Tiện ích


Thống kê truy cập
Biểu tượng trong hệ thống văn hóa

Từ “biểu tượng” (symbol, còn được dịch là tượng trưng, biểu trưng, phù hiệu, kí hiệu) là một trong những từ nhiều nghĩa nhất trong hệ thống các khoa học về kí hiệu(1).

Tác giả: JU. LOTMAN Cập nhật:15/06/2016
VĂN HÓA NHƯ LÀ CHỦ THỂ VÀ BẢN THÂN NÓ CŨNG LÀ KHÁCH THỂ

Không cần xem bài giới thiệu đại lược với bạn đọc những nguyên tắc nghiên cứu này là công trình có tham vọng mang ý nghĩa triết học. Tác giả không có tham vọng ấy. Tôi chỉ có ý định khái quát kinh nghiệm nghiên cứu những thực tiễn cụ thể từ lịch sử văn hóa. Đồng thời tác giả cũng trình bày những gì chưa thỏa mãn đối với một số phạm trù lí thuyết quen thuộc trong lịch sử văn học và văn hóa.

Tác giả: Y.M. Lotman Cập nhật:14/05/2016
Kí hiệu học là gì?

Tác giả: Triệu Nghị Hành, sinh năm 1956, Giáo sư văn học so sánh, chủ nhiệm trung tâm Kí hiệu học và truyền thông, học viện Văn học và báo chí, Đại học Tứ Xuyên, Trung Quốc

Tác giả: Triệu Nghị Hành Cập nhật:29/04/2016
VIỆT NAM THẾ KỈ XX VÀ NHỮNG XU HƯỚNG LỰA CHỌN TƯ TƯỞNG VĂN NGHỆ NƯỚC NGOÀI

Tiến trình tiếp nhận các tư tưởng văn nghệ nước ngoài vào Việt Nam từ đầu thế kỉ XX theo sát với lịch sử văn hóa – xã hội của dân tộc. Về đại thể, có thể chia tiến trình ấy thành 3 thời kì lớn:Từ đầu thế kỉ XX đến 1945, Từ 1945 đến 1986 và Từ 1986 đến nay. Do sau 1954, hai miền Nam – Bắc sống dưới hai chế độ chính trị khác nhau, cho nên thời kì 1945 – 1986 sẽ được tách thành hai phần: Sự tiếp thu các tư tưởng văn nghệ Nga – Xô, Trung Quốc vào Việt Nam giai đoạn 1945 – 1986 và vào miền Bắc sau 1954 và Sự tiếp thu các tư tưởng văn nghệ Âu – Mĩ vào miền nam Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975. Tùy thuộc vào bối cảnh lịch sử đặc thù của mỗi giai đoạn như thế, việc tiếp thu tư tưởng văn nghệ nước ngoài vào Việt nam sẽ có những ưu tiên lựa chọn riêng.

Tác giả: PGS.TS La Khắc Hòa (bút danh Lã Nguyên) Cập nhật:05/04/2016
THẾ KỈ XX – NHỮNG BÌNH DIỆN LỊCH SỬ CHI PHỐI SỰ TIẾP THU TƯ TƯỞNG VĂN NGHỆ NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM

Sự tiếp thu tư tưởng văn nghệ vào Việt Nam ở những giai đoạn lịch sử khác nhau phụ thuộc vào “tầm đón nhận” của các cộng đồng tiếp nhận khác nhau. Sự hình thành “tầm đón nhận” này không thể không chịu sự chi phối của bởi bối cảnh địa – chính trị và tư tưởng văn hóa – xã hội của dân tộc trong tương quan với toàn thế giới. Từ đầu thế kỉ XX đến nay, nhân loại đã trải qua hai thời đại lịch sử: thời đại quốc gia dân tộc và thời đại toàn cầu hóa. Mốc giới của hai thời đại này là những năm 70 – 80 của thế kỉ trước. Sự tiếp nhận các tư tưởng văn nghệ nước ngoài vào Việt Nam diễn ra hơn một trăm năm qua chịu sự tác động trực tiếp của bối cảnh lịch sử ở hai thời đại ấy.

Tác giả: PGS.TS La Khắc Hòa (bút danh Lã Nguyên) Cập nhật:30/03/2016
MÔ HÌNH CỐT TRUYỆN VÀ KHUYNH HƯỚNG CẢM THƯƠNG CHỦ NGHĨA TRONG TRUYỆN KIỀU

Mô hình cốt truyện của Truyện Kiều có nét riêng về loại hình. Loại hình hóa cốt truyện là một vấn đề có ý nghĩa để tìm cái riêng của tác phẩm. Mỗi kiểu loại hình hóa đều có một ý nghĩa riêng nhất định, như loại hình hóa truyện cổ tích của V.Propp, loại hình hóa truyện trinh thám của T.Todorốp, loại hình nội dung thể loại của G.Pospelov, loại hình hóa theo nhân vật của Nothrop Frye. Theo Norman Friedman thì có thể tiến hành loại hình hóa dựa vào ba đại lượng khả biến của cốt truyện là số phận, tính cách, tư tưởng và sự biến đổi theo hai chiều thành công, thất bại. Ông chia ra 14 loại hình: loại hành động, loại tình khổ, loại bi kịch, loại cảm thương, loại trừng phạt, loại khâm phục (đối với số phận), loại trưởng thành, loại cải tạo, loại thử thách, loại trụy lạc (đối với tính cách), loại giáo dục, loại khải thị, loại cảm thụ, loại thất vọng (đối với tư tưởng)[1]. Mô hình này có tính phổ biến và chúng tôi thử vận dụng vào Truyện Kiều.

