Tiện ích


Thống kê truy cập

BỘ MÔN VĂN HỌC VIỆT NAM DÂN GIAN VÀ TRUNG ĐẠI

(Bộ môn Văn học Việt Nam I)

I. Quá trình hình thành và phát triển đội ngũ:

Bộ môn Văn học Việt Nam I được thành lập từ những năm 1956 – 1957, do GS Bùi Văn Nguyên làm Chủ nhiệm bộ môn.

Giai đoạn đầu (những năm 1956 - 1970):Tổ bộ môn được giao nhiệm vụ đào tạo Cử nhân Văn khoa Sư phạm cho hai chuyên ngành: Văn học Việt Nam trung đại và Văn học dân gian. Song do cơ cấu tổ chức, về Văn học Việt Nam trung đại, tổ bộ môn chỉ đào tạo phần Văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XVIII (bấy giờ gọi là “Văn học phong kiến thượng kì”). Cùng với ngành Sư phạm lúc đó, Cử nhân Văn khoa chỉ đào tạo hai năm.

Năm 1965, do yêu cầu mới, tổ bắt đầu đào tạo hệ Cử nhân ba năm và bồi dưỡng cho hệ Cử nhân hai năm (thêm một năm gọi là hệ 2 + 1). Tiếp đó, năm 1968, tổ bắt đầu đào tạo hệ Cử nhân bốn năm và hệ Cử nhân 3 + 1 (bồi dưỡng thêm một năm cho hệ Cử nhân ba năm).

Trong quá trình chuyển từ đào tạo hệ Cử nhân hai năm lên hệ Cử nhân bốn năm, đội ngũ cán bộ giảng dạy của tổ luôn gắn quá trình đào tạo với tự đào tạo, gắn giảng dạy với nghiên cứu khoa học. Bộ giáo trình Văn học phong kiến thượng kì và Văn học dân gian đầu tiên của trường ĐHSPHN do GS Bùi Văn Nguyên đã được ra mắt bạn đọc.

Giai đoạn thứ hai (những năm 1970 - 1978): Do khoa học ngày càng phát triển và đòi hỏi cơ cấu tổ chức cần được sắp xếp lại, tổ bắt đầu đào tạo thêm phần Văn học Việt Nam trung đại từ thế kỉ XVIII đến giữa thế kỉ XIX (thời đó gọi là “Văn học phong kiến hạ kì”). Để đáp ứng nhu cầu mới, tổ bổ sung thêm lực lượng và đặt yêu cầu: mọi thành viên của tổ phải làm luận văn bước I (tương đương với trình độ Thạc sĩ hiện nay). Thời kì này, GS Bùi Văn Nguyên vẫn giữ cương vị Trưởng bộ môn (nhiệm kì 1956 - 1979).

Giai đoạn thứ ba (từ năm 1979 đến nay): Sau khi đất nước thống nhất và hòa bình, nhiệm vụ mới được đặt ra. Đội ngũ cán bộ giảng dạy của tổ một mặt chi viện cho các trường khu vực từ Huế trở vào, bổ sung và chi viện cho trường ĐHSPHN II (Xuân Hòa – Vĩnh Phúc); mặt khác, được các trường đại học trong cả nước mời giảng. Cũng từ năm 1979, tổ bắt đầu đào tạo nghiên cứu sinh trong nước và hệ Cao học chính quy. Từ năm 1995, do yêu cầu sắp xếp lại chương trình, phần Văn học Việt Nam trung đại chính thức được giảng dạy bao gồm mười thế kỉ (từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX). Thời kì này, GS Đặng Thanh Lê làm Chủ nhiệm bộ môn từ 1979 đến 1989. Giảng viên chính Trần Gia Linh làm Chủ nhiệm bộ môn từ 1989 đến 1994. Sau khi thầy Trần Gia Linh nghỉ hưu, PGS.TS Nguyễn Đăng Na làm Chủ nhiệm bộ môn từ 1994 đến 2007. Tiếp đó, GS.TS Vũ Anh Tuấn làm Chủ nhiệm bộ môn từ 2007 đến 2013; TS Trần Thị Hoa Lê làm Chủ nhiệm bộ môn từ 2013 đến nay.

II. Công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học

Ngay từ những ngày đầu thành lập, tổ đã có truyền thống xuất bản giáo trình phục vụ kịp thời cho công tác đào tạo. Có thể kể tên các bộ giáo trình tiêu biểu qua các giai đoạn như sau:

-         Văn học phong kiến thượng kì và Văn học dân gian, Chủ biên: GS Bùi Văn Nguyên.

-         Văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XVIII, Chủ biên: GS Bùi Văn Nguyên.

-         Văn học Việt Nam từ nửa cuối thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX, Chủ biên: GS Đặng Thanh Lê.

-         Văn học dân gian, Chủ biên: PGS Đỗ Bình Trị.

-         Văn học trung đại Việt Nam, tập I, II, Chủ biên: PGS.TS Nguyễn Đăng Na (NXB ĐHSP, H, 2005, 2007).

-         Giáo trình Văn học trung đại Việt Nam, tập I, II, Chủ biên: PGS.TS Lã Nhâm Thìn (NXB Giáo dục Việt Nam, 2011, 2015).

-         Văn học dân gian Việt Nam, Chủ biên: PGS.TS Phạm Thu Yến (NXB ĐHSP, H, 2000).

-         Giáo trình Văn học dân gian, Chủ biên: PGS.TS Vũ Anh Tuấn (NXB Giáo dục Việt Nam, H, 2012).

Hiện nay, đáp ứng chương trình học chế tín chỉ (bắt đầu thực hiện từ K59, khóa học 2009 - 2013), tổ bộ môn tiếp tục đảm nhiệm đào tạo hai chuyên ngành Văn học dân gianVăn học Việt Nam trung đại ở cả ba hệ Cử nhân, Thạc sĩ, Nghiên cứu sinh:

1. Cử nhân: gồm Cử nhân chính quy (4 năm), Cử nhân chất lượng cao (4 năm) Cử nhân tại chức (Vừa làm vừa học), Cử nhân văn bằng hai, Cử nhân từ xa, Cử nhân Lưỡng quốc (Việt - Hàn),...

2. Thạc sĩ: gồm Cao học hệ chính quy (2 năm), Cao học hệ tại chức (3 năm).

3. Nghiên cứu sinh: tập trung (4 năm cho Cử nhân, 3 năm cho Thạc sĩ); không tập trung (5 năm cho Cử nhân, 4 năm cho Thạc sĩ). Chuyên ngành VHDG từ 2001 đến nay đã đào tạo 13 NCS bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ, hiện có 12 NCS đang theo học. Chuyên ngành VHTĐ từ khi thành lập bộ môn đến nay đã đào tạo 29 NCS bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ, hiện có 14 NCS đang theo học.

          Một bộ phận cán bộ của bộ môn được mời tham gia đào tạo thạc sĩ và nghiên cứu sinh tại các trường đại học và các Viện nghiên cứu trên cả nước: Đại học Khoa học Xã hội và nhân văn thuộc ĐHQG Hà Nội, Đại học Cần Thơ, Đại học Trà Vinh, Đại học Thái Nguyên, Đại học Văn hóa Hà Nội, Học viện Báo chí, Học viện Hành chính Quốc gia, Viện Văn học, Viện Hán Nôm, Viện Nghiên cứu Văn hóa, Viện Văn hóa Nghệ thuật…

Từ năm học 2014 – 2015, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện công tác giáo dục đào tạo của đất nước, bộ môn bắt đầu giảng dạy các học phần mới ở cả hai chuyên ngành, thực hiện từ hệ Cử nhân khóa 64.

Kết quả nghiên cứu khoa học của các thành viên bộ môn đã được thể hiện trong nhiều chuyên luận, chuyên khảo, tinh tuyển, tổng tập, giáo trình, tài liệu tham khảo, các công trình bài báo, đề tài cấp Trường, cấp Bộ, đề tài Naforsted...

