Tiện ích


Thống kê truy cập
Đặc điểm của diễn ngôn viết

Tác giả: Trịnh Sâm Cập nhật:15/08/2018
Một cách xác định chủ ngữ trong kiểu câu "CÓ + X" từ góc độ lí thuyết điển mẫu

This contribution presents and analyzes the structure “Có + X”, which appears rather frequently in Vietnamese, so as to identify the subjects of specific sentences. This is an approach of study in the view of cognitive linguistics, from that to point out the appropriate semantic structure of the respective kinds of sentence.

Tác giả: Đỗ Hồng Dương Cập nhật:15/08/2018
Ngôn ngữ học và văn chương

gày nay, dường như mối quan hệ gần gũi giữa ngôn ngữ học và văn chương là điều khá tự nhiên. Có tự nhiên hay không nếu như khoa học về ngôn ngữ (và về các ngôn ngữ) quan tâm đến cái liên quan một cách hiển nhiên tới ngôn ngữ, như là văn bản văn chương? Có tự nhiên hay không nếu như văn chương, với tư cách là kỹ thuật của một số dạng thức ngôn ngữ, lại hướng về lý thuyết ngôn ngữ? Có tự nhiên hay không nếu như vào lúc mà ngôn ngữ trở thành mối bận tâm chính của các khoa học nhân văn, của sự phản tư triết học và kinh nghiệm sáng tạo, thì ngôn ngữ học lại soi sáng khoa học văn chương, như nó đã từng soi sáng dân tộc học, phân tâm học, xã hội học các nền văn hoá? Làm thế nào văn chương có thể tách ra khỏi sự bức xạ mà ngôn ngữ học là trung tâm? Có nhất thiết văn chương phải là cái đầu tiên liên thông với ngôn ngữ học hay không?

Tác giả: Roland Barthes Cập nhật:10/08/2018
Cuộc chiến chống khủng bố của Mỹ trên báo tiếng Việt nhìn từ góc độ phân tích diễn ngôn phê phán

Việc phân tích các tiêu đề báo (về mặt từ vựng và cấu trúc cú pháp) và việc khái quát hóa đặc trưng của ngôn bản báo chí (từ vựng hóa tăng cường thể hiện ở việc lặp từ và từ mang nghĩa tiêu cực) đã cho thấy hệ tư tưởng của những người viết báo cũng như xuất bản quản lý hai tờ báo. Quan điểm phản đối chiến tranh chống khủng bố Mỹ đã được thể hiện một cách rõ ràng qua việc kết cấu tiêu đề, việc sử dụng các từ ngữ mang nghĩa tiêu cực, việc lặp từ và các từ ngữ thể hiện sự phản đối.

Tác giả: Trần Thị Hồng Vân Cập nhật:05/08/2018
Một số vấn đề chung về vay mượn từ vựng và khái quát về từ mượn Hán trong tiếng Nhật

Trải qua các thời kì lịch sử, chữ Hán không những được Nhật hóa về mặt ngữ âm và ngữ nghĩa, mà còn hình thành một lớp từ hoạt động có hệ thống được người Nhật sử dụng như là các yếu tạo từ cơ bản làm phong phú cho từ vựng tiếng Nhật. Bài viết cung cấp thông tin vềvay mượn từ vựng và khái quát về từ mượn Hán trong tiếng Nhật.

Tác giả: Trần Kiều Huế Cập nhật:30/07/2018
Tiếp biến ngôn ngữ Chăm - Việt ở Quảng Nam

Sự tiếp xúc Chăm – Việt ở vùng Quảng Nam xảy ra trong hàng trăm năm và chắc chắn đã tạo ra những ảnh hưởng nhất định trong ngôn ngữ của cư dân vùng Quảng Nam.

Tác giả: Võ Văn Thắng Cập nhật:25/07/2018
Sự tiếp biến ngôn ngữ "thiền" Phật giáo trong thơ Đường

Cùng với sự có mặt của tư tưởng thiền, ngôn ngữ thiền cũng đi vào thơ. Có thể đó là thuật ngữ Phật học, dù ít thôi vì thiền trong thơ Đường chủ yếu là thiền lý, thiền vị mà chẳng phải là thiền ngữ. Vì vậy, thiền trong thơ Đường là ngôn ngữ đằng sau ngôn ngữ. Nó vượt thoát hình thức hữu hạn của ngôn ngữ thông thường để hòa nhập và tạo dựng không gian biểu đạt ngôn ngữ mới: ngôn ngữ của biểu tượng, điển cố - điển tích.

Tác giả: Đinh Vũ Thuỳ Trang Cập nhật:25/07/2018
Xã hội học ngôn ngữ về giới: Sự kì thị và sự chống kì thị đối với nữ giới trong sử dụng ngôn ngữ

Với cách nhìn của ngôn ngữ học xã hội, trong xã hội tồn tại bao nhiêu nhóm xã hội thì trong ngôn ngữ cũng có bấy nhiêu phương ngữ xã hội. Phương ngữ giới tính là một biểu hiện của sự phân chia hai nửa đàn ông và đàn bà trong xã hội.

