Tiện ích


Thống kê truy cập
Ý thức thân thể và Mĩ học thân thể

Đỗ Văn Hiểu dịch Do sức chú ý phân tán, vấn đề do áp lực và kích động quá mức ngày một tăng, chúng càng ngày càng gây rối nghiêm trọng cho văn hóa đương đại. Hàng loạt các ý tượng thân thể đầy tính lừa dối đã dẫn kéo theo nhiều điều đáng tiếc cho xã hội và cá nhân, chúng không ngừng tăng, hơn nữa dày vò chúng ta ngày một nghiêm trọng.

Tác giả: Richard Shusterman Cập nhật:29/01/2016
Mĩ học tiếp nhận ở Việt Nam

Mĩ học tiếp nhận là lí thuyết văn học từng gây ảnh hưởng lớn trên thế giới suốt từ những năm cuối thập kỉ 60 đến cuối thập kỉ 80 ở phương Tây và rầm rộ ở Trung Quốc từ những năm 80 của thế kỉ 20 đến giữa thập niên đầu tiên của thế kỉ 21. Ở Việt Nam, mặc dù lí thuyết này xuất hiện khá sớm (1985), nhưng cho đến nay, dấu ấn của nó vẫn chưa thật sự rõ ràng, có rất nhiều tiềm năng chưa được khai thác, tận dụng. Tái hiện chỉnh thể diện mạo của Mĩ học tiếp nhận ở Việt Nam và lí giải nguyên nhân dẫn đến diện mạo đó là cơ sở quan trọng để luận bàn về vấn đề tiếp nhận lí thuyết ngoại lai. Làm thế nào để lí luận văn học Việt Nam có thể hòa nhập, đối thoại với lí luận văn học thế giới; làm thế nào có thể vận dụng hiệu quả nhất lí luận phương Tây vào giải quyết các vấn đề văn học nước nhà; làm thế nào để có thể xây dựng được một nền lí luận mang bản sắc dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa… là những vấn đề mà bài viết này quan tâm.

Tác giả: Đỗ Văn Hiểu Cập nhật:29/01/2016
Thi học cổ điển Trung hoa—Học phái, phạm trù, mệnh đề

"Công trình Thi học cổ điển Trung hoa—Học phái, phạm trù, mệnh đề sẽ có ý nghĩa cùng giá trị khoa học và thực tiễn trên nhiều mặt. Trước hết, từ góc độ thi học cổ điển được đào sâu hơn, sẽ giúp hiểu rõ thêm những tinh hoa trong văn thơ Trung quốc vốn quen thuộc hàng ngàn đời với nhân dân ta. Mặt khác cũng sẽ có thêm những căn cứ mới mẻ sâu sắc hơn để lý giải chính xác thêm thi học trung đại Việt Nam, vì giữa hai bên có mối quan hệ giao lưu ảnh hưởng rất lâu đời. Dù sao đó cũng là nhìn về quá khứ, quan trọng hơn là câu chuyện đang diễn ra hướng về tương lai trong quá trình xây dựng một nền lý luận văn học dân tộc - hiện đại của nước ta, việc hấp thu những tinh hoa lý thuyết của nhân loại mà thi học cổ điển Trung Hoa là một tiêu biểu, cần được tiếp tục khai thác...."

Tác giả: Phương Lựu (chủ biên) Cập nhật:28/01/2016
Mùa Giáng sinh, nghĩ về sự phục sinh của trường phái hình thức Nga

Ai cũng biết, “Trường phái hình thức Nga” hay “Chủ nghĩa hình thức Nga” là những khái niệm đầy tính ước lệ, không chính thức, được sử dụng để chỉ một khuynh hướng lí luận văn học hoạt động ở Peterburg và Moscow vào những năm đầu thế kỉ XX. Gọi đó là “trường phái” vì nó là một hiện tượng lịch sử, có quá trình hình thành và phát triển. Nó có những tổ chức nòng cốt như “câu lạc bộ”, “hiệp hội”, có chủ soái và số lượng hội viên được kết nạp, đăng kí hẳn hoi, có hội thảo, sinh hoạt học thuật, có tuyên ngôn với nhiều công trình chủ chốt thống nhất với nhau trong phương pháp luận nghiên cứu, có cơ sở vật chất để các thành viên in ấn, xuất bản công trình của mình

Tác giả: Lã Nguyên Cập nhật:21/12/2015
Lịch sử nay đã sang trang (Hay là Khrapchenko và Pospelov trong lịch sử tiếp nhận tư tưởng lí luận văn nghệ nước ngoài vào Việt Nam)

Giai đoạn lịch sử tiếp nhận tư tưởng lí luận văn học nước ngoài vào Việt Nam mà tôi sẽ bàn trong bài viết là giai đoạn quá độ của thời kì “Đổi mới” ở những năm những năm 70, 80 của thế kỉ trước. M.B. Khrapchenko và G.N. Pospelov là hai trường hợp mà tôi đã quan sát để rút ra vài nhận xét bổ ích.

