Tiện ích


Thống kê truy cập

Phê bình sinh thái - Cội nguồn và sự phát triển

Tác giả: Đỗ Văn Hiểu - Cập nhật: 03/02/2016

Phê bình sinh thái với tư cách là một khuynh hướng phê bình văn hóa và văn học được hình thành ở Mĩ vào giữa những năm 90 của thế kỉ 20, tiếp đó xuất hiện ở nhiều nước trên thế giới. Trong số rất nhiều giới định về thuật ngữ “phê bình sinh thái”, định nghĩa được nhiều người tiếp nhận là định nghĩa của một trong những người chủ chốt trong việc khởi xướng và phát triển phê bình sinh thái Mĩ – Cheryll Glotfelty: “Phê bình sinh thái là phê bình bàn về mối quan hệ giữa văn học và tự nhiên”(1)

I

Từ nghĩa mặt chữ có thể thấy Phê bình sinh thái dường như là đem sinh thái học và văn học nghệ thuật kết hợp lại, giống như kết hợp giữa phê bình phân tâm học và phê bình mẫu gốc thần thoại. Kì thực không phải như vậy. Tuy có nhà phê bình đã dẫn dụng một số thành quả nghiên cứu sinh thái học, căn cứ số học của nghiên cứu môi trường học, nhưng trên chỉnh thể, cái mà phê bình sinh thái hấp thu không phải là thành quả nghiên cứu cụ thể của khoa học tự nhiên mà là tư tưởng cơ bản của sinh thái học, hoặc nói chính xác hơn là tư tưởng triết học sinh thái. Triết học sinh thái là khởi điểm lí luận và căn cứ của phê bình sinh thái. Karl Kroeber đã luận thật rõ ràng về điểm này. Ông nói: “Phê bình sinh thái không phải đem phương pháp nghiên cứu sinh thái học, sinh vật hóa học, toán học hoặc phương pháp nghiên cứu của bất kì khoa học tự nhiên nào khác vào phân tích văn học. Nó chỉ dẫn nhập quan niệm cơ bản nhất của triết học sinh thái vào phê bình văn học mà thôi”(2)
Đem phê bình sinh thái định nghĩa thành nghiên cứu văn học, thậm chí thành phê bình toàn bộ quan hệ giữa văn hóa và tự nhiên, đã làm lộ ra đặc trưng cơ bản nhất của loại phê bình này. Với tư cách là khuynh hướng phê bình văn hóa văn học, phê bình sinh thái có nhiệm vụ chủ yếu mang giá trị đặc thù và đặc trưng bản thể luận của nó, đó là thông qua văn học để thẩm định lại văn hóa nhân loại, tiến hành phê phán – nghiên cứu tư tưởng, văn hóa, mô hình phát triển xã hội của loài người đã ảnh hưởng như thế nào đến thái độ và hành vi của nhân loại đối với tự nhiên, đã dẫn đến tình trạng xấu đi của môi trường và nguy cơ sinh thái như thế nào. Jonathan Levin đã chỉ ra: “Tất cả phương diện văn hóa xã hội của chúng ta cùng quyết định phương thức độc nhất vô nhị của sinh tồn của chúng ta trên thế giới này. Không nghiên cứu những điều này, chúng ta không thể nhận thức sâu sắc quan hệ giữa con người và môi trường tự nhiên, mà chỉ có thể biểu đạt những lo lắng nông cạn…Vì thế, ngoài nghiên cứu văn học biểu hiện tự nhiên như thế nào, chúng ta tất yếu còn phải dùng rất nhiều tinh lực để phân tích tất cả các nhân tố văn hóa xã hội quyết định thái độ đối đãi của con người đối với tự nhiên và hành vi tồn tại trong môi trường tự nhiên, đồng thời kết hợp những phân tích này với nghiên cứu văn học”. Phê bình sinh thái phải “làm lộ ra một cách có tính lịch sử văn hóa ảnh hưởng như thế nào đến sinh thái địa cầu”(3). Nhà nghiên cứu tư tưởng sinh thái nổi tiếng Donald Worster chỉ ra: “ Nguy cơ sinh thái mang tính toàn cầu mà ngày nay chúng ta phải đối mặt có nguồn gốc không phải ở bản thân hệ thống sinh thái mà ở hệ thống văn hóa của chúng ta. Muốn vượt qua nguy cơ này, tất yếu phải ra sức lí giải minh bạch ảnh hưởng của văn hóa của chúng ta đối với tự nhiên. Nhà sử học, nhà phê bình văn học, nhà nhân loại học, nhà triết học  nghiên cứu quan hệ giữa văn hóa và sinh thái, tuy không thể trực tiếp thúc đẩy cách mạng văn hóa, nhưng lại có thể giúp chúng ta lí giải, mà sự lí giải này chính là tiền đề của cách mạng văn hóa”(4)
Phê bình sinh thái manh nha vào những năm 70 của thế kỉ 20. Năm 1974, học giả người Mĩ Joseph W. Meeker cho xuất bản chuyên luận Sinh thái học của văn học đề xuất thuật ngữ “sinh thái học văn học” (literary ecology), chủ trương phê bình nên bàn đến “quan hệ giữa nhân loại và các vật chủng khác, phải “phải nhìn nhận và khám phá một cách tỉ mỉ chân thành ảnh hưởng của văn học đối với hành vi nhân loại và môi trường tự nhiên”(5). Tác giả còn thử phê bình kịch Hi La cổ đại, Date, Shakespeare và một số tác phẩm văn học đương đại. Cũng năm đó, một học giả người Mĩ khác Karl Kroeber đã viết một bài trên tạp chí có ảnh hưởng rất lớn trong giới phê bình phương Tây - Tạp chí của hội nghiên cứu ngôn ngữ học hiện đại, dẫn nhập khái niệm “sinh thái học”(ecology) và “tính sinh thái”(ecological) vào phê bình văn học(6).
Năm 1978, William Rueckert trên tạp chí Bình luận Iowa số mùa đông, đã đăng một bài viết với tiêu đề Văn học và sinh t hái học:Một phác thảo thử nghiệm phê bình sinh thái (Literature and Ecology: An Experiment in Ecocriticism) lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ “phê bình sinh thái”(ecocriticism), đề xướng một cách rõ ràng “kết hợp hợp văn học và sinh thái học”, nhấn mạnh rằng nhà phê bình “phải có cái nhìn sinh thái học”, cho rằng nhà lí luận văn nghệ nên “xây dựng được một hệ thống thi học sinh thái”(7)
Năm 1985, Hội ngôn ngữ học hiện đại cho xuất bản một cuốn sách do Frederick O. Waage chủ biên mang tên Dạy văn học môi trường: tài liệu, phương pháp và Tiềm năng phát triển (Teaching Environmental Literature: Materials, methods, Resources). Cuốn sách này phát huy tác dụng lớn trong việc kích thích các giáo sư ở Mĩ mở các môn học liên quan đến văn học sinh thái và tiến hành nghiên cứu lĩnh vực này.
