Tiện ích


Thống kê truy cập
Mĩ học tiếp nhận và khả năng ứng dụng ở Việt Nam

Mĩ học tiếp nhận (Receptional Aesthetic) trường phái Konstanz Đức ra đời vào những năm 60 của thế kỉ 20 là một hướng nghiên cứu phê bình văn học có ảnh hưởng rộng lớn trên thế giới. Nó có vai trò thúc dẩy nghiên cứu phê bình văn học thế giới chuyển từ tác giả trung tâm luận, văn bản trung tâm luận sang nghiên cứu độc giả và sự tiếp nhận. Mĩ học tiếp nhận có tiềm năng ứng dụng rất lớn trong việc nghiên cứu và biên soạn lịch sử văn học, nghiên cứu tác phẩm văn học nước ngoài, nghiên cứu việc tiếp nhận nghệ thuật nói chung, nghiên cứu các lĩnh vực văn hóa đại chúng, nghiên cứu việc dạy học văn trong nhà trường….. Trong bối cảnh văn hóa và nghiên cứu Văn học Việt Nam hiện nay, nghiên cứu và vận dụng Mĩ học tiếp nhận một cách bài bản là điều rất cần thiết. Từ khóa: Mĩ học tiếp nhận, Lịch sử văn học, Văn học nước ngoài, Nghiên cứu liên ngành

Tác giả: Đỗ Văn Hiểu Cập nhật:06/12/2016
Thơ tứ tuyệt Chế Lan Viên

Không chỉ là nhà thơ sáng tác nhiều thơ tứ tuyệt (384 bài, chiếm 42% sáng tác, tính theoTuyển tập Chế Lan Viên và 3 tập Di cảo), Chế Lan Viên còn được coi là một trong những nhà thơ làm thơ tứ tuyệt thành công nhất trong văn học Việt Nam hiện đại. Tứ tuyệt của Chế lan Viên (TTCLV) mang một vẻ đẹp truyền thống hài hòa với vẻ đẹp hiện đại.

Tác giả: Lê Lưu Oanh – Đinh Thị Nguyệt Cập nhật:20/09/2016
“Yêu ngôn” (Nguyễn Tuân ) – hành trình đi tìm cái đẹp trong cái kì ảo

Nguyễn Tuân, người nghệ sĩ, đã không ngừng đi tìm cái đẹp trên những hành trình xuyên không gian và thời gian. Với không gian, ông khám phá những vẻ đẹp của đất nước, con người. Với thời gian, ông nghiêng về những vẻ đẹp của một nền văn hóa xưa cũ … Nhưng dường như vẫn chưa thỏa, “phải đi tìm một thế giới khác để được sống mãnh liệt, nồng nàn, cuồng nhiệt, phát huy tận độ cá tính của mình” (Nguyễn Đăng Mạnh), Nguyễn Tuân còn tìm đến cái đẹp trong thế giới huyền bí, mờ ảo, xa xôi, kì lạ. Mạch truyện Yêu ngôn (Yêu ngôn, Nxb Hội nhà văn, 2000) đã bộc lộ một con đường độc đáo: con đường đi tìm cái đẹp trong cái kì ảo.

Tác giả: Lê Lưu Oanh – Nguyễn Thùy Dương Cập nhật:10/09/2016
Thơ Bích Khê – Một thể nghiệm thơ tượng trưng

Với một cách nhìn mang tính tượng trưng về nghệ thuật, thế giới và con người, Bích Khê đã đóng góp một vị trí đáng ghi nhận trong lịch sử thơ ca dân tộc. Đó là sự trình bày cái bên trong, cái tinh thần, giấc mơ, cõi vô thức dưới một cách cảm nhận thế giới mới mẻ (sự tương hợp cảm giác) và bằng thứ ngôn ngữ đặc biệt (câu thơ biểu tượng và câu thơ âm nhạc). Có thể nói, với Bích Khê, câu thơ Việt Nam tuy còn cầu kỳ, nhân tạo nhưng đã có một dáng vẻ mới lạ, độc đáo và thú vị.

Tác giả: Lê Lưu Oanh- Tô Tố Quyên Cập nhật:01/09/2016
Hình tượng tác giả trong tản văn Hoàng Phủ Ngọc Tường

Đã từ lâu người ta chú ý đến Hoàng Phủ Ngọc Tường như một người viết kí đầy xông xáo với những trang kí sự sôi sục tinh thần tranh đấu của một thời tuổi trẻ sống trong vùng tạm chiếm, hay những trang bút kí sâu nặng một tình yêu với từng mảnh đất, con sông của đất nước, quê hương. Khi đã đến độ thâm trầm của tuổi tác Hoàng Phủ Ngọc Tường lại bắt duyên với một thể loại văn học mà ông gọi là nhàn đàm, thực chất là thể loại tản văn.