Bộ môn đã chủ trì hoặc đồng chủ trì các Hội thảo khoa học các cấp: Tháng 12 năm 2009, bộ môn phối hợp với khoa và trường tổ chức Hội thảo khoa học“Mối quan hệ Văn học dân gian và Văn học viết - những vấn đề lí luận và thực tiễn”. Tháng 12 năm 2010, bộ môn phối hợp với Chi hội Văn nghệ dân gian trường Đại học Sư phạm Hà Nội tổ chức Hội thảo “Một ngàn năm Văn hóa dân gian Thăng Long Hà Nội”. Tháng 4 năm 2013, bộ môn tổ chức Hội thảo “Giáo sư Bùi Văn Nguyên với sự nghiệp giáo dục – đào tạo và nghiên cứu khoa học”. Đây là những hội thảo vừa có giá trị khoa học và thực tiễn, tiếp tục đào sâu, phát triển những vấn đề nghiên cứu văn học dân gian và trung đại từng được gợi mở từ thế hệ đi trước; vừa mang đậm truyền thống uống nước nhớ nguồn của bộ môn…

Các hoạt động nghiên cứu, trao đổi khoa học, điền dã cũng được tổ chức thường xuyên nhằm nâng cao nhận thức, kinh nghiệm và mở rộng quan hệ hợp tác khoa học với các đơn vị trung ương và địa phương: Đầu năm 2011, nhân ngày chính Lễ hội “lồng tồng” của đồng bào Tày Nùng, bộ môn tổ chức chuyến đi du khảo khoa học “trở về nguồn” thăm lại ATK Việt Bắc, Khu Bảo tàng Kháng chiến Tân Trào, Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam, dự lễ hội dân gian và giao lưu với Khoa Ngữ văn trường ĐHSP Việt Bắc (cũ) nay là ĐHSP Thái Nguyên.

III. Thành tích, khen thưởng và phương hướng công tác:

Điểm nổi bật của bộ môn là tinh thần đoàn kết, ý chí phấn đấu vươn lên, không ngừng nỗ lực tự hoàn thiện về mọi mặt. Truyền thống đoàn kết truyền thống tự lực là hai giá trị cơ bản đã được tạo dựng trao truyền gìn giữ từ thế hệ đầu tiên đến các thế hệ tiếp theo.

Trong suốt quá trình hình thành, xây dựng, phát triển đội ngũ 65 năm qua, các thành viên tổ bộ môn đã tham gia đào tạo có chất lượng nhiều thế hệ sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh trên khắp cả nước, cũng như các thế hệ học viên, sinh viên nước ngoài (Lào, Campuchia, Nga, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Canada...). Hàng năm bộ môn đều có những cán bộ đạt thành tích cao trong công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học, đặc biệt là công tác hướng dẫn sinh viên làm báo cáo khoa học đạt giải các cấp (Trường, Bộ). Các thành viên bộ môn đóng góp rất nhiều công sức cho những chuyến đưa sinh viên đi thực tế văn học trên khắp mọi miền đất nước. Các hoạt động ngoại khóa với các câu lạc bộ văn học dân gian và văn học Việt Nam trung đại (tuồng, chèo, quan họ, chầu văn, chuyển thể sân khấu hóa Truyện Kiều…) được xây dựng từ những năm sơ tán gian khổ vẫn tiếp tục được củng cố và phát huy, có sức lôi cuốn mạnh mẽ các thế hệ sinh viên mới.

Trong hơn nửa thế kỷ qua, ở thời kỳ nào bộ môn cũng có những công trình chuyên luận có vị trí dấu mốc trong sự phát triển chung của khoa học văn học Việt Nam: Thơ ca Việt Nam-Hình thức và thể loại, Truyện Kiều và thể loại truyện Nôm, Nghiên cứu tiến trình lịch sử của văn học dân gian Việt Nam, Tinh tuyển Văn học trung đại Việt Nam, Con đường giải mã văn học trung đại Việt Nam, Giảng văn Văn học Việt Nam,…Có thể nói những công trình như thế đều là những thành tựu tinh hoa, trong đó những ý tưởng khoa học mới mẻ của thế hệ trước chẳng những có giá trị định hướng nghiên cứu cho thế hệ sau mà còn có ý nghĩa khích lệ và nuôi dưỡng không khí học thuật thường xuyên trong tất cả các hoạt động sinh hoạt chuyên môn và nghiệp vụ của bộ môn. Ba bộ giáo trình Đại học và Cao đẳng được bộ môn biên soạn trong các thời kỳ 1960-1961, 1989-1991 và 2005-2015 gắn với ba giai đoạn trong quá trình phát triển đã từng có ảnh hưởng sâu rộng trong ngành trên phạm vi cả nước đều là sự tích hợp những thành tựu nghiên cứu sau hàng chục Hội thảo đã được tổ chức, hàng trăm bài báo khoa học đã được công bố và rất nhiều đề tài khoa học các cấp do bộ môn thực hiện đã được nghiệm thu. Cũng trong lĩnh vực khoa học nghiệp vụ sư phạm, có thể thấy hầu hết các bộ sách giáo khoa, sách giáo viên, sách tham khảo, sách bồi dưỡng thường xuyên về văn học dân gian và văn học Việt Nam trung đại ở mọi cấp học phổ thông từ 1987 đến nay đều ghi danh các nhà biên soạn hoặc chủ biên là cán bộ của bộ môn: Đặng Thanh Lê, Hoàng Hữu Yên, Trần Gia Linh, Nguyễn Đăng Na, Lã Nhâm Thìn, Lê Trường Phát, Đinh Thị Khang, Nguyễn Thị Bích Hà, Phạm Thu Yến, Vũ Anh Tuấn, Nguyễn Thị Nương, Nguyễn Việt Hùng, Nguyễn Thanh Tùng, Vũ Thanh… Trên cơ sở những thành tựu đó, từng bước bộ môn đã chủ động mở rộng các mối quan hệ  hợp tác quốc tế. Đến nay, một số công trình của GS Đặng Thanh Lê, PGS.TS Nguyễn Đăng Na, PGS.TS Đinh Thị Khang, GS.TS Vũ Anh Tuấn… đã được công bố trên các tạp chí khoa học ở nước ngoài. Trong các hội thảo quốc tế được tổ chức ở Việt Nam gần đây, cùng với sự tham gia của các thầy cô đã có nhiều thành tựu như PGS.TS Nguyễn Đăng Na, GS.TS Lã Nhâm Thìn, PGS.TS Đinh Thị Khang, PGS.TS Phạm Thu Yến, GS.TS Vũ Anh Tuấn, PGS.TS Vũ Thanh… bộ môn còn có sự tham gia của các cán bộ trẻ: PGS.TS Nguyễn Việt Hùng, TS Phạm Đặng Xuân Hương, Ths Nguyễn Thị Hường, TS Nguyễn Thị Nương, TS Trần Thị Hoa Lê, TS Nguyễn Thanh Tùng, Ths Đỗ Thị Mỹ Phương...

Ngay từ  những năm đầu thành lập, bộ môn đã nhiều lần đạt danh hiệu Tổ đội Lao động Xã hội chủ nghĩa, nhiều cán bộ xuất sắc đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua các cấp, được nhận Bằng khen của Ngành của Chính phủ và Huân chương Lao động, Huân chương Kháng chiến của Nhà nước. Các thầy cô có công lao đào tạo cán bộ và phát triển bộ môn đã được vinh danh Nhà giáo Ưu tú, Nhà giáo Nhân dân. Trong danh sách đề cử chân dung nhà giáo tiêu biểu trường Đại học Sư phạm Hà Nội nhân kỷ niệm 60 năm thành lập khoa Ngữ văn, có bốn Giáo sư của bộ môn. Đó là GS.NGƯT Bùi Văn Nguyên, Huân chương Lao động hạng Ba, Giải thưởng Nhà nước; GS.NGƯT Đặng Thanh Lê, Huân chương Lao động hạng Ba (1996) hạng Nhất (2001); PGS.NGƯT Hoàng Hữu Yên và PGS.TS Đỗ Bình Trị, Huy chương Hữu nghị của Nhà nước Lào. Trong hoạt động quan hệ quốc tế, bộ môn còn có nhiều thầy cô được các nước bạn trao tặng Huy chương. NGND Nguyễn Nghĩa Dân được tặng Huy chương của Nhà nước Lào, các thầy Nguyễn Văn Tiến và Trần Quang Minh được tặng Huy chương của Nhà nước Campuchia. Trong những năm gần đây, bộ môn vinh dự có thêm bốn Nhà giáo Ưu tú vừa được Nhà nước phong tặng là: PGS.TS.NGƯT Nguyễn Đăng Na (Huân chương Kháng chiến hạng Ba), GS.TS.NGƯT Lã Nhâm Thìn (Huân chương Lao động hạng Ba), PGS.TS.NGƯT Phạm Thu Yến và GS.TS.NGƯT Vũ Anh Tuấn. Đặc biệt năm 2015 vừa qua, GS.TS Vũ Anh Tuấn được tuyên dương Điển hình tiên tiến 5 năm liên tục. Với những đóng góp xuất sắc vào sự nghiệp giáo dục đào tạo và cụm công trình khoa học “Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long Hà Nội”, GS.TS Lã Nhâm Thìn hai lần được nhận Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ. Trong nhiều năm, Tập thể bộ môn được công nhận là Tập thể lao động tiên tiến xuất sắc.