Tác giả: Lã Nguyên Cập nhật:21/12/2015
Thơ Tố Hữu- kho kí ức thể loại của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa phần 2

Là hiện tượng văn hóa – lịch sử, thơ Tố Hữu đã kiến tạo ba bức tranh thế giới bằng ba loại ngôn ngữ thế giới quan

Tác giả: Lã Nguyên Cập nhật:22/04/2015
Thơ Tố Hữu- kho "kí ức thể loại" của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa- Phần 1

Trong rất nhiều công trình nghiên cứu, thơ Tố Hữu mặc nhiên được xem là “lá cờ đầu” của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thế tức là chắc chắn đặc trưng của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa sẽ được bộc lộ rõ nhất trong sáng tác của ông. Cho nên, tôi sẽ phân tích thơ ông để nhận biết những đặc điểm của hiện thực xã hội chủ nghĩa như một phương pháp sáng tác. Xin nói ngay, tôi xem thơ Tố Hữu là một thực tiễn diễn ngôn. Tôi hiểu diễn ngôn là phát ngôn, một hành động tạo sinh văn bản giữa người nói và người nghe, đồng thời là “sự kiện tương tác văn hóa” (Van Djik) giữ chủ thể (tác giả, người sáng tạo), khách thể (người nghe, người tiếp nhận) và đối tượng được nói tới (ai, cái gì, nhân vật). Hiểu như thế, để rút ra nhận xét về văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa, tôi sẽ tiếp cận thơ Tố Hữu từ ba góc độ: 1) Chiến lược diễn ngôn, 2) Ngôn ngữ thế giới quan và các bức tranh thế giới bằng ngôn từ, 3) Mô thức tu từ.

Tác giả: Lã Nguyên Cập nhật:31/03/2015
Ca thi và đại cáo trong thơ Tố Hữu

Nhìn chung, từViệt Bắc, nhất là ở các tậpGió lộng, Ra trận, Máu và hoa, thơ Tố Hữu là hình thức tổng hợp của các mô thức tu từ. Trong sáng tác của ông vừa có tiếng nói hướng thượng cung kính của “chúng con”, của “chiến sĩ đồng bào”cất lên từ phía dưới, vừa có tiếng nói trang trọng, “quyền uy” của “ta”, “Chúng ta”, của Đảng, Lãnh tụ, của Tổ quốc vang lên từ ở bên trên. Bốn mô thức tu từ Thệ - Hịch - Ca thi - Đại cáo tương ứng với tương quan cấp độ của các chủ thể trong sự kiện giao tiếp và hệ thống phân vai trên bức tranh thế giới như những thẩm quyền diễn ngôn trong sáng tác của Tố Hữu. Chúng thực sự biến thi pháp sáng tạo thành thi pháp của cái điển mẫu, mang lại vị thế quyền lực cho diễn ngôn văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa.

Tác giả: Lã Nguyên Cập nhật:26/03/2015
Xem tranh "Xác phàm" của Nguyễn Hoàng Lâm (Ấn tượng chủ quan của người ngoại đạo)

Với tôi, bộ tranh “XÁC PHÀM” của Doãn Hoàng Lâm có sức ám ảnh kì lạ. Tôi muốn thử cắt nghĩa sự ám ảnh ấy có nguồn cội từ đâu. Tuy nhiên, có mấy điều cần nói rõ. Thứ nhất, tôi là dân ngoại đạo, sự hiểu biết của tôi về hội hoạ rất lom lem. Thứ hai, tôi chỉ được xem tranh ở phòng triển lãm già nửa tiếng đồng hồ, tựa như cưỡi ngựa xem hoa. Thứ ba, đây là lần đầu tôi làm quen với tranh của Doãn Hoàng Lâm, chưa có ý niệm rõ rệt về ngôn ngữ hội hoạ của anh.

