Tiện ích


Thống kê truy cập
Vài nét về lịch sử nghiên cứu cú pháp tiếng Việt: Từ 1990 đến nay

Nhìn lại lịch sử nghiên cứu cú pháp tiếng Việt, có thể nói hầu như tất cả những lí thuyết cú pháp quan trọng của thế giới đều đã có ảnh hưởng đến việc nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt ở một mức độ nào đó và các nhà Việt ngữ học, mỗi người mỗi vẻ, đã đóng góp phần công sức của mình vào công cuộc nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt nói chung. Phần tổng quan này là một sự trình bày hồi cố hết sức giản lược, theo tinh thần “ôn cố tri tân” trước khi tác giả đi đến xác định cách tiếp cận riêng đối với cú pháp tiếng Việt.

Tác giả: Nguyễn Văn Hiệp Cập nhật:18/10/2019
PHƯƠNG THỨC BIỂU ĐẠT CẢM XÚC TRONG PHÓNG SỰ “TÚP LỀU NÁT” CỦA NGUYỄN ĐỔNG CHI

Abstract: In the reportage "Túp lều nát", journalist Nguyen Tran Ai (aka Nguyen Dong Chi) meticulously collected each and every story and event at places he passed by; he observed, reported and shared with the miserable "grassroots" their misfortune and resentment; as well as expressed his indignation, painful irony and despise the cruel, heartless government and village officials who had pushed the common people to their dead end. The writing studied and described the modes of expressing emotion in the reportage, in order to highlight one of the specific characteristics of the Vietnamese reportage language in the early half of the 20th century, and Nguyen Dong Chi's contribution to this field. Key words: modes of expressing emotion; Túp lều nát; Nguyễn Đổng Chi.

Tác giả: Huỳnh Thị Hồng Hạnh Cập nhật:15/10/2019
Địa danh học Việt Nam: Những vấn đề cần bàn

Abstract: Considering the saussurian concepts of one of the two language functions as absolute universality, the Vietnamese toponymists believe that words as linguistic signs, are used to nominate things in a unified way, regardless of its forms. As result, they think that naming a place is a linguistic event, and the place name must be an object of the linguistics which is perceived and interpreted linguistically. That’s why the Vietnamese toponymy has reached an impasse and consequently the studies on Vietnamese toponymy do not give their theoretical and practical values. They are not acceptable and belivebale ontologically. In order to get out of the impasse, the Vietnamese toponymists should stop taking the name of a place not only as arbitrary linguistic sign for more practical and more credible studies in the future. Key words: toponymy; name.

Tác giả: Nguyễn Công Đức và Nguyễn Văn Lập Cập nhật:05/10/2019
Biểu tượng tính dục trong ca dao xứ Huế tù góc nhìn phân tích diễn ngôn

Abstract: There has been a diverse system of sexual symbols existing in Hue folk verses. From discourse analysis perspectives, the report studies reference act and reference expression which convey sexual sense in discourse of folk verses reflecting teasing conversations between young men and women. The analysis sheds light on linguistic characteristics of sexual symbols, moreover, indicating artistically symbolising values of linguistic elements possessing sexual sense in Hue folk verses. Key words: sexual symbol; Hue folk verses; discourse analysis.

Tác giả: Trương Thị Nhàn Cập nhật:02/10/2019
Kết quả nghiên cứu Ngôn ngữ học xã hội vào thực tiễn Việt Nam

Abstract: Applying academic results to the real-world has always been one of the major concerns of the social sciences and humanities. This paper outlines some general features of how sociolinguistic insights have been applied to different areas of the social life in Vietnam. Besides the areas that have benefited greatly from sociolinguistic research, the paper also points out some social areas where sociolinguistic insights can also be employed in order to serve the needs of the reality. Key words: Applied sociolinguistics; clinical sociolinguistics; sociolinguistic variation; sociolinguistic characteristics; context.

Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Bình Cập nhật:30/09/2019
Thuật ngữ đồng âm thuộc các ngành khoa học khác nhau trong tiếng Việt

Abstract: After the August Revolution in 1945, when Vietnamese was used as the national language and taught in all levels, including higher education, the urgent demand was to quickly establish a system of scientific terminology. There are many ways to establish the system of terminology from many different sectors; as a result, there are many homonym terms. We should gradually handle with such situation; for example, regulations on new standard pronunciation and spelling in Vietnamese to write accurate terms. It is required to distinguish the multi-sector homonyms of terminology and phonetic transcription, toward the establishment of dictionary which explains and distinguished the term homonym. Is it true that the national arbitration to solve this issue? Key words: termin; terminology; homonym; termins.

