Tiện ích


Thống kê truy cập
Thơ Tố Hữu- kho "kí ức thể loại" của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa- Phần 1

Trong rất nhiều công trình nghiên cứu, thơ Tố Hữu mặc nhiên được xem là “lá cờ đầu” của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thế tức là chắc chắn đặc trưng của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa sẽ được bộc lộ rõ nhất trong sáng tác của ông. Cho nên, tôi sẽ phân tích thơ ông để nhận biết những đặc điểm của hiện thực xã hội chủ nghĩa như một phương pháp sáng tác. Xin nói ngay, tôi xem thơ Tố Hữu là một thực tiễn diễn ngôn. Tôi hiểu diễn ngôn là phát ngôn, một hành động tạo sinh văn bản giữa người nói và người nghe, đồng thời là “sự kiện tương tác văn hóa” (Van Djik) giữ chủ thể (tác giả, người sáng tạo), khách thể (người nghe, người tiếp nhận) và đối tượng được nói tới (ai, cái gì, nhân vật). Hiểu như thế, để rút ra nhận xét về văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa, tôi sẽ tiếp cận thơ Tố Hữu từ ba góc độ: 1) Chiến lược diễn ngôn, 2) Ngôn ngữ thế giới quan và các bức tranh thế giới bằng ngôn từ, 3) Mô thức tu từ.

Tác giả: Lã Nguyên Cập nhật:31/03/2015
Ca thi và đại cáo trong thơ Tố Hữu

Nhìn chung, từViệt Bắc, nhất là ở các tậpGió lộng, Ra trận, Máu và hoa, thơ Tố Hữu là hình thức tổng hợp của các mô thức tu từ. Trong sáng tác của ông vừa có tiếng nói hướng thượng cung kính của “chúng con”, của “chiến sĩ đồng bào”cất lên từ phía dưới, vừa có tiếng nói trang trọng, “quyền uy” của “ta”, “Chúng ta”, của Đảng, Lãnh tụ, của Tổ quốc vang lên từ ở bên trên. Bốn mô thức tu từ Thệ - Hịch - Ca thi - Đại cáo tương ứng với tương quan cấp độ của các chủ thể trong sự kiện giao tiếp và hệ thống phân vai trên bức tranh thế giới như những thẩm quyền diễn ngôn trong sáng tác của Tố Hữu. Chúng thực sự biến thi pháp sáng tạo thành thi pháp của cái điển mẫu, mang lại vị thế quyền lực cho diễn ngôn văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa.

Tác giả: Lã Nguyên Cập nhật:26/03/2015
Xem tranh "Xác phàm" của Nguyễn Hoàng Lâm (Ấn tượng chủ quan của người ngoại đạo)

Với tôi, bộ tranh “XÁC PHÀM” của Doãn Hoàng Lâm có sức ám ảnh kì lạ. Tôi muốn thử cắt nghĩa sự ám ảnh ấy có nguồn cội từ đâu. Tuy nhiên, có mấy điều cần nói rõ. Thứ nhất, tôi là dân ngoại đạo, sự hiểu biết của tôi về hội hoạ rất lom lem. Thứ hai, tôi chỉ được xem tranh ở phòng triển lãm già nửa tiếng đồng hồ, tựa như cưỡi ngựa xem hoa. Thứ ba, đây là lần đầu tôi làm quen với tranh của Doãn Hoàng Lâm, chưa có ý niệm rõ rệt về ngôn ngữ hội hoạ của anh.

Tác giả: Lã Nguyên Cập nhật:17/12/2014
Nguyễn Huy Thiệp và bước ngoặt của văn học Việt Nam sau 1975

Mọi bước ngoặt của lịch sử văn học đều là bước ngoặt của ngôn ngữ nghệ thuật. Xin nói ngay, tư liệu khảo sát ở tiểu luận này được giới hạn trong phạm vi văn học Việt Nam giai đoạn 1975 – 1991. Khảo sát phạm vi tư liệu ấy, trong ý thức phân kì lịch sử của tôi, có hai cột mốc quan trọng được đánh dấu bằng sáng tác của hai nhà văn họ Nguyễn: Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Huy Thiệp. Nguyễn Minh Châu là người mở đường cho tiến trình đổi mới văn học Việt nam sau 1975. Nguyễn Huy Thiệp là tác giả đầu tiên tạo ra bước ngoặt quan trọng nhất của tiến trình đổi mới ấy.