Số lượng Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ; số lượng cán bộ được khen thưởng Huân chương, Huy chương của Nhà nước, Bằng khen của Thủ tướng, của Bộ Giáo dục và Đào tạo...; số lượng Nhà giáo Nhân dân, Nhà giáo Ưu tú; số lượng cán bộ tham gia quân đội, tham gia các cấp lãnh đạo từ trung ương đến cơ sở rất hùng hậu của tổ bộ môn là một minh chứng cho sự trưởng thành, lớn mạnh và bền vững của đội ngũ cán bộ giảng dạy tổ Văn học Việt Nam dân gian và trung đại.

Phương hướng hoạt động trong những năm tới của bộ môn:

1. Về nhân sự: Tiếp tục hoàn chỉnh đội ngũ cán bộ giảng dạy của cả hai chuyên ngành (Văn học dân gianVăn học Việt Nam trung đại) đầy đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng và tư tưởng chính trị để tiến tới năm 2020 có 100% cán bộ giảng dạy đạt trình độ Tiến sĩ, 70% có học hàm từ Phó giáo sư trở lên; cán bộ trẻ đảm nhiệm được việc giảng dạy toàn bộ giáo trình môn học.

2. Về giảng dạy: Dự kiến đến năm 2020, hoàn thành toàn bộ giáo trình mới cho các hệ chính quy, tại chức, từ xa... Tiếp tục cải tiến nội dung và phương pháp giảng dạy: tất cả các bài giảng của giảng viên đều có đề cương và hệ thống câu hỏi để sinh viên chuẩn bị bài ở nhà; 100% các học phần đều tăng số lượng và chất lượng giờ thực hành, xemina, làm bài tập nhóm,...

3. Về nghiên cứu khoa học: Dự kiến đến năm 2020, tất cả các giảng viên là tiến sĩ trở lên đều xuất bản chuyên luận và các công trình khoa học tập thể; mỗi năm các cán bộ của tổ đều có ít nhất một bài báo công bố trên tạp chí chuyên ngành.

4. Về hướng dẫn khoa học: Mỗi cán bộ mỗi năm hướng dẫn ít nhất một báo cáo khoa học sinh viên đạt chất lượng tốt. Đến năm 2020, tổ phấn đấu hướng dẫn thành công khoảng 30 nghiên cứu sinh thuộc cả hai chuyên ngành.

5. Về hoạt động ngoại khóa cho sinh viên: Hàng năm mỗi chuyên ngành có một chuyến tham quan ngoại khóa và một câu lạc bộ văn học, nâng cao kiến thức, nghiệp vụ cho sinh viên và cán bộ giảng viên.

Điểm lại lịch sử 65 năm trưởng thành và không ngừng phát triển của Bộ môn Văn học Việt Nam dân gian và trung đại, có thể nói truyền thống đoàn kết và truyền thống tự lực chính là hai giá trị cơ bản đã được xác lập, gìn giữ từ thế hệ trước đến thế hệ sau. Cho đến thời điểm hiện nay, mặc dù đất nước và cuộc sống riêng của từng cán bộ vẫn còn nhiều khó khăn thách thức, song tập thể Bộ môn vẫn là một đội ngũ vững mạnh, có phẩm chất chính trị tốt, có năng lực chuyên môn nghiệp vụ đủ khả năng đáp ứng những yêu cầu và nhiệm vụ mới trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo của Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội./.

Danh sách cán bộ của bộ môn đã và đang tham gia công tác quản lí tại khoa và các đơn vị khác

1.    

Phan Côn

Phó văn phòng Ban Tư tưởng văn hóa Trung ương

2.    

Nguyễn Nghĩa Dân

Phó Chủ nhiệm Khoa, Bí thư Đảng ủy Khoa, Phó Bí thư Đảng ủy Trường, Phó chánh Văn phòng Bộ GD&ĐT

3.    

Nguyễn Thị Bích Hà

Chủ nhiệm Khoa Việt Nam học, ĐHSPHN

4.    

Phạm Văn Hóa

Ủy viên thường trực tỉnh đảng bộ Thái Bình

5.    

Đặng Thanh Lê

Trưởng bộ môn, Giám đốc Trung tâm Việt Nam học, ĐHSPHN

6.    

Trần Thị Hoa Lê

Trưởng bộ môn

7.    

Trần Gia Linh

Trưởng bộ môn

8.    

Trần Quang Minh

Phó Bí thư Đảng ủy Khoa

9.    

Nguyễn Đăng Na

Trưởng bộ môn

10.                       

Trần Đức Ngôn

Hiệu trưởng Đại học Văn hóa

11.                       

Bùi Văn Nguyên

Trưởng bộ môn

12.                       

Nguyễn Tấn Phát

Hiệu trưởng, Bí thư Đảng ủy ĐHSP TPHCM, Thứ trưởng Bộ GD&ĐT, Giám đốc ĐHQG TPHCM

13.                       

Phan Sĩ Tấn

Chủ nhiệm Khoa

14.                       

Vũ Thanh

Phó Chủ nhiệm Khoa, Phó Viện trưởng Viện Văn học

15.                       

Trần Văn Thận

Bí thư Đảng ủy Khoa, Phó Chủ nhiệm Khoa

16.                       

Lã Nhâm Thìn

Chủ nhiệm Khoa, Bí thư Đảng ủy Khoa

17.                       

Đặng Thái Thuyên

Bí thư chi bộ

18.                       

Hoàng Ngọc Trì

Phó Giám đốc Sở Khoa học công nghệ và môi trường Nam Định

19.                       

Đỗ Bình Trị

Chủ nhiệm Khoa, Cục trưởng

20.                       

Vũ Anh Tuấn

Trưởng bộ môn

21.                       

Lê Trí Viễn

Chủ nhiệm Khoa

22.                       

Phạm Thu Yến

Phó Chủ nhiệm Khoa

Danh sách cán bộ của bộ môn đã hưu trí hoặc chuyển cơ quan

Stt

Họ và tên

Chỗ ở hiện nay

Học hàm, học vị, danh hiệu

1.    

Nguyễn Ngọc Côn

Hà Nội

Cử nhân

2.    

Nguyễn Nghĩa Dân

Hà Nội

Cử nhân, NGƯT

3.    

Trần Tiến Đức

Hà Nội

Cử nhân

4.    

Nguyễn Thị Bích Hà

Hà Nội

PGS.TS

5.    

Nguyễn Mỹ Hòa

Sài Gòn

Ths

6.    

Phạm Văn Hóa

Thái Bình

Cử nhân

7.    

Đinh Thị Khang

Hà Nội

PGS.TS

8.    

Đặng Thanh Lê

Hà Nội

GS, NGƯT

9.    

Trần Gia Linh

Hà Nội

Cử nhân

10.                       

Trần Quang Minh

Hà Nội

Cử nhân

11.                       

Nguyễn Đăng Na

Hà Nội

PGS.TS, NGƯT

12.                       

Trần Đức Ngôn

Hà Nội

PGS.TS

13.                       

Bùi Văn Nguyên

Hà Nội

GS, NGƯT

14.                       

Lê Trường Phát

Hà Nội

PGS.TS

15.                       

Nguyễn Tấn Phát

Hà Nội

PGS.TS

16.                       

Lý Hữu Tấn

Hà Nội

Cử nhân

17.                       

Phan Sĩ Tấn

Hà Nội

PGS

18.                       

Nguyễn Văn Tiến

Hà Nội

Cử nhân

19.                       

Doãn Nhữ Tiếp

Hà Nội

Cử nhân

20.                       

Đặng Quang Thanh

Hà Nội

Cử nhân

21.                       

Vũ Thanh

Hà Nội

PGS.TS

22.                       

Trần Văn Thận

Quảng Ngãi

Cử nhân

23.                       

Đặng Thái Thuyên

Hà Nội

Cử nhân

24.                       