Năm 1989 trong Đại hội “Hội văn học miền Tây” nước Mĩ, có hai vị học giả đề xướng phê bình sinh thái. Một vị là Cheryll Glotfelty với báo cáo Vì một nền phê bình văn học sinh thái (Toward an Ecological literary criticism); một vị khác là Lough hội trưởng của hội này, báo cáo của ông có tiêu đề Định giá lại tự nhiên: Vì một nền phê bình sinh thái học) (Revaluing Nature: Toward an ecological criticism)
Năm 1990 Robert Finch và John Elder chủ biên cuốn The Norton: Cuốn sách viết về tự nhiên (The Norton: book of nature writing). Bộ sách này có dung lượng gần 1000 trang giới thiệu những tác phẩm quan trọng viết về tự nhiên của Âu Mĩ từ thế kỉ 18, cung cấp một số lượng lớn bài viết, trong đó phần lớn là văn học sinh thái.
Năm 1991 giáo sư Jonathan Bate Đại học Liverpool nước Anh cho xuất bản chuyên luận Sinh thái học của chủ nghĩa lãng mạnWordsworth và truyền thống môi trường, nghiên cứu văn học lãng mạn từ góc độ sinh thái học. Trong cuốn sách này, Bate cũng sử dụng thuật ngữ phê bình sinh thái, ông gọi nó là “phê bình sinh thái của văn học” (literary ecocriticism)(8). Có học giả cho rằng, sự xuất hiện của chuyên luận này đánh dấu bước mở đầu của phê bình sinh thái Anh (9). Cuốn sách có tính nền tảng cho phê bình văn sinh thái ở Anh này đã “trở thành kinh điển”(10). Cũng năm đó, Hội Ngôn ngữ học hiện đại tiến hành hội thảo khoa học với chủ đề “Phê bình sinh thái: xanh hóa nghiên cứu văn học”.
Năm 1992, “Hội nghiên cứu văn học và môi trường” (The Association for the Study of literature and Environment), gọi tắt là ASLE được thành lập ở trường đại học Nevada Mĩ. ASLE là một tổ chức học thuật phê bình sinh thái mang tính quốc tế, có hơn nghìn hội viên đến từ các nước khác nhau, hai năm tổ chức hội thảo thường niên một lần. Ngoài ra, ASLE còn thường  tổ chức các cuộc thảo luận quy mô nhỏ, xuất bản tạp san của hội, giới thiệu những thành quả phê bình sinh thái mới nhất, gửi đi “Danh sách những vấn đề thảo luận học thuật” (The ASLE disccussion list). Scott Slovic được bầu là hội trưởng đầu tiên của ASLE là hoàn toàn có lí do. Năm 1989 ông đã bắt đầu nghiên cứu phê bình sinh thái, năm 1992 ông cho xuất bản chuyên luận Đi tìm nền nhận thức toàn triển cho lối viết  tự nhiên ở Mỹ (Seeking Awareness on America Nature writing), có ảnh hưởng rất lớn ở Mĩ. Trong cuốn sách này ông nghiên cứu các nhà văn sinh thái nổi tiếng như Annie, Edward, Abbey, Wedell Bery, Bary Lopez. Ông quan tâm đến sách viết về tự nhiên và nguyên nhân tâm lí của văn học sinh thái, quan tâm đến cơ chế bên trong của giao lưu giữa con người và tự nhiên.
Mùa xuân năm 1993, Tạp chí phê bình sinh thái của ASLE đầu tiên được xuất bản phát hành mang tênNghiên cứu liên ngành văn học và môi trường (Interdisciplinary studies in literature and environment, gọi tắt là ISLE). Tạp chí này sau đó trở thành tạp chí học thuật có tính hạt nhân trong lĩnh vực phê bình sinh thái, mỗi số đều có dung lượng hàng trăm trang.
Năm 1994, Kroeber cho xuất bản chuyên luận Phê bình văn học sinh thái: tưởng tượng lãng mạn và sinh thái học tinh thần(Ecological literary criticism; romantic imagining and the Biology of mind), đề xướng “phê bình văn học sinh thái”(ecological literary criticism) hoặc “Phê bình mang khuynh hướng sinh thái”(ecological oriented criticism), và tiến hành bàn luận những vấn đề chủ yếu của phê bình sinh thái như đặc trưng, nguyên nhân ra đời, tiêu chuẩn phê bình, mục đích, sứ mệnh…(11). Tuy nhiên trong thời kì này, phần lớn giới phê bình văn học vẫn chưa biết phê bình sinh thái rốt cuộc là cái gì. Vì thế, năm 1994, trong Hội văn học miền Tây, Blanche và Sean O Grady đã tổ chức hội nghị bàn tròn mời khoảng 20 học giả đến để giới thuyết khái niệm “phê bình sinh thái”.
Tháng 6 năm 1995, ASLE lần đầu tiên tổ chức hội thảo khoa học tại trường đại học Colorado, hội nghị nhận được hơn 200 báo cáo. Mọi người thường coi đại hội lần này của ASLE là tiêu chí đánh dấu sự hình thành của khuynh hướng hoặc trào lưu phê bình sinh thái. Cùng năm, giáo sư Buell khoa Anh văn đại học Harvard cho xuất bản chuyên luận Tưởng tượng môi trường: Thoreau, văn viết về tự nhiên và sự cấu thành của văn hóa Mĩ. Ông dùng thước đo sinh thái để nhìn nhận lại văn học và văn hóa Mĩ, viết ra một chuyên luận được vinh danh là “tấm biển đánh dấu mốc của phê bình sinh thái”(12). Ông là chuyên gia về Thoreau, “ông bắt đầu từ tiến trình nghiên cứu Thoreau và từ cống hiến của Thoreau để nghiên cứu , từ góc độ sinh thái cung cấp cho “văn học xanh” một số chỉ đạo có tính tổng thể về phương pháp luận và lí luận”(13).
Năm 1996, tuyển tập Văn bản phê bình sinh thái do Cheryll Glotfelty và Harold Fromm chủ biên được xuất bản. Cuốn sách này được công nhận là tài liệu nhập môn của phê bình sinh thái.  Cuốn sách chia làm ba phần, phân biệt thảo luận sinh thái học và lí luận văn học sinh thái, phê bình sinh thái của văn học và phê bình của văn học sinh thái. Cuối sách còn liệt kê và giới thiệu sơ lược tính đến cuối năm 1995 những bài báo và chuyên luận phê bình sinh thái quan trọng nhất. Nữ sĩ Cheryll Glotfelty là học giả đầu tiên nhận được danh hiệu “giáo sư văn học và môi trường” (professor of literature and environment). Vị giáo sư trường đại học Nevada này có 20 năm theo đuổi phê bình sinh thái, là một trong những người khởi xướng “Hội nghiên cứu văn học và môi trường”, đồng thời là hội trưởng, cũng là một trong những thành viên sáng lập ra “Nghiên cứu liên ngành văn học và môi trường”. Cùng năm, tài liệu tham khảo về phê bình sinh thái chủ yếu khác cũng xuất hiện như Những bài viết về tự nhiên của Mĩ, chủ biên chính là John Elder - chủ biên của cuốn Tuyển tập các bài viết về tự nhiên Norton.