Tác giả: Lã Nguyên Cập nhật:17/12/2014
Nguyễn Huy Thiệp và bước ngoặt của văn học Việt Nam sau 1975

Mọi bước ngoặt của lịch sử văn học đều là bước ngoặt của ngôn ngữ nghệ thuật. Xin nói ngay, tư liệu khảo sát ở tiểu luận này được giới hạn trong phạm vi văn học Việt Nam giai đoạn 1975 – 1991. Khảo sát phạm vi tư liệu ấy, trong ý thức phân kì lịch sử của tôi, có hai cột mốc quan trọng được đánh dấu bằng sáng tác của hai nhà văn họ Nguyễn: Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Huy Thiệp. Nguyễn Minh Châu là người mở đường cho tiến trình đổi mới văn học Việt nam sau 1975. Nguyễn Huy Thiệp là tác giả đầu tiên tạo ra bước ngoặt quan trọng nhất của tiến trình đổi mới ấy.

Tác giả: Lã Nguyên Cập nhật:22/10/2014
Nguyễn Tuân- nhà văn của hình dung từ

Thì ra, mọi sự độc đáo của văn Nguyễn Tuân có gốc gác ở hình tượng nghệ thuật, chứ không phải ở các mô típ truyện kể, hay yếu tố trò diễn. Hình tượng là sự vật, hoặc nhân vật được hình dung một cách cụ thể - cảm tính. Nó là cái tiềm tàng ở danh từ. Để danh từ thành hình tượng, cần phải mô tả. Đúng là Nguyễn Tuân giỏi mô tả hơn kể chuyện. Mà ông kể chuyện chẳng qua cũng là để mô tả. Chất liệu chủ yếu cần được sử dụng để mô tả hình tượng chỉ có thể là hình dung từ. Nhà văn càng sáng tạo nhiều hình dung từ để mô tả con người và sự vật, hình tượng nghệ thuật càng in đậm dấu ấn phong cách cá nhân, và vì thế, nó càng trở thành sức mạnh cưỡng bức, áp đặt đối với sự tiếp nhận thẩm mĩ của độc giả.

Tác giả: Lã Nguyên Cập nhật:22/09/2014
Lí luận văn nghệ Mac-xit Việt Nam- nhìn từ phiên bản gốc

Trong bối cảnh giao lưu, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, muốn tránh tụt hậu ở cả hai lĩnh vực sáng tác và nghiên cứu, phê bình, Việt Nam cần từng bước xây dựng một nền lí luận văn nghệ hiện đại. Nhưng Việt Nam lại chủ trương “kiên trì định hướng xã hội chủ nghĩa”. Điều này đặt ra một vấn đề bức thiết, đòi hỏi giới nghiên cứu phải tìm ra lời giải đáp đích đáng: làm thế nào để mĩ học Mac-xit vẫn là cơ sở kiến tạo lí thuyết của nền lí luận văn nghệ hiện đại ấy? Cách duy nhất có lẽ là hãy nhìn thẳng vào thực trạng của nền lí luận văn nghệ này. Vì phải nhìn thẳng vào đấy, ta mới nhận ra những điểm bất cập để khắc phục, đặng phát huy những hạt nhân hợp lí của nó. Trong phạm vi một bài viết ngắn, tôi chỉ có thể thảo luận về một vài khía cạnh mà thiết nghĩ là quan trọng.

Tác giả: Lã Nguyên Cập nhật:14/07/2014
Vết thương và giọng nói

(Lời dẫn nhập chuyên luận “Unclaimed Experience: Trauma, Narrative, History”)

Tác giả: Cathy Caruth Cập nhật:27/06/2014
Kinh nghiệm không được khẳng định: Chấn thương và những khả năng của lịch sử

Văn bản “Unclaimed Experience: Trauma and The Possibility of History” của Cathy Caruth được xem là một văn bản kinh điển của phê bình chấn thương. Trong bài viết này, Caruth đã trình bày định nghĩa về chấn thương, cơ chế hình thành và hoạt tác của chấn thương.

Tác giả: Cathy Caruth Cập nhật:20/06/2014
Nguyễn Huy Thiệp và bước ngoặt của văn học Việt Nam sau 1975

Mọi bước ngoặt của lịch sử văn học đều là bước ngoặt của ngôn ngữ nghệ thuật. Xin nói ngay, tư liệu khảo sát ở tiểu luận này được giới hạn trong phạm vi văn học Việt Nam giai đoạn 1975 – 1991. Khảo sát phạm vi tư liệu ấy, trong ý thức phân kì lịch sử của tôi, có hai cột mốc quan trọng được đánh dấu bằng sáng tác của hai nhà văn họ Nguyễn: Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Huy Thiệp. Nguyễn Minh Châu là người mở đường cho tiến trình đổi mới văn học Việt nam sau 1975. Nguyễn Huy Thiệp là tác giả đầu tiên tạo ra bước ngoặt quan trọng nhất của tiến trình đổi mới ấy.

Tác giả: Lã Nguyên Cập nhật:13/06/2014
1234567