Tác giả: Lã Nguyên Cập nhật:22/10/2014
Nguyễn Tuân- nhà văn của hình dung từ

Thì ra, mọi sự độc đáo của văn Nguyễn Tuân có gốc gác ở hình tượng nghệ thuật, chứ không phải ở các mô típ truyện kể, hay yếu tố trò diễn. Hình tượng là sự vật, hoặc nhân vật được hình dung một cách cụ thể - cảm tính. Nó là cái tiềm tàng ở danh từ. Để danh từ thành hình tượng, cần phải mô tả. Đúng là Nguyễn Tuân giỏi mô tả hơn kể chuyện. Mà ông kể chuyện chẳng qua cũng là để mô tả. Chất liệu chủ yếu cần được sử dụng để mô tả hình tượng chỉ có thể là hình dung từ. Nhà văn càng sáng tạo nhiều hình dung từ để mô tả con người và sự vật, hình tượng nghệ thuật càng in đậm dấu ấn phong cách cá nhân, và vì thế, nó càng trở thành sức mạnh cưỡng bức, áp đặt đối với sự tiếp nhận thẩm mĩ của độc giả.

Tác giả: Lã Nguyên Cập nhật:22/09/2014
Lí luận văn nghệ Mac-xit Việt Nam- nhìn từ phiên bản gốc

Trong bối cảnh giao lưu, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, muốn tránh tụt hậu ở cả hai lĩnh vực sáng tác và nghiên cứu, phê bình, Việt Nam cần từng bước xây dựng một nền lí luận văn nghệ hiện đại. Nhưng Việt Nam lại chủ trương “kiên trì định hướng xã hội chủ nghĩa”. Điều này đặt ra một vấn đề bức thiết, đòi hỏi giới nghiên cứu phải tìm ra lời giải đáp đích đáng: làm thế nào để mĩ học Mac-xit vẫn là cơ sở kiến tạo lí thuyết của nền lí luận văn nghệ hiện đại ấy? Cách duy nhất có lẽ là hãy nhìn thẳng vào thực trạng của nền lí luận văn nghệ này. Vì phải nhìn thẳng vào đấy, ta mới nhận ra những điểm bất cập để khắc phục, đặng phát huy những hạt nhân hợp lí của nó. Trong phạm vi một bài viết ngắn, tôi chỉ có thể thảo luận về một vài khía cạnh mà thiết nghĩ là quan trọng.

Tác giả: Lã Nguyên Cập nhật:14/07/2014
Vết thương và giọng nói

(Lời dẫn nhập chuyên luận “Unclaimed Experience: Trauma, Narrative, History”)

Tác giả: Cathy Caruth Cập nhật:27/06/2014
Kinh nghiệm không được khẳng định: Chấn thương và những khả năng của lịch sử

Văn bản “Unclaimed Experience: Trauma and The Possibility of History” của Cathy Caruth được xem là một văn bản kinh điển của phê bình chấn thương. Trong bài viết này, Caruth đã trình bày định nghĩa về chấn thương, cơ chế hình thành và hoạt tác của chấn thương.

Tác giả: Cathy Caruth Cập nhật:20/06/2014
Nguyễn Huy Thiệp và bước ngoặt của văn học Việt Nam sau 1975

Mọi bước ngoặt của lịch sử văn học đều là bước ngoặt của ngôn ngữ nghệ thuật. Xin nói ngay, tư liệu khảo sát ở tiểu luận này được giới hạn trong phạm vi văn học Việt Nam giai đoạn 1975 – 1991. Khảo sát phạm vi tư liệu ấy, trong ý thức phân kì lịch sử của tôi, có hai cột mốc quan trọng được đánh dấu bằng sáng tác của hai nhà văn họ Nguyễn: Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Huy Thiệp. Nguyễn Minh Châu là người mở đường cho tiến trình đổi mới văn học Việt nam sau 1975. Nguyễn Huy Thiệp là tác giả đầu tiên tạo ra bước ngoặt quan trọng nhất của tiến trình đổi mới ấy.