Năm 1998, tại Luân Đôn, tuyển tập Viết về môi trường: phê bình sinh thái và văn học do nhà phê bình người Anh R. Kerridge và N. Sammells chủ biên được xuất bản.  Đây là bộ tuyển tập phê bình sinh thái đầu tiên ở Anh. Sách được chia thành ba phần: lí luận phê bình sinh thái, lịch sử phê bình sinh thái và văn học sinh thái đương đại, tổng cộng 15 chương, tác giả là những nhà phê bình sinh thái Âu Mĩ. Trong lời mở đầu cuốn sách R. Kerridge viết: Phê bình sinh thái là “một môn phê bình văn hóa chủ nghĩa môi trường mới”. “Phê bình sinh thái cần bàn luận về biểu hiện của môi trường và quan niệm môi trường trong văn học”(14). Cùng năm,  tập báo cáo của hội nghị thường niên lần thứ nhất của  ASLE cũng được chính thức xuất bản với tên Đọc về trái đất: khuynh hướng mới của nghiên cứu văn học và môi trường.
Nhà phê bình người Mĩ William Slaymaker từng thốt lên trước sự phát triển nhanh như vậy của nghiên cứu văn học sinh thái: “Từ những năm 80, 90, văn học môi trường và phê bình sinh thái dần dần trở thành hiện tượng văn học mang tính toàn cầu. Hai từ mới “Văn sinh thái”(ecolit) và “phê sinh thái”(ecocrit) xuất hiện với số lượng nhiều trong  tạp chí, sách vở xuất bản, hội thảo khoa học, hạng mục học thuật và vô số chuyên đề nghiên cứu, luận văn, và lan nhanh như nước lũ”(15). Murphy - nhà phê bình danh tiếng, giáo sư đại học Indiana, cho rằng: quốc tế hóa, toàn cầu hóa là đặc điểm nổi bật của sự phát triển những năm gần đây của phê bình sinh thái. Murphy còn cho rằng: “Tất nhiên không nhất thiết mỗi người đều trở thành nhà phê bình sinh thái, nhưng trong tất cả các khoa mà hội viên Hội ngôn ngữ học hiện đại giữ chức vụ, đều nên đem phê bình sinh thái vào việc mở môn học, cho dù chỉ là để thỏa mãn hứng thú và nhu cầu của sinh viên và nghiên cứu sinh cũng cần phải làm” (16). Tình hình thực tế đúng là như vậy. 10 năm gần đây, trong đại học ở Mĩ, các môn học có liên quan đến văn học sinh thái hoặc văn học và môi trường đều tăng lên mạnh mẽ. Ví dụ, chuyên luận phê bình sinh thái của Lawrence Buell được dẫn dụng rộng rãi trong giới học thuật, chính là cuốn sách được viết ra trên cơ sở những bài giảng của ông về “văn học mĩ và môi trường Mĩ” tại đại học Harvard. Tại khoa Anh văn đại học Yale, từ sinh viên năm thứ nhất đến nghiên cứu sinh, đều có những môn học liên quan đến văn học sinh thái để sinh viên tham gia tiến tu. Giáo sư Peterson tiền chủ nhiệm của khoa này từng nói: “Hứng thú của sinh viên đối với văn học sinh thái ngày càng sâu sắc, rất nhiều nghiên cứu sinh chọn đề tài luận án liên quan đến lĩnh vực văn học và tự nhiên - phê bình sinh thái”(17). Đại học Naveda là trung tâm giảng dạy và nghiên cứu văn học sinh thái của toàn nước Mĩ. Ở đây, tập hợp nhiều giáo sư, thực tập sinh và nghiên  cứu sinh chuyên nghiên cứu văn học sinh thái. “Hạng mục bồi dưỡng nghiên cứu sinh văn học và môi trường” mỗi năm tuyển khoảng 2-30 thạc sĩ và nghiên cứu sinh. Đại học Virginia, đai học Arizona, đại học Georgia, đại học Oregen, đại học Utah, và đại học Wisconsin đều là cơ sở quan trọng của phê bình sinh thái.
Tân văn học sử (new literary history) mùa hè năm 1999 là chuyên đề phê bình sinh thái, tổng cộng in 10 bài chuyên luận về phê bình sinh thái, dùng đến 210 trang, trong đó, với bài Khởi nghĩa của sinh thái Buell ví sự trỗi dậy của phê bình sinh thái như sự khởi nghĩa đầy thanh thế của các nhà phê bình đối với văn hóa truyền thống trong thời đại nguy cơ sinh thái. Tháng 10 cùng năm, tạp chí có quyền uy hơn là Tạp chí của hội ngôn ngữ học hiện đại cũng mở một diễn đàn đặc biệt, sưu tập các bài viết của hơn 10 học giả hàng đầu, chuyên thảo luận về phê bình sinh thái. Trong số 1 của tạp chí đã in 14 bài của các chuyên gia có uy tín (bao gồm Buell, Murphy và Glotfelty).
Năm 2000 cũng là năm phát triển mạnh của phê bình sinh thái, xuất hiện những chuyên luận và hàng loạt các tuyển tập quan trọng. Tháng 6 năm 2000 tại đại học Cork tiến hành hội thảo khoa học quốc tế đa ngành với chủ đề “Giá trị của môi trường”. Tháng 10 năm đó, tại đại học Danjiang Đài Loan đã tổ chức hội thảo quốc tế phê bình sinh thái với chủ đề “Diễn ngôn sinh thái”. Trong hội nghị, giáo sư Gifford đại học Leeds nước Anh đã kêu gọi học giả các nước: “Đem phê bình sinh thái vào trong giảng đường đại học”.
Năm 2000, trong những chuyên luận phê bình sinh thái tiêu biểu được xuất bản có chuyên luận Tính đa ngành trong nghiên cứu văn học viết về tự nhiên (Farther afield in the study of nature – oriented literature. Charlottesville: university press of Virginia, 2000) của giáo sư Murphy, cuốn sách bàn về văn học sinh thái, trong đó gồm tiểu thuyết, văn xuôi phi tiểu thuyết, và thơ ca.  Chuyên luận Chủ nghĩa môi trường trong văn học Mĩ của Meisel bàn luận về lí luận phê bình sinh thái và môi trường, phong cảnh, hoang dã.., và Bài ca của trái đất của Bate… Khác với trước tác của 9 năm về trước, trong bộ chuyên luận về phê bình sinh thái này, Bate mở rộng góc nhìn phê bình từ văn học chủ nghĩa lãng mạn, từ cổ đại Hi La đến toàn bộ văn học phương Tây thế kỉ 20, hơn nữa còn đi sâu bình luận về lí luận phê bình sinh thái. Giáo sư Kupe đại học Manchester chủ biên cuốn Văn bản nghiên cứu xanh: từ chủ nghĩa lãng mạn đến phê bình sinh thái do nhà xuất bản nổi tiếng Routledge xuất bản. Không giống với các học giả Mĩ, học giả Anh ngay thời kì đầu đã nghiêng hơn về “nghiên cứu xanh” chứ không phải “phê bình sinh thái”. Cuốn sách này chia làm 3 phần: “truyền thống xanh”, “lí luận xanh” và “đọc hiểu xanh”. Cũng năm 2000 tập hợp các báo cáo tại đại hội lần thứ 2 của ASLE được xuất bản với tiêu đề Đọc dưới sự chỉ đường của tự nhiên: tuyển tập mới về phê bình sinh thái.