Tác giả: GS.TS Trần Đình Sử Cập nhật:27/02/2016
Chữ Tâm trong Truyện Kiều

Truyện Kiều của Nguyễn Du không nói nhiều về chữ Tâm, song vị trí quan trọng của nó thì không ai không thấy, nhất là khi đọc đến câu: Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ tài. Nhưng đó là Tâm nào, có vị trí thế nào trong tác phẩm, lại là vấn đề có ý kiến khác nhau, cần được làm sáng tỏ.

Tác giả: GS.TS Trần Đình Sử Cập nhật:27/02/2016
Năm thành tựu chủ yếu về nghiên cứu Truyện Kiều trong gần bốn chục năm qua

Từ những năm 80 đến nay việc nghiên cứu Truyện Kiều ở nước ta đã có những tiến bộ vượt bậc. Nếu công lao của các nhà yêu văn học thế kỉ XIX là chép tay và khắc ván in Truyện Kiều để phổ biến rộng rãi cả ba kí Trung Nam Bắc, thì thành tựu của những năm cuối thế kỉ XIX sang đầu thế kỉ XX là phiên âm Truyện Kiều từ chữ Nôm sang chữ quốc ngữ và chú thích chú giải Truyện Kiều. Phong trào cổ súy Truyện Kiều đầu thế kỉ XX có công nâng cao vị thế Truyện Kiều trong mắt quốc dân, phát hiện cội nguồn của nó. Thành tựu nghiên cứu giữa thé kỉ XX gắn liền với hoạt động kỉ niệm 200 năm năm sinh Nguyễn Du. Các giá trị nhân đạo, hiện thực, giá trị triết lí của Truyện Kiều được khẳng định. Bước sang giai đoạn từ những năm 80 đến nay nghiên cứu Truyện Kiều của chúng ta có năm thành tựu đáng chú ý.

Tác giả: GS.TS Trần Đình Sử Cập nhật:27/02/2016
Mĩ học tiếp nhận ở Trung Quốc

Mĩ học tiếp nhận đến Trung Quốc đã tạo nên một phong trào nghiên cứu khá rầm rộ và để lại dấu ấn khá rõ nét trong lịch sử nghiên cứu văn học của quốc gia này. Bài viết hướng tới giới thiệu đặc điểm tiếp nhận, nghiên cứu, vận dụng Mĩ học tiếp nhận của giới nghiên cứu văn học Trung Quốc trong hơn 30 năm qua.

Tác giả: Đỗ Văn Hiểu Cập nhật:26/02/2016
Trần Đình Sử và hướng nghiên cứu thi pháp học

Trần Đình Sử xứng đáng được gọi là nhà thi pháp học Việt Nam. Có thể gọi như thế, trước hết vì gần như suốt đời, ông gắn bó với thi pháp học. Ông chọn thi pháp học như một hướng đi vào khoa học ngay từ những năm 70 của thế kỉ trước, khi còn là nghiên cứu sinh ở Liên Xô. Luận án Phó tiến sĩ của ông viết về đề tài: Thời gian như một phạm trù của chỉnh thể nghệ thuật trong những tiểu thuyết viết về Lênin. Năm 1981, lần đầu tiên giới nghiên cứu văn học biết tới Trần Đình Sử và ông cũng nổi tiếng từ đấy với tiểu luận Thời gian nghệ thuật trong “Truyện Kiều” và cảm quan hiện thực của Nguyễn Du .

Tác giả: Lã Nguyên Cập nhật:13/02/2016
Văn học sinh thái và lí luận phê bình sinh thái (4)

Đỗ Văn Hiểu dịch Sự phát triển của lí luận văn hóa sinh thái làm cho chúng ta khong chỉ chú ý đến quan hệ bề mặt giữa văn học và sinh thái, mà còn chú ý đến vấn đề tầng sâu bị che lấp dưới tầng bề mặt(1), học giả Đức Schweiter và học giả Mĩ Taylor đã đề xuất lí uận “tôn trọng sinh mệnh”, đem phạm vi đạo đức của con người mở rộng từ động vật có năng lực cảm giác đến tất cả vật có sinh mệnh. “Luân lí học trái đất” của học giả Mĩ Aldo leopold phạm vi của chủ thể đạo đức lại mở rộng từ vật sinh mệnh cá thể đến hệ thống sinh thái, trái đất được xem là hệ thống chỉnh thể không thể hủy bỏ của sự sinh tồn nhân loại. Ý thức chỉnh thể hệ thống này mang đến cơ địa cho sự ra đời của sinh thái học bề sâu. (2). Tiếp đó “sinh thái học bề sâu” ra đời

Tác giả: Vương Nhạc Xuyên (王岳川) Cập nhật:10/02/2016
1234567