Đào Nguyên Tụ

Hà Nội

Cử nhân

25.                       

Hoàng Ngọc Trì

Hà Nội

TS

26.                       

Đỗ Bình Trị

Hà Nội

PGS

27.                       

Lê Trí Viễn

Sài Gòn

GS

28.                       

Hoàng Hữu Yên

Hà Nội

PGS, NGƯT

29.                       

Phạm Thu Yến

Hà Nội

PGS.TS, NGƯT

30.                       

Nguyễn Thị Hồng Minh

Hà Nội

Ths

31.                       

Lê Thái Hoa

Hà Nội

Ths

32.                       

Bùi Kim Ánh

Hà Nội

Ths

Danh sách cán bộ của bộ môn hiện đang công tác

Stt

Họ và tên

Quê quán

Học hàm, học vị, danh hiệu, chức vụ

1.    

Nguyễn Việt Hùng

Hưng Yên

PGS.TS, Phó trưởng bộ môn

2.    

Phạm Đặng Xuân Hương

Nam Định

TS

3.    

Nguyễn Thị Hường

Nam Định

Ths

4.    

Trần Thị Hoa Lê

Hà Nam

TS, Trưởng bộ môn

5.    

Nguyễn Thị Nương

Hà Tây

TS

6.    

Đỗ Thị Mỹ Phương

Nam Định

Ths

7.    

Lã Nhâm Thìn

Ninh Bình

GS.TS.NGƯT

8.    

Vũ Anh Tuấn

Thái Bình

GS.TS.NGƯT

9.    

Nguyễn Thanh Tùng

Thanh Hóa

TS

Danh sách cán bộ tham gia quân đội

1. Phạm Văn Hóa

2. Trần Quang Minh

3. Lã Nhâm Thìn

4. Đặng Thái Thuyên

5. Hoàng Ngọc Trì

Hà Nội ngày 18 tháng 8 năm 2016

Trưởng Bộ môn                                 

TS Trần Thị Hoa Lê



BỘ MÔN VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI

 (Văn học Việt Nam II)

Bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại (còn gọi là Văn học Việt Nam II) là 1 trong 7 bộ môn của khoa Ngữ văn, Trường ĐHSPHN. Bộ môn có nhiệm vụ giảng dạy, đào tạo về Văn học Việt Nam hiện đại (từ đầu thế kỉ XX đến nay cho các hệ đại học, cao học, nghiên cứu sinh tại Khoa Ngữ văn trường ĐHSPHN, đồng thời nghiên cứu khoa học về lĩnh vực chuyên môn nói trên.

Số lượng giảng viên hiện nay của bộ môn là 10 người, bao gồm:

-        PGS. TS. Trần Văn Toàn, (Phó chủ nhiệm khoa Ngữ văn, kiêm Trưởng môn)

-        PGS. TS. Đặng Thu Thuỷ (Phó Trưởng môn)

-         GS. TS. Trần Đăng Xuyền

-         TS. Chu Văn Sơn

-         TS. Trần Hạnh Mai (Phó chủ nhiệm khoa Ngữ văn)

-         TS. Nguyễn Văn Phượng (Đang là giảng viên thỉnh giảng tại Hàn Quốc)

-         TS. Nguyễn Thị Minh Thương 

  TS. Đinh Minh Hằng (Bí thư Liên chi Đoàn khoa Ngữ văn, Phó Bí thư Đoàn trường) 

-         ThS. Nguyễn Văn Hiếu (Đang làm nghiên cứu sinh tại Úc)

I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ

Bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại là một trong những đơn vị chuyên môn trọng yếu của Khoa Ngữ văn, có lịch sử hình thành và phát triển cho đến nay đã gần 60 năm, có nhiều đóng góp to lớn trong công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học, góp phần vào thành tựu chung của Khoa và của Trường ĐHSPHN.

Bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại chính thức hình thành từ năm 1958 (trước đó, từ 1951, phụ trách giảng dạy Văn học Việt Nam hiện đại là GS. Trương Tửu). Sau những biến cố ở trường đại học vào những năm 1956 – 1957, đội ngũ giảng viên Khoa Văn ĐHSP có nhiều biến động. Bên cạnh một số giảng viên là những sinh viên mới tốt nghiệp năm 1957, Khoa Văn được bổ sung nhiều cán bộ từ các đơn vị khác, như Ban tu thư của Bộ Giáo dục, Trường Sư phạm trung cấp Trung ương, một số từ các trường THPT. Ban đầu, chuyên ngành Văn học Việt Nam được phân chia làm 3 bộ môn, trong đó bộ môn Văn học Việt Nam III phụ trách phần Văn học Việt Nam từ 1930 trở đi. Thời kì này bộ môn có các thầy: Hoàng Như Mai, Huỳnh Lý, Nguyễn Trác, Trần Văn Hối, Phan Cự Đệ, do thầy Nguyễn Trác làm Trưởng bộ môn. Những năm 1959 – 1960 khi các thầy Hoàng Như Mai, Phan Cự Đệ chuyển về Đại học Tổng Hợp (nay là ĐHKHXH&NV), thầy Trần Văn Hối vào ĐHSP Vinh, đội ngũ giảng viên của bộ môn được bổ sung các thầy Hoàng Dung, Nguyễn Hoành Khung, Đoàn Trọng Huy, Lê Tố và năm 1961 là thầy Nguyễn Xuân Tự. Những năm 1958 – 1965 là thời kì hình thành và bước đầu xây dựng, củng cố lực lượng của bộ môn. Cùng với việc ổn định chương trình, các cán bộ chủ chốt của bộ môn đã tham gia biên soạn bộ giáo trình Lịch sử Văn học Việt Nam đầu tiên của trường ĐHSP, cũng là đầu tiên của các trường đại học ở ta, cụ thể là các tập V (1930 – 1945) do các thầy Nguyễn Trác, Hoàng Dung, Nguyễn Hoành Khung, Nguyễn Đăng Mạnh biên soạn; tập VI (1945 – 1962) do các thầy Huỳnh Lý, Trần Văn Hối biên soạn. Bộ giáo trình này đã làm tài liệu học tập chính thức của sinh viên cho đến cuối những năm 80, khi được thay thế bằng những giáo trình mới được biên soạn hoặc chỉnh lý, bổ sung.

Từ 1965 – 1975 là thời kì bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại tiếp tục phát triển và trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ. Năm 1965, Mĩ mở rộng cuộc chiến tranh phá hoại ra miền Bắc, các trường đại học ở Hà Nội và các thành phố khác phải sơ tán về các vùng rừng núi hoặc nông thôn. Khoa Văn sơ tán lên Đại Từ (Thái Nguyên), rồi sau chuyển về Yên Mĩ, tỉnh Hưng Yên. Cùng với toàn khoa, các cán bộ của bộ môn đã tham gia tích cực vào mọi hoạt động để giữ vững và phát triển công tác đào tạo giáo viên và các hoạt động khác phục vụ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Từ 1965 – 1969, bộ môn đã được bổ sung một số cán bộ trẻ: Nguyễn Văn Long, Nguyễn Thị Nhung, Bùi Công Minh, Bùi Đình Thể. Năm 1967, thầy Huỳnh Lý sau 3 năm biệt phái công tác tại ĐHSP Vinh được trở lại tổ và năm 1968, thầy Nguyễn Đăng Mạnh được điều động từ ĐHSP Vinh ra, thầy Trần Hữu Tá từ Trung học Sư phạm Hà Tây chuyển về. Không chỉ đảm bảo công tác đào tạo với quy mô ngày càng mở rộng, trải ra ở nhiều địa điểm sơ tán trong những năm chiến tranh, các cán bộ của bộ môn còn đóng góp nhiều công sức vào các hoạt động chung của toàn khoa và trường như xây dựng lớp học, hầm hào, dân quân tự vệ, phục vụ chiến đấu, tuyên truyền cổ động… Bộ môn đã tham gia và tổ chức nhiều chuyến đi thực tế cho cán bộ và sinh viên đến những vùng tuyến lửa và nhiều địa phương, đơn vị tiên tiến tiêu biểu trong phong trào chiến đấu và sản xuất, như các chuyến đi Hàm Rồng – Thanh Hoá năm 1965, Quảng Bình  - Vĩnh Linh năm 1973, Tây Bắc năm 1974… Các hoạt động ngoại khóa, giao lưu tiếp xúc với các nhà văn, nhà nghiên cứu vẫn được tổ chức khá thường xuyên ngay tại các địa điểm sơ tán.  Phát huy thế mạnh và vị trí của mình, nhiều giảng viên của bộ môn đã tham gia tích cực vào hoạt động phê bình văn học trên báo chí và tại các cuộc hội nghị hội thảo về Văn học. Trong những năm kháng chiến chống Mỹ cùng với nhiều giảng viên và sinh viên của khoa, 2 giảng viên của bộ môn Văn học Việt Nam III đã lên đường nhập ngũ đó là các thầy Bùi Công Minh, Bùi Đình Thể, cô Nguyễn Thị Nhung (đi B). Trưởng bộ môn trong những năm này là PGS Nguyễn Trác (đến 1968)  và PGS Huỳnh Lý, từ 1969.