Bước sang thế kỉ 21, phê bình sinh thái phát triển sâu rộng hơn. Năm 2001, Buell cho xuất bản cuốn Viết vì thế giới đang lâm nguy: văn học , văn hóa, môi trường nước Mĩ và các quốc gia khác. Cuốn sách này có điểm khác so với các trước tác khác là không chỉ đơn phương bàn luận văn học có khynh hướng tự nhiên nữa, mà tuyển chọn cùng thảo luận tác phẩm văn học có khuynh hướng tự nhiên tiêu biểu và những tác phẩm văn học có khuynh hướng văn hóa, làm rõ quan điểm tư tưởng khác nhau trên hệ thống diễn ngôn luân lí sinh thái, hiện đại hóa, phát triển, tài nguyên, ô nhiễm. Phương pháp nghiên cứu như vậy có lợi đối với việc thúc đẩy sự hình thành những tri thức chung cơ bản trong quá trình đối thoại của những quan điểm khác nhau, đồng thời làm cho phê bình sinh thái càng có tính sắc bén, mang đến mô hình có ý nghĩa gợi ý cho văn học truyền thống theo cái nhìn sinh thái.  Meisel chủ biên cho xuất bản cuốn Một trăm năm của phê bình sinh thái thời kì đầu, tiến hành nhìn lại và tổng kết toàn diện về phê bình sinh thái, đẩy phê bình sinh thái về giữa thế kỉ 19. Tuyển tập Viết về tự nhiên siêu việt: biên giới của phê bình sinh thái rộng lớn do Armbruster và Wallace đồng chủ biên tập hợp bài viết của 23 học giả nổi tiếng.
Năm 2002, Tạp san nghiên cứu văn học uy tín Nghên cứu văn học liên ngành năm đó cũng liên tục giới thiệu hai kì đặc san về phê bình sinh thái: Thi học sinh thái (số 3) và Phê bình văn học sinh thái (số4).Roosendaal chủ biên tuyển tập Xanh hóa nghiên cứu văn học: văn học, luân lí và môi trường, Dries cho xuất bản chuyên luận Phê bình sinh thái: sáng tạo tự ngã và hoàn cảnh trong văn học Indian Mĩ và môi trường. Cuốn sách này bắt đầu bằng phân tích  tác phẩm của nhà văn Indian Mĩ, bàn về phương thức tồn tại của sinh thái. Tác giả của cuốn sách phát biểu một cách rõ ràng mục đích của bà là “xây dựng sự tồn tại đẹp đẽ mang tính chỉnh thể sinh thái. John Pamu chủ biên cuốn tuyển tập Truyền thống môi trường trong văn học Anh ngữ, trong đó sưu tầm 15 bài bàn về phê bình sinh thái từ góc độ lí luận và thực tiễn.  Cuốn giáo trình Lí luận khởi điểm: dẫn luận lí luận văn học và lí luận văn hóa do Peter Barry soạn được xuất bản lần thứ 2 ở Nhà xuất bản đại học Manchester, cuốn giáo trình này có thêm một chương mới là “Phê bình sinh thái”, giới thiệu một cách toàn diện sự ra đời, thuật ngữ, hàm nghĩa, thành tựu chủ yếu, nhiệm vụ của phê bình sinh thái, còn thêm một bài liệt kê thực tiễn phê bình sinh thái. Cùng năm, cuốn Dẫn luận phê bình sinh thái thể kỉ 21 do Julian Wolfreys chủ biên do nhà xuất bản Edinburgh xuất bản, cuốn sách cũng dùng một chương giới thiệu về phê bình sinh thái. Như vậy, sự giới thiệu của các giáo trình tài liệu cho thấy phê bình sinh thái đã nhập vào dòng chính của học thuật.
Năm 2003 giáo sư Lough đại học Oregon cho xuất bản chuyên luận Phê bình sinh thái thực dụng: văn học, sinh thái học và môi trường. Lough bàn luận một cách sâu sắc về tính tất yếu của phê bình sinh thái, quan hệ giữa phê bình sinh thái và khoa học, đồng thời, từ góc độ văn hóa sinh thái đương đại tiến hành bình luận hàng loạt các văn bản văn học, đặc biệt là của Willa Cather, William Dean Howells, hi vọng với những bình luận này có thể “thúc đẩy phê bình sinh thái được vận dụng rộng rãi hơn, mở rộng biên giới ảnh hưởng của phê bình sinh thái”. Cũng trong năm này, Blanche và Scott Slovic chủ biên cuốn Văn bản ISLE : phê bình sinh thái 1993-2003 tuyển chọn những văn bản nghiên cứu tiểu biểu trong 10 năm của “Nghiên cứu liên ngành văn học và môi trường”. Trong cuốn này chú trọng bình giá lại giá trị của văn học đặc biệt là văn học truyền thống từ góc độ sinh thái, chỉ ra phê bình sinh thái cần phải “có cách đọc mới về những nhà văn viết về môi trường quen thuộc”.
Năm 2004 Garrard đại học Bath Spa Anh xuất bản chuyên luận Phê bình sinh thái bàn về diễn ngôn chủ yếu của phê bình sinh thái từ 8 phương diện như ô nhiễm, tư tưởng (như chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái, tư tưởng chủ nghĩa môi trường của nhân loại trung tâm), điền viên, hoang dã, ghi chép thông báo, nhà ở, động vật, trái đất.
Thành tựu quan trọng nhất của năm 2005 là bộ chuyên luận phê bình sinh thái thứ 3 của Lawrence Buell mang tênTương lai của phê bình môi trường: nguy cơ môi trường và tưởng tượng văn học. Buell đặt phê bình sinh thái vào chỉnh thể lĩnh vực nghiên cứu văn hóa và văn học để khảo sát, chỉ ra một cách rõ ràng “sự chuyển hướng của sinh thái môi trường trong những nghiên cứu về văn học và văn hóa” (the environment turn in literary and cultural studies), “diễn ngôn sinh thái của văn học”(literary ecodiscourse) được sử dụng rộng rãi hơn, hình thành hệ thống toàn cầu hóa hơn, được thảo luận liên ngành nhiều hơn, được cấu thành từ nhiều phương diện hơn”. Cuốn chuyên luận này đã tổng kết sự ra đời, phát triển, thành tựu cũng như hạn chế của phê bình sinh thái; bàn luận về quan hệ giữa thế giới, văn bản, và phê bình sinh thái, đặc biệt là  tưởng tượng và biểu hiện của môi trường phân tích quan niệm không gian, địa điểm và tưởng tượng bản địa hóa và toàn cầu hóa; nhấn mạnh luân lí phê bình sinh thái và nhiệm vụ chính trị; cuối cùng đưa ra một loạt quan điểm mang tính xây dựng đối với sự phát triển tương lai của phê bình sinh thái. Cuối cùng của cuốn sách còn có một phụ lục thuật ngữ, giải thích tường tận những thuật ngữ thường dùng nhất của phê bình sinh thái, có tính thực dụng cao.
