quan ải mênh mang

Mộng mơ mê mẩn chẳng gặp được nhau

Giật mình tỉnh dậy

Sương rơi lạnh ướt cả áo giáp sắt

Nhớ tới người vợ má hồng chốn phòng khuê

Ôm mối tình luống khóc bên khóm lan ở sân đình

Lẽ nào không tổn hại tới dung nhan xinh đẹp?

Nhân Mục

Họa nguyên vận điệu từ trên

沙場萬里衽成帷

結髮於君多壯歲

龍泉三尺解重圍

英雄草木知

著手處

功名須及時

棄擲最非輕薄子

歸魂多自夢中飛

平淮策馬歸

右仁睦

和前原韻

Phiên âm:

Sa trường vạn lí nhẫm thành duy

Kết phát ư quân đa tráng tuế

Long Tuyền tam xích giải trùng vi

Anh hùng thảo mộc tri

Trước thủ xứ

Công danh tu cập thì

Khí trịch tối phi khinh bạc tử

Qui hồn đa tự mộng trung phi

Bình Hoài sách mã qui

Hữu Nhân Mục

Họa tiền nguyên vận

Dịch:

Sa trường muôn dặm lấy chiếu làm màn

Khi se duyên kết tóc chàng còn ở tuổi tráng niên

Thanh kiếm Long Tuyền(11) ba thước giải trùng vây

Anh hùng đến cỏ cây cũng biết

Nơi hành xử

Công danh phải gặp thời

Gã trai khinh bạc bỏ bê thật là không phải

Đêm mộng hồn thường bay về chốn cũ

Bình định được đất Hoài ruổi ngựa quay về

Nhân Mục

Họa nguyên vận điệu từ trên

月投西

客頭西

惹得離愁滿袖携

如啼却不啼

天又低

雲又低

萬里山川駟馬啼

何年合錦閨

右和茂

長相思調

Phiên âm:

Nguyệt đầu tê

Khách đầu tê

Nhạ đắc ly sầu mãn tụ huề

Như đề khước bất đề

Thiên hựu đê

Vân hựu đê

Vạn lí sơn xuyên tứ mã đề

Hà niên hợp cẩm khuê

Hữu Hòa Mậu

Trường tương tư điệu

Dịch:

Trăng lặn đằng tây

Khách đầu tây

Sầu li biệt ướt đầm vạt áo

Muốn hét lên nhưng không thể kêu thành tiếng

Trời lại tối

Mây lại tối

Muôn dặm non sông vang tiếng xe bốn ngựa

Bao giờ sum họp chốn buồng khuê

Hòa Mậu

Theo điệu Trường tương tư

長相思

短相思

愁對雲邊點點垂

登樓嘆夕暉

計佳期

索佳期

筆黛濃將點月眉

青春不負伊

右和茂

Phiên âm:

Trường tương ti

Đoản tương ti

Sầu đối vân biên điểm điểm thuỳ

Đăng lâu thán tịch huy

Kế giai kỳ

Sách giai kỳ

Bút đại nùng tương điểm nguyệt mi

Thanh xuân bất phụ y

Hữu Hòa Mậu

Dịch:

Tương tư dài

Tương tư vắn

Buồn bã ngắm những đám mây xa trôi dạt

Lên lầu than thở trước cảnh chiều tà

Tìm ngày tốt

Mong ngày tốt

Bút mực nồng sắp vẽ mày cong

Tuổi thanh xuân chẳng phụ bạc chàng

Hòa Mậu

日流西

月流西

數載風霜滿在携

魂斷夜猿啼

天色低

山色低

躕踟征馬未歸蹄

辜負你深閨

右仁睦

和前韻調元韻

Phiên âm:

Nhật lưu tê

Nguyệt lưu tê

Sổ tải phong sương mãn tại huề

Hồn đoạn dạ viên đề

Thiên sắc đê

Sơn sắc đê

Trù trì chinh mã vị quy đề

Cô phụ nhĩ thâm khuê

Hữu Nhân Mục

Họa tiền điệu nguyên vận

Dịch:

Mặt trời lặn phía tây

Mặt trăng lặn phía tây

Mấy năm phong sương bám đầy trên vạt áo

Hồn như đứt đoạn khi nghe tiếng vượn kêu trong đêm

Trời sắc tối

Núi sắc tối

Lần lữa vó ngựa chiến chinh vẫn chưa trở về

Phụ bạc nàng chốn buồng khuê

Nhân Mục

Họa nguyên vận điệu từ trên

奪錦榮歸

南鄉子調

雄筆掃長篇

占了儒林弟一仙

顯姓揚名新得意

翻螭陛擎天雨露鮮

白面稱青年

梓里香風引玉鞭

晝錦堂青

簫鼓沸喧喧

燭傍青娥共倒顛

右二首和茂

Phiên âm:

Đoạt cẩm vinh quy

Nam hương tử điệu

Hùng bút tảo trường thiên

Chiếm liễu nho lâm đệ nhất tiên

Hiển tính dương danh tân đắc ý(12)

Phiên li bệ kình thiên vũ lộ tiên

Bạch diện xứng thanh niên

Tử lí hương phong dẫn ngọc tiên

Trú cẩm đường thanh

Tiêu cổ phí huyên huyên

Chúc bạng thanh nga cộng đảo điên

Hữu nhị thủ Hòa Mậu

Dịch:

Đoạt áo gấm trở về trong vinh quang

Theo điệu Nam hương tử

Ngòi bút hùng tráng viết trường thiên

Chiếm được vị trí đệ nhất trong rừng nho

Tên họ lẫy lừng thật đắc ý

Thỏa thích dưới bệ rồng hưởng ơn mưa móc

Gương mặt thư sinh đáng mặt thanh niên

Khi trở về quê hương cưỡi ngựa tay cầm roi ngọc

Phủ đường lộng lẫy(13)

Tiêu trống nổi vang rền

Bên đèn điên đảo cùng ả mày xanh

Hai bài trên của Hòa Mậu

書劍上長安

對策丹墀吐筆端

辭源流萬斛潺潺

跨了龍門萬丈瀾

步月甲枝攀

詰對嫦娥在廣寒

且道今朝非昔日寒酸

布衣換却錦衣還

右二首仁睦

Phiên âm:

Thư kiếm thướng Trường An

Đối sách đan trì(14) thổ bút đoan

Từ nguyên lưu vạn hộc sàn sàn

Khóa liễu Long Môn vạn trượng lan

Bộ nguyệt giáp chi phan

Cật đối Thường Nga tại Quảng Hàn

Thả đạo kim triêu phi tích nhật hàn toan

Bố y hoán khước cẩm y hoàn

Hữu nhị thủ Nhân Mục

Dịch:

Mang thư kiếm lên Trường An

Chốn thềm son đối sách nhả ra đầu ngọn bút

Nguồn từ chảy ra ào ào hàng vạn hộc

Vượt qua Long Môn(15) có cơn sóng dâng cao muôn
trượng

Đi tản bộ vươn tay với lên cung trăng

Đàm đạo với Hằng Nga ở trên cung Quảng Hàn

Vả lại sáng hôm nay đâu phải ngày xưa đói rét

Áo vải đã đổi thành áo gấm trở về

Hai bài trên của Nhân Mục.

Chú thích:

(*) Tôi xin chân thành gửi lời cám ơn tới ThS. Đinh Thanh Hiếu Và ThS. Phạm Văn Ánh đã góp ý giúp tôi hoàn thành bài viết này

(1) Trần Ngọc Vương, Đinh Thanh Hiếu. Từ, một chủng loại còn ít được biết tới - Tạp chí Văn học số 9/2004.

(2) Phạm Văn Ánh. Thể loại từ thời Lê Trung hưng - Luận án thạc sĩ khoa học ngữ văn 2007, tr.111.

(3) Phạm Văn Ánh. Sđd tr.60.

(4) Phạm Văn Ánh. Sđd tr.117.

(5) Vọng phu sơn: ngọn núi ở tỉnh Lạng Sơn, vùng biên giới Việt Trung. Tương truyền xưa có người vợ ôm con bước lên đỉnh núi ngày đêm ngóng trông người chồng đi xa trở về. Tuy nhiên người chồng mãi không trở về, hai mẹ con đứng đợi mãi nên hóa thành đá.

(6) Thanh Hải: một tỉnh ở phía tây Cam Túc, có hồ nước mặn rộng. Xưa quân Đột Quyết thường tới quấy nhiễu.

(7) Ngọc Môn: cửa ải thời cổ trên con đường trọng yếu giao thông với Tây Vực, nằm ở phía Bắc huyện Đôn Hoàng, tỉnh Cam Túc.

(8) Lâu Lan: một nước nhỏ ở Tây Vực, thường bị coi là mọi rợ.

(9) Trường đình: cứ 10 dặm có một nhà trạm gọi là trường đình.

(10) Tiếng vợ chồng gọi nhau một cách thân thiết.

(11) Long Tuyền: chỉ thanh gươm quý. Đời Tần. Trương Hoa người đất Phong Thành rất giỏi xem thiên văn. Thấy giữa sao Ngưu và sao Đẩu có khí sáng màu tím, biết đó là kiếm khí xông lên tận trời. Trương Hoa bèn sai Lôi Hoán đi tìm. Lôi Hoán đào nhà ngục Phong Thành sâu hơn bốn trượng thì thấy một chiếc hộp đá. Bên trong có hai thanh bảo kiếm Long Tuyền và Thái A. Hoa, Hoán mỗi người lấy một thanh kiếm. Đêm đó trên trời không có khí sáng giữa sao Ngưu và sao Đẩu nữa. Sau khi hai người mất đi, hai thanh kiếm liền hóa thành rồng lặn xuống nước.

(12) Ly: Con rồng sắc vàng không có sừng

(13) Sở Bá Vương Hạng Vũ sau khi diệt Tần chạnh nhớ cố hương, không nghe theo lời mưu sĩ định đô ở Quan Trung mưu nghiệp đế vương mà quyết trở về nước Sở. Ông nói: “được giàu sang mà không trở về quê cũ thì cũng như mặc áo gấm đi đêm, còn ai biết gì ?”. Đời Tống Tể tướng Hàn Kỳ khi về trí sĩ đã lập nên tòa nhà Trú Cẩm Đường (mặc áo gấm ban ngày).

(14) Đan trì: thềm son chốn cung điện vua chúa - nơi tổ chức thi đình.

(15) Long môn: còn gọi là Vũ môn. Đây là cửa sông do ông Hạ Vũ khai nên gọi là Vũ môn. Tương truyền ở đây có một chỗ nước rất sâu và nguy hiểm, con cá chép nào vượt qua được thì sẽ hóa thành rồng nên sau này người ta ví người thi đỗ như cá chép đã hóa rồng./.

Thông báo Hán Nôm học 2008; tr.569-605


Cập nhật: 02/08/2020 - Lượt xem: 55

Bài cùng chuyên mục