Năm 1970, theo sự sắp xếp lại tổ chức, chuyên ngành Văn học Việt Nam ở khoa được chia làm 2 bộ môn. Bộ môn Văn học Việt Nam II phụ trách phần Văn học Việt Nam từ giữa thế kỷ XIX trở đi. Do đó, các cán bộ giảng dạy phần Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX của bộ môn Văn học Việt Nam II (cũ) là các thầy Nguyễn Đình Chú, Đào Nguyên Tụ, Tôn Gia Các, Nguyễn Tiệp, Đỗ Đức Tín, cô Trịnh Thị Thu Tiết nhập vào với bộ môn Văn học Việt Nam III (cũ) để thành bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại (Văn học Việt Nam II mới).

Cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước kết thúc thắng lợi, đất nước thống nhất đã mở ra những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của toàn ngành Giáo dục cũng như từng đơn vị, đồng thời đặt ra những yêu cầu mới, đòi hỏi mỗi người, mỗi đơn vị phải vươn lên mạnh mẽ và nhanh chóng đáp ứng các nhiệm vụ trong giai đoạn mới. Từ sau 1975 đến những năm đầu thế kỉ XXI là thời kì bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại phát triển mạnh mẽ về mọi mặt thành một đơn vị đào tạo và nghiên cứu khoa học vững mạnh, phát huy vai trò và ảnh hưởng rộng lớn trong các hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học cơ bản và khoa học giáo dục không chỉ trong khoa, trường mà cả trong ngành giáo dục và ngoài xã hội. Cùng với việc đào tạo hệ đại học được mở rộng về quy mô và đa dạng về hình thức, bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại được nhận nhiệm vụ đào tạo hệ Sau đại học ngay từ khóa đầu (1977) và tiếp đó là đào tạo nghiên cứu sinh.

Đáp ứng sự phát triển của ngành giáo dục, nhiều cán bộ của bộ môn được cử đi xây dựng các trường đại học mới hoặc chi viện cho các trường đại học  và Sở Giáo dục các tỉnh vùng mới giải phóng ở miền Nam: Thầy Đào Nguyên Tụ lên ĐHSPHN II, thầy Nguyễn Xuân Tự về Huế, thầy Lê Tố vào Đại học Cần Thơ và thầy Trần Hữu Tá vào ĐHSP Thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra, trong nhiều năm có hàng chục lượt cán bộ mỗi năm được mời thỉnh giảng tại các trường đại học khác, đặc biệt là các trường đại học phía Nam, 2 cán bộ đi chuyên gia giáo dục tại Angôla, 3 cán bộ đi làm nghiên cứu sinh và thực tập sinh ở Liên Xô, 1 nghiên cứu sinh ở Cộng hoà dân chủ Đức.

Từ 1978 – 1980, Tổ đã được tăng cường một lực lượng khá đông đảo các cán bộ trẻ: các thầy Trần Đăng Xuyền, Trần Duy Thanh, Đào Thanh Hoá, Nguyễn Quốc Luân, cô Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Thu Minh (nhưng các thầy Trần Duy Thanh, Nguyễn Quốc Luân, Đào Thanh Hoá và cô Nguyễn Thu Minh chỉ ở tổ 1 thời gian, rồi chuyển công tác). Trong những năm từ 1985 – 2000, tổ đã tiếp nhận thêm nhiều cán bộ mới: các thầy Chu Văn Sơn, cô Trần Hạnh Mai, cô Nguyễn Thị Thanh Minh, thầy Lê Quang Hưng; thầy Trần Đăng Xuyền sau khi bảo vệ Tiến sĩ ở Liên Xô cũng trở về bộ môn. Ngoài các cán bộ đã chuyển công tác, một số thầy cô được nghỉ hưu (PGS. Huỳnh Lý, PGS. Hoàng Dung, PGS. Nguyễn Trác, thầy Tôn Gia Các, cô Trịnh Thị Thu Tiết), thầy Nguyễn Tiệp từ trần vì bệnh hiểm nghèo. Trưởng bộ môn từ 1976 – 1984 là PGS. Hoàng Dung, từ 1984 – 1994 là GS. Nguyễn Đăng Mạnh và từ 1995 - 2007 là PGS. Nguyễn Văn Long.

Sau hai đợt phong chức danh khoa học của Nhà nước (1980, 1984), bộ môn đã có 5 phó giáo sư là các thầy Huỳnh Lý, Nguyễn Trác, Nguyễn Đình Chú, Hoàng Dung, Nguyễn Đăng Mạnh. Đây cũng là sự công nhận của Nhà nước về năng lực, trình độ và sự cống hiến đáng kể của đội ngũ cán bộ cốt cán trong bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại. Đồng thời cũng tạo điều kiện mở ra bước phát triển mới của đơn vị, vươn lên đảm nhận những nhiệm vụ mới, đào tạo Sau đại học và nghiên cứu sinh.

Năm 1992, PGS. Nguyễn Đình Chú và PGS. Nguyễn Đăng Mạnh được nhận chức danh giáo sư, các thầy Nguyễn Hoành Khung và Nguyễn Văn Long nhận chức danh phó giáo sư, tiếp đó 2 PGS được phong năm 1996 là Đoàn Trọng Huy và Trần Đăng Xuyền. Năm 2003 PGS. Trần Đăng Xuyền được phong giáo sư, TS Nguyễn Thị Bình và TS Lê Quang Hưng được phong phó giáo sư.

Từ đầu thế kỉ XXI đến nay là thời kì chuyển giao thế hệ của tổ Văn học Việt Nam hiện đại. Vào những năm đầu thế kỉ XXI, 4 cán bộ lão thành của tổ là GS. Nguyễn Đình Chú, GS. Nguyễn Đăng Mạnh, PGS. Đoàn Trọng Huy, PGS. Nguyễn Hoành Khung được nghỉ hưu, và trước đó là thầy Tôn Gia Các. Tuy nhiên, nhờ có chiến lược đúng đắn về công tác cán bộ, đội ngũ giảng viên của bộ môn không bị rơi vào sự hẫng hụt về lực lượng. Các giảng viên thuộc đội ngũ kế cận của bộ môn đã vươn lên mạnh mẽ, trở thành nòng cốt trong mọi hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học. Từ năm 2001 đến nay, bộ môn đã được bổ sung một lực lượng đáng kể: TS. Trần Văn Toàn, TS. Nguyễn Văn Phượng, TS. Lê Hải Anh, TS. Đặng Thu Thủy, ThS. Nguyễn Văn Hiếu và tiếp đó là TS. Nguyễn Thị Minh Thương, TS. Đinh Minh Hằng. Liên tiếp hai năm 2015, 2016, TS. Trần Văn Toàn và TS. Đặng Thu Thủy lần lượt được phong chức danh phó giáo sư. Hiện nay, trừ 1 cán bộ đang đi học NCS tại nước ngoài là Nguyễn Văn Hiếu, các giảng viên trong bộ môn đều có học vị TS, trong đó có 1 GS là thầy Trần Đăng Xuyền, 2 PGS là thầy Trần Văn Toàn và cô Đặng Thu Thủy. Trưởng bộ môn từ năm 2008 đến 2013 là PGS.TS Nguyễn Thị Bình; từ tháng 8/ 2015 đến nay là PGS. TS. Trần Văn Toàn.