Năm 2006 học giả Hayes đại học Stanford đã đăng một bài dài trên Tạp chí hội ngôn ngữ học hiện đạimang tên Dẫn luận phê bình sinh thái cho những người tham dự sau bình giá sự phát triển mới nhất của phê bình sinh thái..
Phê bình sinh thái cũng nhận được sự chú ý cao độ của những học giả từ những quốc gia Âu Mĩ không dùng tiếng anh làm ngôn ngữ chính. Murphy cho rằng, quốc tế hóa hoặc toàn cầu hóa là đặc điểm nổi bật của phê bình sinh thái. Ngoài phạm vi văn học  Anh ngữ, phê bình sinh thái các nước, Nhật Bản, Ấn Độ, Mexico, Australia, Nigeria, Malta, Estonia, khu vực Caribbean… cũng có những thành tựu đáng ghi nhận. Để phát huy đặc điểm này, năm 1998 Murphy đã chủ biên cuốn Văn học về tự nhiên: một bộ bách khoa thư mang tính quốc tế, tuyển chọn bài viết về phê bình sinh thái của các học giả đến từ hơn 10 quốc gia. Ông nói: “Sự phát triển của phê bình sinh thái cần tiến hành nhìn nhận mang tính quốc tế đối với văn học biểu hiện tự nhiên trong phạm vi toàn thế giới”, mà cuốn sách ông chủ biên chính là bước đầu tiên của hành trình đó”(Patrick D. Murphy (ed) Literature of nature: An international Sourcebook, chicago: Fitzroy Dearborn Publishers, 1998, p xiv). Năm 1997 Svend Erik Larsen, Annelise Ballegaard Petersen cùng chủ biên chuốn Về tự nhiên: văn học và ngoài văn học (Nature: Literature and its otherness, Odense University Press, 1997). Năm 1998 học giả Đức Jan Hollm xuất bản chuyên luận Chủ nghĩa lí tưởng của người Mĩ: văn học trong thế giới xanh (Die Angloamerikanische Okotopie: Literarische entwurfe einer grunen welt, Bern: P Lang, 1998). Năm 2002, học giả người Pháp Alain Suberchicot xuất bản chuyên luậnVăn học Mĩ và sinh thái học ( Littérature américaine et écologie, Paris, L’Harmattan, 2002). Năm 2004, học giả Mĩ Latinh Walter Rojas Perez xuất bản chuyên luận Phê bình sinh thái đương đại (La ecocritica hoy, San José Costa Rica: San José, 2004). Năm 2005 Elizabeth M. DeLoughrey, Renee K. Gosson, và George B. Handley cùng soạn cuốn Văn học và Sinh thái môi trường Caribbean (Caribbean literature and the Environment, Charlottesville: University of Virginia Press, 2005) ...
Hội nghiên cứu văn học và môi trường (ASLE) hiện nay đã trở thành tổ chức học thuật có tính quốc tế về phê bình sinh thái. Chỉ trong vòng 10 năm, tổ chức này đã phát triển và gây ảnh hưởng nhanh và rộng trong phạm vi thế giới, đã thành lập 8 phân hội ở Nhật Bản (1994), Anh (1996), Hàn Quốc(2001), Australia và New Zealand (2003), Đại lục châu Âu (2003), Ấn Độ (2004), Canada(2005) gồm hàng nghìn hội viên, ASLE mỗi lần đại hội đều có 4-500 người tham gia. Năm 2004 “Hội nghiên cứu văn học, văn hóa và môi trường châu Âu” (European Association for the study of literature, culture and environment)  tổ chức học thuật phê bình sinh thái châu Âu độc lập so với ASLE được thành lập, gọi tắt là EASLCE. Tôn chỉ của hội nghiên cứu này là mang đến một diễn đàn châu Âu để cho các học giả nghiên cứu và giao lưu, suy nghĩ về quan hệ giữa văn học và tự nhiên và những biểu hiện của nó trong văn hóa, văn học.
Có thể nói, hiện này, trào lưu phê bình sinh thái đang dần dần lan rộng trên toàn thế giới.
 
 
Chú thích

(1) Cheryll Glotfelty & Harold Fromm, The ecocriticism Reader: Landmarks in literary ecology. The university of Georgia Press, 1996, P18
(2) Karl Kroeber, Ecological literary Criticism: Romantic Imagining and the Biology of Mind, Columbia University, Press, 1994, p25.
(3) Jonathan Levin On Ecocriticism (Aletter), PMLA 114.5 oct, p1098
(4) Donald Worster, The Wealth of Nature: Environmental History and the Ecological Imagination,Oxford University Press, 1993, p27
(5) Joseph W. Meeker, The comedy of sunvival: studies in literary ecology, Charles Scribner’s Sons, 1974, pp.3-4
(6) Karl Kroeber Home at Grasmere: ecological holiness, PMLA 89 (1974) pp132-41
(7) Cheryll Glotfelty & Harrold Fromm, The Ecocriticism Reader: Landmarks in literary Ecology, pp114-15
(8) Jonathan Bate, Romantic Ecology, wordsworth and the environmental tradition, Routledge, 1991, p11
(9) R.Kerridge & N.Sammells (ed), Writing the Environment: ecocriticism and literature, Zed books ltd.1998, p9
(10) Peter Bary, Beginning theory: An introduction to literary and cultural theory, Machester: Manchesters university press, 2002, p270
(11)  Karl Kroeber, Ecological Literary criticism: Romantic Imagining and the Biology of Mind, p1-9
(12)  R.Kerridge & N.Sammells (ed), Writing the environment: ecocriticis and literature, p32.
(13)  Julian Wolfreys(ed), Introducing Criticism at the 21st century, Edinburgh: edinburgh university press, 2002, p 173
(14) Ibid, p5
(15) William Slaymaker, On Ecocriticism (a letter), PMLA 114.5 (oct 1999), p 1100
(16) Patrick D. Murphy, On Ecocriticism (Aletter), PMA 114.5 (oct 1999), p. 1099
(17) Steve Grant “Finding nature in literature”, The Hartford Courant 16, (dcc 1998), F1
 
                                                                                              II
Phê bình sinh thái có cội nguồn tư tưởng sâu xa. Cho dù trên tổng thể, tư tưởng  văn hóa chủ lưu của phương Tây là chủ nghĩa nhân loại trung tâm và tư tưởng chinh phục, khống chế, cải tạo tự nhiên (tổng kết một cách có hệ thống và phê bình những tư tưởng này là nhiệm vụ chủ yếu của phê phán văn hóa mà phê bình sinh thái tiến hành), nhưng chúng ta vẫn có thể tìm thấy rất nhiều những luận bàn về tư tưởng triết học sinh thái. Những bàn luận này trước kia bị chúng chúng ta coi nhẹ, nhưng ngày nay lại trở thành cơ sở tư  tưởng quý giá của phê bình sinh thái.