Tác giả: Lã Nguyên Cập nhật:13/06/2014
Phân tích diễn ngôn trong lí thuyết xã hội học: Michel Foucault và Teun Adrianus Van Dijk

Trong từ điển, khái niệm diễn ngôn được định nghĩa như sau: “Một dạng giao tiếp lời nói nhằm luận bàn, biện minh cho mọi bình diện quan trọng của các hành động, ý kiến, phát ngôn của những người tham gia”. Phạm trù này được nhiều nhà lí luận xã hội học sử dụng: Jürgen Habermas, W. Goldner, Edmund Husserl…

Tác giả: Vashili Gorelov Cập nhật:13/06/2014
Về mối quan hệ giữa các phạm trù chân thiện mĩ

Quan niệm chân thiện mĩ thống nhất với nhau là lí tưởng tối cao của phần nhiều triết lí đông tây. Đó là một tư tưởng đạm màu lí tính và đã bị không ít các nhà lí luận bác bỏ bằng nhiều lí luận và thực tế sáng tác, tuy nhiên vẫn là vấn đề rất phức tạp, còn nhiều khía cạnh cần được bàn bạc cụ thể.

Tác giả: Trần Đình Sử Cập nhật:06/06/2014
Vấn đề của mọi nhà văn là viết ra những câu chuyện có thể tin được

Bài phỏng vấn Gabriel García Márquez dưới đây do Peter H.Stone thực hiện và được đăng lần đầu trên tạp chí The Paris Review, số Mùa Đông năm 1981. Trong bài phỏng vấn này, García Márquez chia sẻ nhiều câu chuyện về hành trình đến với nghề viết văn, mối liên hệ giữa công việc của một tác giả sáng tác hư cấu với công việc của một ký giả mà ông vẫn luôn theo đuổi, quan niệm của ông về trào lưu “chủ nghĩa hiện thực huyền ảo” vốn thường gắn liền với tên tuổi của ông, những nguồn ảnh hưởng quan trọng đến văn chương của ông…

Tác giả: G.G. Marquéz Cập nhật:30/05/2014
Ngôn ngữ, liên văn bản với việc đọc hiểu văn bản thơ

Thực tiễn thưởng thức, phê bình và giảng dạy văn học trong nhà trường đòi hỏi người đọc ngày càng tự giác đối với cách cảm thụ và lý giải tác phẩm văn học. Đứng trước một tác phẩm văn học người đọc bao giờ cũng đối diện với một câu hỏi : Tác phẩm nói gì, hay hay dở ? Hiểu nó như thế nào ? Như vậy vấn đề hàng đầu đặt ra cho người đọc tác phẩm là cắt nghĩa tác phẩm và nhận ra tính nghệ thuật. Nói là cắt nghĩa không có nghĩa là coi nhẹ cảm thụ, mà là muốn nhấn mạnh một điều : mọi cảm thụ thực chất đều là một sự cắt nghĩa, một sự nhìn nhận.

Tác giả: Trần Đình Sử Cập nhật:30/05/2014
Tự do để mơ

“Tự do để mơ” là bài thuyết trình của J.M.G Le Clézio (Giải Nobel văn học 2008) trong buổi seminar về nhà thơ Pháp Lautréamont tại Đại học Oklahoma, ngày 18-2-1997. Tôi đã cố gắng dịch bài viết này sang tiếng Việt bởi sự thôi thúc từ những cảm xúc sau khi đọc tập truyện “Những nẻo đường đời và những bài tình ca khác” của ông (bản dịch của Hồ Thanh Vân). Những chuyện kể đầy chất thơ, u buồn mà trong sáng, đời thường xen lẫn với huyền thoại cho tôi có được một thứ mà khá lâu rồi tôi ít bắt gặp từ những gì đọc được: cảm xúc nhân hậu.

Tác giả: J.M.G Le Clézio Cập nhật:23/05/2014
Chiến lược giao tiếp

Chiến lược giao tiếp là mô hình tương tác cố định của những người tham gia sự kiện giao tiếp (diễn ngôn). Nếu sự kiện giao tiếp là sự kiện giữa các cá nhân, thì chiến lược giao tiếp là một hệ thống tham số cơ bản nào đó của việc sáng tạo văn bản.

Tác giả: V.I. Chiupa Cập nhật:16/05/2014
1234567