Trong suốt lịch sử hình thành và phát triển của mình bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại luôn khẳng định vị thế hàng đầu của mình trong đào tạo và nghiên cứu khoa học. Số lượng học viên cao học và nghiên cứu sinh của bộ môn thuộc loại nhiều nhất trong các bộ môn của Khoa và Trường. Nhiều thành viên của bộ môn chủ trì các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, cấp Trường; số lượng sách chuyên khảo cũng ngày một nhiều. Bộ môn đã biên soạn các giáo trình mới về Văn học Việt Nam hiện đại dành cho hệ chính quy, tại chức, từ xa, Cao đẳng. Nhiều thành viên của bộ môn là chủ biên, tác giả của các sách giáo khoa Ngữ văn THCS, THPT của chương trình đổi mới.

II. ĐÀO TẠO VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

1. Đào tạo

- Đào tạo cử nhân: liên tục trong hơn 50 năm qua, bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại đảm nhận nhiệm vụ  đào tạo các hệ đại học chính quy (cử nhân sư phạm và cử nhân khoa học), chuyên tu, vừa làm vừa học, từ xa với tổng số hàng chục nghìn sinh viên (có thời kỳ số lượng sinh viên rất lớn: chỉ tính riêng hệ chính quy đã lên tới 500 đến 600 sinh viên/ năm).

- Đào tạo Sau đại học: Bộ môn văn học Việt Nam hiện đại được giao nhiệm vụ đào tạo Sau đại học ngay từ khoá đầu tiên (1977) và liên tục 13 khoá đến 1990 đã đào tạo trên 150 học viên chuyên ngành Văn học Việt Nam hiện đại. Đào tạo Thạc sĩ từ khoá đầu (1991) đến 2015 là 24 khoá, trung bình từ 20 - 40 học viên mỗi khoá (có khoá trên 50 học viên). Số Thạc sĩ đã đào tạo khoảng 700 người.

Đào tạo nghiên cứu sinh: số lượng nghiên cứu sinh của bộ môn văn học Việt Nam hiện đại thuộc vào loại nhiều nhất trong các bộ môn của toàn trường. Hàng năm bộ môn tuyển từ 4 – 6 nghiên cứu sinh. Tính đến nay, bộ môn đã đào tạo hơn 50 TS chuyên ngành. Ngoài các học viên trong nước, bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại còn đào tạo nhiều Thạc sĩ và Tiến sĩ người nước ngoài (Trung Quốc, Hàn Quốc). Một số giảng viên của bộ môn còn tham gia đào tạo Thạc sĩ, Tiến sĩ cho Viện Văn học và nhiều trường Đại học khác. Các luận văn Thạc sĩ và Luận án Tiến sĩ do các thành viên trong bộ môn hướng dẫn đều đảm bảo chất lượng tốt, có nhiều luận án xuất sắc.

2. Nghiên cứu khoa học

Bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại là một đơn vị mạnh với nhiều cán bộ đầu ngành và những cán bộ trẻ có năng lực vững vàng. Các giảng viên của bộ môn đã cho in trên 300 đầu sách gồm các loại phê bình - tiểu luận, chuyên luận nghiên cứu, tư liệu, hợp tuyển và tuyển tập, sách giáo khoa, giáo trình tham khảo… Số lượng bài báo đã công bố: trên 500 bài.

Bộ môn đã biên soạn và xuất bản các tập giáo trình thuộc chương trình Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XIX đến hết thế kỉ XX, được sử dụng làm tài liệu dùng chung cho các trường đại học sư phạm của cả nước.

 Nhiều giảng viên của bộ môn đã tham gia biên soạn chương trình, chủ biên và viết sách giáo khoa trung học cơ sở, trung học phổ thông và trung học phân ban, viết tài liệu bồi dưỡng giáo viên cho Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Bộ môn đã chủ trì tổ chức và đồng chủ trì nhiều hội nghị khoa học lớn, quy mô toàn ngành, toàn quốc như: Đảng ta, chế độ ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nền Văn học Việt Nam hiện đại (1979); Giảng dạy thơ văn Hồ Chí Minh (1980); Đổi mới nghiên cứu và giảng dạy văn học (1990); 50 năm văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám (1995); Văn học Việt Nam sau 1975 - Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy (2005). Các thành viên của bộ môn đã chủ trì hơn 20 đề tài khoa học công nghệ cấp Bộ, cấp Bộ trọng điểm và hàng chục đề tài KHCN cấp trường, tham gia nhiều đề tài khoa học công nghệ cấp nhà nước.

III. THÀNH TÍCH, KHEN THƯỞNG

- 6 năm là tổ Lao động XHCN, từ 1995 – 2005 liên tục là tổ Lao động xuất sắc. Từ 2006 đến nay nhiều năm là tổ Lao động xuất sắc. Năm 1995, bộ môn nhận bằng khen của Chính phủ, năm 2001 được nhận Huân chương Lao động hạng III.

- Nhiều thành viên của bộ môn được nhận Huân chương Lao động hạng II (GS. Nguyễn Đình Chú, GS. Nguyễn Đăng Mạnh), hạng III (PGS. Nguyễn Hoành Khung, PGS. Nguyễn Văn Long, GS.TS. Trần Đăng Xuyền) và nhiều người được tặng bằng khen của Chính phủ, của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.

- Bộ môn đã có 5 nhà giáo nhân dân (PGS. Huỳnh Lý, GS. Nguyễn Đình Chú, GS. Nguyễn Đăng Mạnh, PGS. Nguyễn Văn Long, PGS. Nguyễn Hoành Khung), 3 nhà giáo ưu tú (PGS. Nguyễn Trác, GS.TS. Trần Đăng Xuyền, PGS.TS. Nguyễn Thị Bình). Năm 2000, GS Nguyễn Đăng Mạnh được nhận giải thưởng Nhà nước về khoa học.

Bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại là một đơn vị chuyên môn mạnh, có truyền thống và nhiều thành tựu cả về đào tạo và nghiên cứu khoa học, có nhiều đóng góp vào thành tựu chung của khoa Ngữ văn, trường ĐHSPHN và của ngành khoa học Ngữ văn Việt Nam. Trong quá trình xây dựng và phát triển của tổ, nhiều thành viên của bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại đã được tín nhiệm cử giữ những trọng trách ở Khoa và trường (Phó Hiệu trưởng, chủ nhiệm Khoa, phó chủ nhiệm Khoa, Bí thư Đảng uỷ Khoa, Chủ tịch Công đoàn Khoa…)



I.                   GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ BỘ MÔN:

1. Cách đây gần 50 năm, được sự đồng ý của Bộ giáo dục và Trường ĐHSPHN, ban lãnh đạo khoa Ngữ văn Trường ĐHSPHN đã quyết tâm tổ chức một nhóm nghiên cứu và giảng dạy Ngữ văn Hán Nôm (lúc đó mang tên nhóm nghiên cứu giảng dạy Cổ văn) gồm các cán bộ Phạm Thị Hảo, Nguyễn Ngọc San, Đặng Đức Siêu, Phan Hữu Nghệ. Từ năm 1965 đến năn 1967 được bổ  sung thêm các cán bộ: Nguyễn Văn Thiệu, Phạm Anh Tuấn, Trần Phương Thi, Kiều Lục, Huỳnh Văn Trứ, Lê Văn Sơn, Lê Tiến Sơn, Đoàn Thị Mai, Phạm Văn Liệu. Từ năm 1970 về sau có thêm Phạm Thuý Nghi, Lê Thị Bình, Vương Mộng Bưu, Bùi Thanh Hùng, sau năm 1990 có Hà Văn Minh, Dương Tuấn Anh; và từ sau năm 2000 lại được bổ sung thêm một số cán bộ trẻ có năng lực và nhiệt huyết với việc nghiên cứu và giảng dạy Hán Nôm là Nguyễn Thị Tú Mai, Nguyễn Thị Thanh Chung, Vũ Huy Vĩ, Đỗ Thị Thu Hà, Phùng Diệu Linh, Lê Tùng Lâm. Nhóm nghiên cứu và giảng dạy Cổ văn, tiền thân của bộ môn Ngữ văn Hán Nôm sau này, và bây giờ là Bộ môn Hán Nôm – Cơ sở văn hoá Việt Nam là những giáo sư, những cán bộ đầu ngành có công rất lớn trong việc xây dựng đội ngũ những người giáo viên vừa có phẩm chất đạo đức vừa có năng lực chuyên môn để đảm nhận một công việc hết sức nặng nề và khó khăn này. Nhóm đã xây dựng được chương trình giảng dạy (bậc đại học), đã công bố được bộ giáo trình Cổ văn và đã có những đóng góp nhất định vào kết quả đào tạo nhiều khoá sinh viên ĐHSP.