Từ cổ đại Hi La đến thời văn nghệ Phục hưng, văn minh phương Tây cuối cùng xác lập giá trị cao quý của con người và địa vị trung tâm của con người trong tự nhiên: con người là “thước đo của vạn vật”(Protagoras), “linh hồn của vạn vật”(Shakespeare); mà vạn vật không chỉ “tồn tại vì con người” (Aristotle) mà còn “trở thành nô lệ của con người”(Bacon). Nhưng, chúng ta nghe được một số thanh âm khác nhau: nhà triết học cổ đại Hi La cho rằng  “mục đích của nhân sinh là chung sống hài hòa với tự nhiên”[i]. Triết gia cổ đại La Mã Cicero nhấn mạnh tôn trọng hơn nữa tất cả các sinh mệnh, vì “động vật và con người giống nhau, đều cần có tôn nghiêm của sinh mệnh, không nên bị tổn hại”. Học giả chủ nghĩa nhân văn thời kì văn nghệ Phục Hưng Qiesapiernuo đề xuất một cách rõ ràng cần phải tôn trọng vạn vật tự nhiên, vì “trong giới tự nhiên không có gì đáng căm ghét, ngay cả sinh vật bé nhỏ nhất cũng có giá trị thần thánh của riêng mình”.  Một học giả nhân văn khác Tecaixiao trong công trình Bàn về khởi nguồn của tính vật kịch liệt đả kích hệ thống tư tưởng lấy con người làm cơ sở mà những người cùng thời đã xây dựng, cho rằng họ không những không tôn trọng và làm theo quy luật của đại tự nhiên, hơn nữa còn chà đạp thô bạo lên tự nhiên. “Họ quá tự tin vào bản thân, không hề nghĩ chút nào đến trạng thái của bản thân sự vật và sức mạnh của chúng”. Ông cảnh cáo nhân loại: nếu như “không hiểu điều kiện của sinh tồn mà chúng ta phải dựa vào và lực lượng làm mình suy vong, cho dù chúng ta ôm ấp ước vọng sinh tồn mãnh liệt, thì chết chóc cũng sẽ là đương nhiên”[ii]. Vinci đã đả kích như thế này về việc nhân loại bạo hành tự nhiên: “Nhân loại thật sự không hổ thẹn là vua của muôn loài, vì sự tàn bạo của họ vượt qua tất cả cầm thú. Chúng ta dựa vào cái chết của động vật khác để sinh tồn, chúng ta thực là nấm mồ của vạn vật… Sẽ có một ngày, mọi người sẽ giống như tôi, coi giết động vật cũng tàn bạo như giết đồng loại”[iii].
Thế kỉ 18-19, cùng với sự đề xướng trào lưu triết học hướng về tự nhiên và sự hưng khởi của văn học chủ nghĩa lãng mạn, trong lịch sử văn minh phương Tây, thời kì phồn vinh đầu tiên của tư tưởng sinh thái đã đến. Ý thức trở về với tự nhiên và cùng với chung sống hài hòa vạn vật tự nhiên thậm chí trở thành tư tưởng chủ lưu. Nhà văn chủ nghĩa lãng mạn có cống hiến cực lớn đối với sự hình thành của trào lưu này. Novalis coi đại tự nhiên là “sự tồn tại khác của linh hồn”, đả kích mãnh liệt văn minh công nghiệp thù địch với tự nhiên, gọi nó là “cuộc chiến tranh hủy diệt kéo dài được tính toán một cách cẩn kĩ lưỡng mà nhân loại tiến hành với đại tự nhiên”[iv]. Nhà thơ lãng mạn chủ nghĩa Đức Achim von Arnim từng chất vấn: “Cổ thụ đi đâu rồi? hôm qua chúng ta vẫn còn ngồi dưới nó; còn có kí hiệu nguyên thủy giới hạn cố định nữa! Sao vậy? xảy ra chuyện gì thế? Người dân dường như quên mất chúng rồi”. Trả lời điều đó, nhà văn lãng mạn Pháp Chateaubriand nói: “Rừng sâu có trước các dân tộc, sa mạc đến sau con người”[v]. Làm thế nào để tránh được việc nhân loại sau khi hủy diệt tự nhiên cũng sẽ hủy diệt bản thân? Hugo cho rằng, việc cần kíp nhất trước mắt là cần xây dựng quan hệ đạo đức hài hòa giữa con người và tự nhiên. Ông nói “con người và con người nên đối đãi một cách văn minh với nhau, điều này đã tương đối tiến bộ rồi; sau đó con người cũng nên đối đãi một cách văn minh với tự nhiên, nhưng điều này cho đến nay vẫn là một khổng trống rỗng”[vi]. Thoreau được coi là nhà văn sinh thái vĩ đại nhất của thời đại lãng mạn chủ nghĩa. Ông không tán thành việc lấy con người làm gốc trong việc đối xử với tự nhiên, ông quyết liệt phản đối dựa vào khoa học kĩ thuật quấy nhiễu tự nhiên và thống trị tự nhiên. Những tác phẩm của ông đều “vì con người thể hiện sự tồn tại của tự nhiên bên ngoài nhân loại, nó là sự tồn tại chủ yếu, là sự tồn tại vượt len trên bất kì thành viên của nhân loại”[vii]. Thoreau cho rằng sự tồn tại đó có ý nghĩa to lớn đối với sự tồn tại của nhân loại, có lúc ông dứt khoát dùng chữ “hoang dã” (wilderness) để gọi sự tồn tại đó, và nói “chỉ có trong hoang dã mới có thể bảo hộ được thế giới này”.  Giống như các nhà văn lãng mạn khác, Thoreau cũng nhấn mạnh nhân loại nên sùng bái tự nhiên, sự sùng bái tự nhiên ở mức cao này không chỉ có thể cứu vớt tự nhiên mà còn có thể cứ vớt bản thân nhân loại: “Con người có thể thái độ sùng bái chân chính đối với cây cối và đá sỏi, đó chính là sự sống mới của nhân loại”[viii]. Schopenhauer đặc biệt nhấn mạnh đạo đức luân lí của con người đối với tự nhiên. Ông chỉ ra: “Luân lí Kito giáo không nghĩ đến động vật… Mọi người đều cho rằng động vật không có quyền lợi, họ nói với bản thân, tất cả những gì con người làm đối với động vật không liên quan gì đến vấn đề đạo đức… Điều này quả thật là luận điệu dã man do con người tạo ra”[ix]. Nietzsche lại chỉ ra, con người “căn bản không phải là quán quân của vạn vật: mỗi loài sinh vật đều bình đẳng với các loài vật khác”[x]Biện chứng pháp tự nhiên của Engel có thể coi là kiệt tác bàn về quan hệ giữa con người và tự nhiên, sau đó những tư tưởng sâu sắc nhất trong kiệt tác này bất luận là chiến tuyến chủ nghĩa tư bản phương tây hay chiến tuyến chủ nghĩa xã hội phương Đông đều không coi trọng đúng mức: “Chúng ta tất yếu phải từng bước ghi nhớ: chúng ta thống trị giới tự nhiên, quyết không giống như kẻ chinh phục thống trị các dân tộc khác, quyết không giống như  một cá nhân nào đó đứng ngoài tự nhiên – ngược lại, đến máu thịt, cân não của chúng ta đều thuộc về giới tự nhiên và tồn tại trong đó; toàn bộ sự sức mạnh chi phối của chúng ta đối với tự nhiên chính là chúng ta mạnh hơn tất cả các sinh vật khác, có thể nhận thức và vận dụng chính xác quy luật tự nhiên”. Tiến thêm một bước nữa, ông nói, “chúng ta không nên quá say sưa với thắng lợi của nhân loại đối với giới tự nhiên. Đối với mỗi lần thắng lợi như vậy, giới tự nhiên đều sẽ báo thù chúng ta. Mỗi lần thắng lợi, ở tuyến đầu tiên đều xác thực đạt được kết quả mà chúng ta dự định, nhưng ở tuyến thứ 2 và thứ 3 lại có ảnh hưởng hoàn toàn khác, ngoài dự dịnh của con người, nó thường thường làm cho kết quả ở tuyến đầu tiêu biến”[xi]. Engel không hề phủ nhận sự khống chế, lợi dụng tự nhiên, nhưng trên thực tế đã dùng mệnh đề nổi tiếng “một lần thắng lợi hai lần thất bại” cảnh báo: nhân loại không thể chinh phục đại tự nhiên, nếu không, chỉ tự chuốc họa vào thân.