Tác giả: TS. Lê Trà My Cập nhật:20/08/2016
Tự sự học nữ quyền luận – một nhánh của tự sự học hậu kinh điển

Tự sự học nữ quyền luận là một nhánh của tự sự học hậu kinh điển. Được xem như một khúc ngoặt của tự sự học, ở giai đoạn hậu kinh điển, các nhà nghiên cứu muốn khắc phục nhược điểm của tự sự học kinh điển vốn được xây dựng trên nền tảng cấu trúc luận. Theo đó, tự sự học kinh điển bởi tham vọng xác lập những cấu trúc, mô hình tự sự phổ quát nên không quan tâm đến những bình diện thuộc về ngữ cảnh văn hóa, lịch sử, ý thức hệ, các vấn đề về diễn dịch và đạo đức tự sự.

Tác giả: TS. Trần Ngọc Hiếu Cập nhật:10/08/2016
Từ tự sự học đến tu từ học tiêủ thuyết

Lí luận tự sự học tiểu thuyết sở dĩ phát triển nhanh chóng có nhiều thành tựu chủ yếu là do tiếp thu lí thuyết của chủ nghĩa cấu trúc, ngôn ngữ học, chủ nghĩa hình thức Nga, và cả tu từ học tiểu thuyết, đó là sự thực mà ai cũng biết. Nhưng sự tiếp thu của tự sự học đối với tu từ học tiểu thuyết thì ít được biết tới hơn.

Tác giả: Quách Hồng Lôi Cập nhật:01/08/2016
Biểu tượng trong hệ thống văn hóa

Từ “biểu tượng” (symbol, còn được dịch là tượng trưng, biểu trưng, phù hiệu, kí hiệu) là một trong những từ nhiều nghĩa nhất trong hệ thống các khoa học về kí hiệu(1).

Tác giả: JU. LOTMAN Cập nhật:15/06/2016
VĂN HÓA NHƯ LÀ CHỦ THỂ VÀ BẢN THÂN NÓ CŨNG LÀ KHÁCH THỂ

Không cần xem bài giới thiệu đại lược với bạn đọc những nguyên tắc nghiên cứu này là công trình có tham vọng mang ý nghĩa triết học. Tác giả không có tham vọng ấy. Tôi chỉ có ý định khái quát kinh nghiệm nghiên cứu những thực tiễn cụ thể từ lịch sử văn hóa. Đồng thời tác giả cũng trình bày những gì chưa thỏa mãn đối với một số phạm trù lí thuyết quen thuộc trong lịch sử văn học và văn hóa.

Tác giả: Y.M. Lotman Cập nhật:14/05/2016
Kí hiệu học là gì?

Tác giả: Triệu Nghị Hành, sinh năm 1956, Giáo sư văn học so sánh, chủ nhiệm trung tâm Kí hiệu học và truyền thông, học viện Văn học và báo chí, Đại học Tứ Xuyên, Trung Quốc

Tác giả: Triệu Nghị Hành Cập nhật:29/04/2016
VIỆT NAM THẾ KỈ XX VÀ NHỮNG XU HƯỚNG LỰA CHỌN TƯ TƯỞNG VĂN NGHỆ NƯỚC NGOÀI

Tiến trình tiếp nhận các tư tưởng văn nghệ nước ngoài vào Việt Nam từ đầu thế kỉ XX theo sát với lịch sử văn hóa – xã hội của dân tộc. Về đại thể, có thể chia tiến trình ấy thành 3 thời kì lớn:Từ đầu thế kỉ XX đến 1945, Từ 1945 đến 1986 và Từ 1986 đến nay. Do sau 1954, hai miền Nam – Bắc sống dưới hai chế độ chính trị khác nhau, cho nên thời kì 1945 – 1986 sẽ được tách thành hai phần: Sự tiếp thu các tư tưởng văn nghệ Nga – Xô, Trung Quốc vào Việt Nam giai đoạn 1945 – 1986 và vào miền Bắc sau 1954 và Sự tiếp thu các tư tưởng văn nghệ Âu – Mĩ vào miền nam Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975. Tùy thuộc vào bối cảnh lịch sử đặc thù của mỗi giai đoạn như thế, việc tiếp thu tư tưởng văn nghệ nước ngoài vào Việt nam sẽ có những ưu tiên lựa chọn riêng.

Tác giả: PGS.TS La Khắc Hòa (bút danh Lã Nguyên) Cập nhật:05/04/2016
1234567891011