Tác giả: Lê Quang Thiêm Cập nhật:26/09/2019
Ngữ pháp chức năng hệ thống và đánh giá ngôn ngữ "phi chuẩn" của giới trẻ hiện nay theo quan điểm của Ngữ pháp chức năng hệ thống

Abstract: The paper presents generally the nature of Systemic Functional Grammar (SFG) and its evaluation on the non-standard Vietnamese used by the youth nowadays. SFG argues that language is a system of choices in expressing experiential meaning, personal meaning and textual meaning. SFG considers non-standard language used by teenagers as part of system of choices, which will be productive and will spread in many contexts of communication. Therefore, non-standard language will gradually degenerate and change Vietnamese badly. According to SFG, the situation of non-standard Vietnamese nowadays gives the alarm so that we need appropriate solutions to prevent bad languages and to encourage teenagers to use pure standard language accepted by community. Key words: non-standard; teenagers language; Systemic Functional Grammar; experiential function; interpersonal function; textual function; system of choices; register.

Tác giả: Nguyễn Văn Hiệp Cập nhật:18/09/2019
Vài suy nghĩ về vấn đề trang bị từ Hán – Việt cho học sinh, sinh viên trong các trường phổ thông và đại học

Từ Hán Việt là một số lớp từ khá quan trọng trong ngôn ngữ tiếng Việt của người Việt Nam. Với con số 60-70% từ Hán Việt có trong tiếng Việt, nó đã và đang đặt ra một nhiệm vụ cấp thiết làm thế nào để cho mọi người dân Việt Nam, đặc biệt là tầng lớp thanh, thiếu niên viết và nói đúng tiếng Việt trong đó có từ Hán Việt

Tác giả: RẦN THỊ THANH Cập nhật:11/09/2019
Thử đi tìm giải pháp cho vấn đề chuẩn hoá ngôn ngữ xưng hô công sở

Abstract: The paper originates from public opinion around the two issues regarding vocative in the offices, agencies and units in order to make work more smooth in the "Project on the basis of standard office culture" of the Institute of State Organizational Sciences (Ministry of Home Affairs). These are the two following issues: 1) How to make vocative word neutral?; 2) How to maintain friendship in the workplace? On the basis of communication theory and thesis of the social rules for research issues, the paper will try to analyze and discuss solutions to this problem. Key words: vocative word; solutions.

Tác giả: Bùi Thị Minh Yến Cập nhật:08/09/2019
Nhìn lại chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về ngôn ngữ dân tộc thiểu số và những vấn đề đặt ra với ngôn ngữ dân tộc thiểu số hiện nay

Abstract: This paper is going to elaborate on two main points: (1) to examine the Vietnamese Party and State‟s policy on ethnic minority languages, including the government‟s direction, plan and implementation; (2) to raise some issues which may serve as the scientific foundation to formulate the Vietnamese State and Party‟s policy on ethnic minority languages in the future, during the era of industrialization, modernization and global integration. The purpose of examining the State and Party‟s policy on ethnic minority languages is to raise some issues regarding ethnic minority language in Vietnam currently to contribute to the formulation of language policy in particular and ethnic policy in general to sustainably develop ethnic minority region. Key words: language policy; ethnic minority languages

Tác giả: Nguyễn Văn Khang Cập nhật:30/08/2019
Các cách tiếp cận chính trong phân tích diễn ngôn

GS Lương Văn Hy là nguyên trưởng khoa Nhân học, Đại học Toronto, Canada. Trong vài thập kỷ gần đây ông thường về Việt Nam nghiên cứu và giảng dạy ở các trường đại học, các viện nghiên cứu về các chủ đề về ngôn ngữ, vốn xã hội, xuất cư, an sinh và kinh tế hộ gia đình. Với chương trình Café học thuật lần này, giáo sư sẽ trình bày về chủ đề phân tích diễn ngôn.

Tác giả: Lương Văn Hy Cập nhật:25/08/2019
Phát triển năng lực giao tiếp ngôn ngữ qua dạy học tích hợp các chủ đề Tiếng Việt ở trường phổ thông

Bài viết đề cập đến vấn đề phát triển năng lực giao tiếp ngôn ngữ qua dạy học tích hợp các chủ đề Tiếng Việt ở trường phổ thông.

Tác giả: NGUYỄN THỊ BÍCH, PHẠM THỊ THU HOÀI Cập nhật:23/08/2019
Việc rèn luyện kĩ năng cho học sinh trong sách giáo khoa ngữ văn trung học ở Hàn Quốc

Bài viết đã khảo sát và bước đầu có những nhận xét về việc rèn luyện kĩ năng cho học sinh trong SGK Ngữ văn bậc trung học ở Hàn Quốc. Điều này được phản ánh cụ thể trong việc khảo sát quyển Quốc ngữ 1 cấp 2 và quyển Quốc ngữ 1 cấp 3 của bậc trung học Hàn Quốc, hi vọng những kết quả khảo sát này có thể đóng góp như là những kinh nghiệm cho việc biên soạn bộ SGK đổi mới sắp tới ở Việt Nam.

Tác giả: Dư Ngọc Ngân, Jeong Mu Young Cập nhật:22/08/2019
Nhận diện hành động GIỤC, NGĂN, DẶN trong tiếng Việt

Tác giả: Đào Thanh Lan Cập nhật:25/02/2019
12345...101112

GalleryLightBox