Các nhà sinh vật học thế kỉ 18-19 đã có những cống hiến vĩ đại đối với tư tưởng sinh thái của nhân loại. Nhà thực vật học Thụy Điển Linnaeus đề xuất thuyết “thể chung của tự nhiên” và trật tự tự nhiên, rất coi trọng quan hệ tương hỗ giữa vạn vật tự nhiên. Các nhà khoa học thuộc phái Linnaeus đề xuất thuật ngữ nổi tiếng “dây xích sinh vật” (chain of being), chỉ ra “trong bất kì tình huống nào, nếu như một mắt xích của dây xích tự nhiên bị đắt đoạn thì sẽ dẫn đến tình trạng hỗn loạn không có trật tự của chỉnh thể”[xii]. Năm 1866, thuật ngữ “sinh vật học”(Oecologie) do nhà khoa học người Đức Haeckel lần đầu tiên đề xuất, (sau đó biến thành oecology, cuối cùng mới biến thành ecology). Theo Haeckel giới định, sinh thái học là “khoa học nghiên cứu quan hệ giữa sinh vật và thế giới bên ngoài của nó”[xiii]. Thuyết tiến hóa của Darwin có vai trò thúc đẩy không nhỏ đối với sự phát triển của tư tưởng triết học sinh thái. Phát hiện ra quan hệ mật thiết giữa con người với các sinh vật khác, đã phá vỡ tham vọng hoang đường con người thoát li khỏi sinh vật khác đứng cao hơn tất cả, thúc đẩy con người xây dựng ý thức tất cả các sinh vật đều có quan hệ huyết thống, thấy rằng nhân loại và các sinh vật khác có cùng nguồn gốc trên ý nghĩa sinh vật học, tiếp đó thúc đẩy con người mở rộng luân lí của nhân loại đến tất cả các sinh vật, đem sự quan tâm của con người mở rộng đến tất cả các sinh mệnh khác. Nhà tiểu thuyết Anh thế kỉ 19 Hardy đã nhìn ra ý nghĩa của học thuyết này một cách vô cùng rõ ràng. Ông trình nói: “Xem ra chỉ có rất ít người nhận thấy, xác lập ảnh hưởng sâu xa nhất của học thuyết khởi nguyên về cộng đồng vật chủng là ở lĩnh vực đạo đức …”[xiv].
Tư tưởng luân lí sinh thái nửa đầu thế kỉ 20 có thể coi là nguồn gốc tinh thần trực tiếp nhất của phê bình sinh thái, trong đó quan trọng nhất là luân lí “kính trọng sinh mệnh” của Schweitzer và “luân lí địa cầu” của Leopold. Schweitzer cho rằng, sự đồng tình của nhân loại nếu “không chỉ liên quan đến con người, mà còn bao gồm tất cả sinh mệnh, đó chính là luân lí có độ rộng và độ sâu chân chính”[xv]. Albert Einstein cũng tán thành quan niệm luân lí rộng lớn này, ông chỉ ra “nhân loại vốn là một bộ phận khác của vũ trụ…. Nhiệm vụ ngày nay và sau này của chúng ta là dùng sự từ bi quảng đại để đối đãi vạn vật tự nhiên”[xvi]. Leopold coi sự hoàn chỉnh, ổn định, mĩ lệ của thể chung của sinh mệnh là “luân lí địa cầu” với tiêu chuẩn đạo đức cao nhất, là tiêu chí biểu hiện thời đại của sinh thái học đã đến”[xvii].
Một người khác trực tiếp thúc đẩy sự trỗi dậy của phê bình sinh thái là Carson. Bà tiến hành phê bình sâu sắc văn minh phương Tây: “Chúng ta cứ cuồng vọng bàn đến việc chinh phục tự nhiên. Chúng ta còn không đủ trưởng thành để hiểu rằng con người chỉ là một bộ phận rất nhỏ của cũ trụ rộng lớn. Điều cốt yếu trong thái độ của nhân loại đối với tự nhiên ngày nay chính là vì con người hiện đại đã có năng lực có thể cải biến triệt để và hoàn toàn hủy diệt tự nhiên, quyết định vận mệnh của toàn bộ trái đất”. Sự kịch liệt khuếch trương năng lực nhân loại “là điều bất hạnh của chúng ta, hơn nữa rất có thể là bi kịch của chúng ta. Vì năng lực to lớn này không chỉ không chịu khống chế của trí tuệ và lí tính mà còn lấy sự vô trách nhiệm làm tiêu chí của nó. Cái giá lớn nhất phải trả của việc chinh phục tự nhiên chính là tự chôn vùi bản thân”[xviii]. Sau đó “nhân loại tự say sưa với năng lực to lớn của mình, xem ra đang đi ngày một xa trên con đường thực nghiệm hủy diệt bản thân và thế giới”[xix]. Carson “đã chất vấn thái độ cơ bản của xã hội kĩ thuật này đối với tự nhiên”[xx], làm lộ ra “quan niệm nguy hiểm ẩn tàng trong hành vi can thiệp và khống chế tự nhiên”[xxi], “cảnh cáo việc chúng ta dùng kĩ thuật chinh phục tự nhiên một cách thiếu tầm nhìn xa rất có thể sẽ hủy diệt tài nguyên cần thiết đối với sự sinh tồn của nhân loại, mang đến cho nhân loại tai họa mang tính hủy diệt”[xxii].