Tác giả: Nguyễn Văn Khang Cập nhật:22/07/2018
Ý nghĩa của các biểu thức chiếu vật chứa "trăng" trong Truyện Kiều của Nguyễn Du và trong thơ Xuân Diệu

Nghiên cứu khảo sát và miêu tả đặc điểm của các biểu thức chiếu vật này trên phương diện ý nghĩa. Trên cơ sở đó, chúng tôi tiến hành so sánh, đối chiếu với ý nghĩa thường gặp của các biểu thức chiếu vật chứa “trăng” trong thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám, ngõ hầu phần nào làm phát lộ dòng chảy văn hoá xứ Nghệ vốn luôn tiềm tàng như một mạch ngầm kết nối sáng tác của hai tác gia đại diện cho hai thời kỳ văn học rực rỡ nhất trong lịch sử văn học Việt Nam này.

Tác giả: Đặng Thị Thu Hiền Cập nhật:20/07/2018
Ngôn ngữ học xã hội: Những quan niệm và khuynh hướng

Ngôn ngữ học xã hội là một ngành khoa học ngôn ngữ ra đời vào đầu những năm 1960 ở các nước phương Tây. Về phương diện xã hội, nó bắt nguồn từ sự khủng hoảng kinh tế xã hội của các nước công nghiệp hóa. Về phương diện khoa học luận, nó ra đời từ sự bất lực của ngôn ngữ học truyền thống và ngôn ngữ học cấu trúc trong việc giải quyết các vấn đề ngôn ngữ do cuộc sống đặt ra. Bài viết này trình bày tóm tắt quá trình hình thành của ngôn ngữ học xã hội, những quan niệm khác nhau về đặc điểm và đối tượng nghiên cứu của nó, và những trào lưu chủ yếu của ngành học mới mẻ này. Đặc biệt, tác giả nhấn mạnh trường phái của Đại học Rouen (Pháp), nơi đã đào tạo cho Việt Nam nhiều tiến sĩ về khoa học ngôn ngữ.

Tác giả: Trần Thanh Ái Cập nhật:20/07/2018
Tiếng Hà Nội từ góc nhìn của phương ngữ xã hội

Tác giả: Nguyễn Thị Kim Loan Cập nhật:20/07/2018
Vận dụng quan điểm của Ngôn ngữ học tri nhận vào đổi mới dạy học tiếng Việt cho người nước ngoài

Bài báo đề xuất một phương pháp dạy học thành ngữ dân gian tiếng Việt từ quan điểm của ngôn ngữ học tri nhận và ứng dụng nó vào việc dạy khẩu ngữ tiếng Việt cho người nước ngoài. Lấy lí thuyết về ẩn dụ ý niệm làm xương sống cho hoạt động dạy học thành ngữ, chúng tôi hi vọng có thể giúp người học hiểu đến tận ngọn ngành mỗi thành ngữ, từ đặc điểm về cấu trúc đến cơ chế tạo nghĩa của chúng. Từ đó, họ có thể vận dụng vào từng hoàn cảnh giao tiếp một cách đúng và hiệu quả.

Tác giả: Đỗ Phương Thảo Cập nhật:19/07/2018
Từ xưng hô thuộc hệ thống nào?

Tạp chí Ngôn ngữ & Đời sống số 3 năm 2007 có bài Cần phân biệt từ xưng hô với đại từ xưng hô của TS. Nguyễn Thị Trung Thành. Trong bài báo này, TS. Nguyễn Thị Trung Thành khẳng định : “Khái niệm từ xưng hô có nội hàm rộng hơn khái niệm đại từ xưng hô. Từ xưng hô trong tiếng Việt gồm có các loại sau : đại từ dùng để xưng hô, danh từ chỉ quan hệ họ hàng dùng để xưng hô, danh từ chỉ chức danh, nghề nghiệp. Như vậy, đại từ xưng hô chỉ là một bộ phận nhỏ nằm trong từ xưng hô” (tr.2)... Từ nhận thức đó, tác giả cho rằng SGK Tiếng Việt 5, tập 1 nhầm lẫn từ xưng hô với đại từ xưng hô khi viết :“Bên cạnh các từ nói trên (tôi, chúng tôi ; mày, chúng mày ; nó, chúng nó,... NTLK chú), người Việt Nam còn dùng nhiều danh từ chỉ người làm đại từ xưng hô để thể hiện rõ thứ bậc, tuổi tác, giới tính : ông, bà, anh, chị, em, cháu, thầy, bạn,...” (tr.3) – phần gạch chân nhấn mạnh là của TS. Nguyễn Thị Trung Thành. Bài viết mang tính chất trao đổi với quan điểm trên.

Tác giả: Nguyễn Thị Ly Kha Cập nhật:17/05/2018
12345...8910

GalleryLightBox