Nhóm Cổ văn được chuyển thành Bộ môn Ngữ văn Hán Nôm từ năm 1976 do GS Lê Trí Viễn làm chủ nhiệm bộ môn. Một thời gian ngắn sau đó, Bộ môn Ngữ văn Hán Nôm đã hoàn thành bộ giáo trình Cơ sở Ngữ văn Hán Nôm (4 tập, NXB GD 1984 – 1987) khá công phu và có giá trị khoa học cao do GS Lê Trí Viễn chủ biên, được những người nghiên cứu, giảng dạy và học tập Hán Nôm đánh giá cao. Sau này, khi GS Lê Trí Viễn chuyển vào miền Nam công tác, PGS Đặng Đức Siêu - nhóm trưởng Cổ văn ngày trước được cử làm chủ nhiệm bộ môn. Kế tục PGS Đặng Đức Siêu, GVC Bùi Thanh Hùng làm chủ nhiệm bộ môn từ 2004; tiếp đó từ năm 2008 đến nay là PGS.TS Hà Văn Minh.

Bộ môn Ngữ văn Hán Nôm thuộc khoa Ngữ văn Trường ĐHSPHN được Bộ giao trách nhiệm soạn thảo chương trình và giáo trình dùng chung cho các Trường ĐHSP trong cả nước và là đơn vị đầu tiên trong cả nước được giao trách nhiệm đào tạo PTS (nay là Tiến sĩ chuyên ngành Ngữ văn Hán Nôm).  Luận án PTS Hán Nôm đầu tiên được bảo vệ thành công năm 1979, tới nay, Bộ môn đã đào tạo được trên 20 Tiến sĩ Hán Nôm, góp phần bổ sung một lực lượng cán bộ nghiên cứu và giảng dạy nòng cốt cho nhiều Viện nghiên cứu và trường Đại học, Cao đẳng trong cả nước. Từ năm 2004, Bộ môn được giao thêm nhiệm vụ đào tạo Thạc sĩ Hán Nôm, đến nay đã đào tạo được trên 10 khoá với trên 100 Thạc sĩ chuyên ngành.

2. Từ năm học 2000 - 2001, theo quyết định của trường ĐHSP Hà Nội, bộ môn Hán Nôm được lấy làm nòng cốt để xây dựng Nhóm nghiên cứu và giảng dạy Cơ sở văn hoá Việt Nam trực thuộc trường. Kế nhiệm PGS Đặng Đức Siêu, GS. TS Trần Đăng Xuyền được cử làm nhóm trưởng của nhóm này, ngoài một số cán bộ của bộ môn, một số cán bộ của  bộ môn khác như PGS. TS  Lê Trường Phát, PGS. TS Trần Lê Bảo, PGS. TS Vũ Anh Tuấn,  PGS. TS Nguyễn Việt Hùng.... đã được bổ sung vào nhóm để giảng dạy môn Cơ sở văn hoá Việt Nam cho các hệ đào tạo của trường. Như vậy, đến nay, Bộ môn Hán Nôm thực tế là một bộ môn kép, thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu và giảng dạy ở 2 lĩnh vực: Hán Nôm và Văn hóa học - văn hóa Việt Nam.

Trong những năm vừa qua, một số cán bộ của Bộ môn đã nghỉ hưu hoặc chuyển công tác. Đội ngũ hiện tại gồm 3 PGS.TS (Hà Văn Minh, Dương Tuấn Anh, Nguyễn Thị Thanh Chung), 1 TS (Nguyễn Thị Tú Mai), 2 ThS (Đỗ Thị Thu Hà, Phùng Diệu Linh).

 

3. Bộ môn Ngữ văn Hán Nôm cũng đã thành lập Trung tâm nghiên cứu và giảng dạy Hán Nôm trực thuộc trường ĐHSP Hà Nội (1990). Hàng năm Trung tâm đào tạo và cấp chứng nhận và chứng chỉ Hán Nôm cho hàng trăm học viên đồng thời tham gia các công tác nghiên cứu, công tác chuyên môn thuộc lĩnh vực Hán Nôm. Kế nhiệm PGS Đặng Đức Siêu, PGS. TS Hà Văn Minh kiêm nhiệm làm Giám đốc Trung tâm, TS Nguyễn Thị Tú Mai làm Phó giám đốc.

II. NHIỆM VỤ ĐÀO TẠO VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC:

Qua gần nửa thế kỉ tồn tại và phát triển, Bộ môn Ngữ văn Hán Nôm thuộc khoa Ngữ văn Trường ĐHSPHN đã đạt được một số thành tựu sau:

1. ĐÀO TẠO

- Liên tục giảng dạy môn Ngữ văn Hán Nôm cho khối đại học từ năm 1960 đến nay. Trung bình mỗi năm học, mỗi cán bộ trong tổ bộ môn giảng dạy khoảng trên 350 tiết.

- Liên tục giảng dạy chuyên đề Lịch sử văn hoá tư tưởng phương Đông, Cơ sở văn hoá Việt Nam cho khối sau đại học của Khoa.

- Từ năm 2004, bộ môn đảm nhiệm việc giảng dạy các chuyên đề thuộc chuyên ngành Hán Nôm cho khối sau đại học Hán Nôm

- Xây dựng chương trình Ngữ văn Hán Nôm thuộc các hệ đào tạo cử nhân Sư phạm ngữ văn và cử nhân Văn học.

- Xây dựng chương trình Ngữ văn Hán Nôm sau đại học (ThS, TS).

- Xây dựng chương trình Cơ sở văn hoá Việt Nam.

- Biên soạn nhiều bộ giáo trình phục vụ đào tạo đại học và sau đại học, như: Cổ văn (2 tập), Ngữ văn Hán Nôm (3 tập), Cơ sở văn hoá Việt Nam, Cơ sở ngữ văn Hán Nôm (4 tập), Văn bản Hán văn Việt Nam, Văn bản Hán văn Trung Hoa... và nhiều tài liệu khác.

- Biên soạn ngân hàng đề thi cho các hệ chính quy, tai chức và từ xa.

- Đã đào tạo trên 20 Tiến sĩ chuyên ngành, chuẩn hoá được 30 Thạc sĩ chuyên ngành, đào tạo trên 100 Thạc sĩ Hán Nôm. Đã cộng tác với Trường ĐHSP Hà Nội II, Trường Đại học KHXH & NV, Trường Quản lí Bộ Giáo dục và Đào tạo, Viện NC Hán Nôm... trong việc giảng dạy và nghiên cứu khoa học.

2. NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

- Tổ chức hàng năm hội nghị khoa học cấp bộ môn, cấp liên bộ môn, cấp toàn quốc. Tiêu biểu như Hội thảo khoa học toàn quốc Nghiên cứu và giảng dạy ngữ văn Hán Nôm trong nhà trường ĐH và CĐ Sư phạm (2005), Nghiên cứu văn bản thi tuyển chữ Hán Việt Nam (2013)...

- Tham gia các hội nghị, hội thảo khoa học trong nước và quốc tế. (Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc...)

- Tham gia các chương trình nghiên cứu khoa học cấp trường, cấp bộ, cấp quốc gia về Hán Nôm học, di sản văn hoá tư tưởng, về văn học nghệ thuật. Các cán bộ trong tổ đã viết trên 100 cuốn sách, trên 500 bài báo khoa học; đã hoàn thành trên 30 đề tài nghiên cứu khoa học các cấp về Ngữ văn Hán Nôm và văn hoá Việt Nam, văn hoá Phương Đông, tiêu biểu như: Cơ sở Ngữ văn Hán Nôm, Văn bản học trong nhà trường, Văn Miếu - Quốc Tử Giám - Một biểu tượng văn hoá Việt Nam, Làng nghề - Phố nghề...., Xây dựng cơ sở dữ liệu dạy học Hán Nôm, Nghiên cứu văn bản học thi tuyển Việt Nam...

Tất cả các đề tài nghiên cứu đều đã được nghiệm thu và đánh giá loại tốt. Ngoài ra còn chủ trì và tham gia nhiều đề tài cấp trường đại học khác.

III. BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ VÀ XÂY DỰNG CƠ SỞ VẬT CHẤT:

- Thường xuyên bồi dưỡng chuyên môn cho các cán bộ trong tổ.

- Cử cán bộ tổ đi thực tập sinh, làm nghiên cứu sinh, tham gia hội thảo, thỉnh giảng ở nước ngoài.