Phê bình sinh thái có cơ sở tư tưởng sâu rộng, nhưng điều này chưa đủ xác định nó sẽ có một tương lai huy hoàng. Phê bình sinh thái khởi đầu từ phê phán văn hóa tư tưởng, cũng dương danh ở phê phán văn hóa tư tưởng, sự phê phán này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc thúc đẩy chúng ta nhận ra khiếm khuyết nghiêm trọng thậm chí chết người của truyền thống văn hóa và tư tưởng nhân loại. Nhưng, nếu như nó muốn thực sự đạt được sự “trưởng thành trên phương diện lí luận”, thì không thể chỉ dừng lại ở phê phán, mà tất yếu trên cơ sở kế thừa thành tựu tư tưởng sinh thái của người đi trước, giải quyết những vấn đề tư tưởng lớn mà người đi trước vẫn chưa giải quyết. Phê bình sinh thái không nên chỉ là “khoa học mang tính lật đổ”[xxiii], mà còn cần phải là khoa học mang tính xây dựng. “hướng đến sự trưởng thành trên phương diện lí luận”, đem đến trước tác lí luận mang tính tiêu biểu có ảnh hưởng rộng rãi”[xxiv] là kì vọng của giáo sư chủ nhiệm khoa Anh văn đại học Harvard Buell đối với sự phát triển trong tương lai của phê bình sinh thái, nhưng phê bình sinh thái cuối cùng nên có những đột phá nào trên phương diện thực hiện lí luận, Buell lại không chuyên tâm trình bày. Tôi cho rằng, phê bình sinh thái chí ít nên giải quyết vấn đề của bốn phương diện sau, hoặc chí ít có một số đột phá mang tính khai sáng.
Trước hết là nguyên tắc triết học về địa vị của con người trong tự nhiên và chuẩn tắc luân lí cơ bản trong việc đối đãi với tự nhiên. Liệu có cần triệt để phủ nhận chủ nghĩa nhân loại trung tâm luận? liệu có phải tất yếu hướng đến chủ nghĩa sinh thái trung tâm? Cuối cùng là tiếp tục kiên trì coi lợi ích của con người là hạt nhân đồng thời coi trọng lợi ích của vạn vật tự nhiên, hay là chỉ coi con người là một mắt xích trong chuỗi sinh vật (bình đẳng với các mắt xích khác) và coi lợi ích chỉnh thể của hệ thống sinh thái là cao nhất? sinh thái trung tâm liệu có phải tất yếu dẫn sự coi nhẹ nguyên tắc công chính?
Tiếp nữa là chủ nghĩa phát triển. Từ khi câu lạc bộ Roma đề xuất suy nghĩ mang tính phủ định đến nay, vấn đề này không chỉ không được giải quyết mà còn ngày càng phức tạp. Phát triển hay là sinh tồn?- phát triển có ích đối với sinh tồn hay là có hại đối với sinh tồn? Sự phát triển của nhân loại hiện nay hay là sự sinh tồn của con cái đời sau? Sự phát triển của nhân loại hay là sự sinh tồn của các vật chủng khác? Có thể và quan tâm đến sinh tồn và phát triển như thế nào? (bao gồm sự sinh tồn lâu dài của con cháu đời sau và vạn vật tự nhiên). Thế nào mới là sự phát triển chân chính? Nhân loại chân chính cần sự phát triển như thế nào? Vấn đề càng trở nên nghiêm trọng và càng ngày càng trở nên quan trọng.
Tiếp nữa, chủ nghĩa khoa học và chủ nghĩa lạc quan kĩ thuật. Sự phê phán của các triết gia như Lewis Mumford, Heidegger, Horkheimer, Marcuse, Habermas…đối với khoa học kĩ thuật vì sao không được đại đa số mọi người, đặc biẹt là đại đa số những nhà chính trị có khả năng quyết định đối với mô hình phát triển xã hội và các nhà khoa học khác tiếp nhận? Trên cơ sở chỉ ra sự phát triển của khoa học kĩ thuật phá hoại có tính hủy diệt đối với sinh thái, làm thế nào để bình giá về vai trò quan trọng không thể thiếu của khoa học kĩ thuật đối với việc nhân loại thoát khỏi khó khăn sinh tồn và nguy cơ sinh thái? Làm thế nào để thúc đẩy khoa học kĩ thuật phát triển trên con đường thực sự có trách nhiệm đối với nhân loại và chỉnh thể hệ thống sinh thái.
Cuối cùng là phát hiện và dẫn nhập tài nguyên tinh thần của văn minh phương Đông cổ đại. Đây là một khuynh hướng phát triển quan trọng của phê bình sinh thái hiện nay. Rất nhiều các nhà tư tưởng và triết gia sinh thái như Schopenhauer, Schweitzer, Huxley, Toynbee,Capra, Ralston … đều nhấn mạnh ý nghĩa quan trọng của trí tuệ sinh thái phương Đông cổ đại. Nxb Đại học Harvard liên tục xuất bản nhiều chuyên luận bàn về giá trị to lớn của tư tưởng sinh thái phương Đông cổ đại đối với trào lưu văn hóa sinh thái, như Tư tưởng Nho gia và sinh thái học(2001), Nho gia và sinh thái học (1998), Tư tưởng Phật giáo và sinh thái học (1997). Ngày càng nhiều nhà nghiên cứu văn hóa sinh thái, tư tưởng sinh thái ý thức được rằng phát hiện và dẫn nhập trí tuệ sinh thái phương Đông cổ đại rất có thể sẽ giúp triết học sinh thái, luân lí học sinh thái, văn học sinh thái và phê bình sinh thái giải quyết được những khó khăn được nêu ở trên. Ở phương diện này, học giả Trung Quốc có ưu thế lớn, trên thực tế, khuynh hướng phát triển này của phê bình sinh thái mang đến cho học giả Trung Quốc có cơ hội hiếm có để hướng đến diễn đàn học thuật thế giới. Trên diễn đàn thế giới của phê bình sinh thái, rất nhiều người đang chờ đợi sự tham dự của học giả Trung Quốc, chờ đợi những cống hiến mới, tài nguyên tinh thần có tính gợi ý đến từ quê hương của trí tuệ sinh thái phương Đông cổ đại cho sự toàn cầu hóa của phong trào tư tưởng xanh.
 
Đỗ Văn Hiểu dịch từ tiếng Trung
Ngô Hương Giang hiệu đính thuật ngữ từ tiếng Anh
(Dịch, tổng hợp từ bản tiếng Trung: Phê bình sinh thái Âu Mĩ, Nxb Học Lâm, 2008, và Phê bình sinh thái: Phát triển và nguồn gốc, trong “Tuyển tập văn luận văn học sinh thái Trung quốc và thế giới”, Nxb Đại học công Thương Triết Giang, 2010, tr48-60)
Cập nhật: 03/02/2016 - Lượt xem: 1659

Bài cùng chuyên mục