- Thường xuyên chú ý đến việc tăng cường chất lượng đội ngũ cán bộ của tổ.

- Xây dựng tủ sách Hán Nôm cho cán bộ và sinh viên.

- Tổ chức biên soạn giáo trình, sách tham khảo, hệ thống câu hỏi bài tập thuộc chuyên ngành Ngữ văn Hán Nôm (như Ngữ liệu văn học cổ, Điển cố văn học)…

Đến đầu thế kỉ 21 này, các môn học Ngữ văn Hán NômCơ sở văn hoá Việt Nam đã có được vị trí quan trọng trong chương trình đào tạo giáo viên ngữ văn trong các trường Cao đẳng và Đại học Sư phạm của cả nước. Không ai còn nghi ngờ về vai trò không thể thiếu của nó đối với những người giảng dạy, học tập và nghiên cứu các ngành thuộc khoa học xã hội.


                                                                                  TỔ BỘ MÔN LÝ LUẬN VĂN HỌC

     I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

1.     Giai đoạn mới hình thành và củng cố đội ngũ trong chiến tranh (1958-1960)

a.     Giai đoạn hình thành (1958-1964)

               Từ Tổ Lý luận văn học - Văn học nước ngoài cùng chung với Đại học Tổng hợp tách riêng thành Tổ Lý luận văn học ĐHSP Hà Nội vào năm 1958.

              - Giáo sư Nguyễn Lương Ngọc làm chủ nhiệm Bộ môn và kiêm chủ nhiệm phân khoa Văn và Khoa Văn - Sử. Năm 1959 thầy Trần Văn Bính làm tổ trưởng, thầy Lê Bá Hán về Vinh làm chủ nhiệm Bộ môn Lý luận văn học, tổ bổ sung thầy Nguyễn Văn Hoàn (1963 Thầy Hoàn chuyển về Viện Văn học).

            - Hai thầy Thành Thế Thái Bình và Hồ Văn Nho tốt nghiệp khóa 1960-1961 được giữ lại tổ. Thầy Lê Đăng Bảng về tổ 1961, cuối 1962 làm Chủ nhiệm Bộ môn (1964 đi B). Tiến sĩ Nguyễn Văn Hạnh ở Liên xô về 1963, 1964 làm chủ nhiệm bộ môn

                 b. Giai đoạn chiến tranh chống Mĩ (1965-1975)

               Trong suốt 10 năm TS Nguyễn Văn Hạnh làm chủ nhiệm Bộ môn. Thầy Trần Văn Bính ở Liên xô về cuối 1964-1966 chuyển lên ĐHSP Việt Bắc. Thầy Bùi Văn Ba ở Tổ Văn học nước ngoài từ 1960 chuyển sang tổ Lý luận văn học 1965. Thầy Nguyễn Nghĩa Trọng và thầy Phùng Quí Nhâm tốt nghiệp khóa 1965 được giữ lại. Thầy Lâm Quang Vinh tốt nghiệp 1965 và anh Lê Ngọc Trà tốt nghiệp 1967 (cùng nhóm Mĩ học) ở lại tổ. Thầy Nguyễn Xuân Nam từ ĐHSP Vinh chuyển ra năm 1966. Thầy Phạm Đăng Dư và cô Nguyễn Kim Phong tốt nghiệp 1968 được giữ lại. Cô Nguyễn Thị Mĩ Hòa ở tổ Việt Nam 1 chuyển về tổ 1969. Đây là thời kỳ số lượng tổ viên đông nhất (12 người)

               c. Giai đoạn 1975-1980

               Đây là giai đoạn nhiều khó khăn về kinh tế, chiến tranh biên giới, mở hệ đào tạo Sau Đại học, cán bộ vừa phải đi Nam công tác vừa đi học nước ngoài 8 đồng chí, chiếm 2/3 tổ… Sau giải phóng, thầy Hạnh làm Giám đốc Viện Đại học Huế. Thầy Hồ Văn Nho về ĐHSP thành phố Hồ Chí Minh (mất 1986); thầy Lâm Quang Vinh về ĐHSP thành phố Hồ Chí Minh, thầy Nguyễn Ngĩa Trọng đi làm nghiên cứu sinh 1975, bảo vệ TS và về tổ 1979, thầy Phùng Quí Nhâm đi làm NCS ở Bun Ga ri 1977, thầy Lê Ngọc Trà đi làm NCS ở Liên xô 1977. Năm 1978 chị Nguyễn Kim Phong đi làm NCS ở Liên xô, 1982 về Nhà xuất bản Giáo dục. Cô Nguyễn Mĩ Hòa năm 1977 chuyển về công tác tại Cao đẳng thành phố Hồ Chí Minh, có thời điểm tổ chỉ còn 4 người do thầy Thành Thế Thái Bình phụ trách. Tiếp đến tổ bổ sung thêm thầy Nguyễn Xuân Hậu (1976), thầy Phùng Ngọc Kiếm và cô Lê Lưu Oanh (1977). Cô Hoàng Thị Văn về tổ 1975, sau chuyển về ĐHSP II. Năm 1979 thầy Nguyễn Nghĩa Trọng trở về tổ, 1980 thầy Trần Văn Bính trở về tổ.

2.     Thời kì phát triển (1981-1926)

               Từ năm 1980 - 1990 các thầy Trần Văn Bính chuyển về Học viên chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, thầy Thành Thế Thái Bình về công tác tại Khoa văn ĐHSP II; thầy Nguyễn Văn Hậu về hưu. Tiến sĩ Trần Đình Sử về khoa 1981, TS La Khắc Hòa về tổ 1983; TS Trần Mạnh Tiến về tổ 1997. Thầy Bùi Văn Ba là Chủ nhiệm Bộ môn 1981-2001. 2002 -2003 GS.TS Trần Đình Sử làm chủ nhiệm Bộ môn, năm 2003 PGS Nguyễn Xuân Nam về hưu, 2004 thầy Phạm Đăng Dư về hưu; 2006 PGS.TSKH về hưu; 2004 -2007 PGS.TS La Khắc Hòa làm chủ nhiệm Bộ môn; năm 2007 - 2012 PGS.TS Lê Lưu Oanh làm chủ nhiệm bộ môn; 2013 - 2017 PGS.TS Trần Mạnh Tiến làm chủ nhiệm Bộ môn; từ 2001 cho đến nay tổ tiếp tục bổ sung thêm 6 cán bộ gồm Nguyễn Thị Hải Phương, Trần Ngọc Hiếu, Đỗ Văn Hiểu, Lê Trà My, Nguyễn Ngọc Minh, Lộ Đức Anh. Cô Lê Trà My chuyển (từ ĐHSP II, 2004) còn lại 5 cán bộ đều là sinh viên khoa Ngữ văn được giữ lại làm cán bộ giảng dạy.

3.     Về hoạt động chuyên môn

               Ngay từ khi thành lập, tổ Lý luận văn học luôn coi trọng nghiên cứu khoa học là nhiệm vụ hàng đầu, liên tục động viên các giảng viên đi học ở nước ngoài và trong nước như TS. Nguyễn Nghĩa Trọng bảo vệ TSKH ở Liên xô, TS Bùi Văn Ba bảo vệ TSKH ở trong nước. Tỷ lệ tổ viên có học hàm học vị cao ở trong khoa. Về học hàm PGS: Nguyễn Xuân Nam (1984), Bùi Văn Ba (bút danh Phương Lựu) (1984), La Khắc Hòa (bút danh Lã Nguyên) (1991), Nguyễn Nghĩa Trọng (1996), Lê Lưu Oanh (2002), Phùng Ngọc Kiếm (2003), Trần Mạnh Tiến (2005). Về học hàm GS: Bùi Văn Ba (1991), Trần Đình Sử (1996). Tổ coi trọng trau dồi chuyên môn, ngoại ngữ, nhiều giảng viên biết sử dụng tốt từ 1-2 ngoại ngữ. 

               Hiện nay các giảng viên tổ đang trong tuổi làm việc gồm có 9 giảng viên, 8 giảng viên có trình độ Tiên sĩ, 1 giảng viên là thạc sĩ (Lộ Đức Anh), 3 giảng viên có học hàm PGS: Phùng Ngọc Kiếm, Lê Lưu Oanh, Trần Mạnh Tiến. Các luận án của 3 giảng viên trên được bổ sung xuất bản thành các cuốn chuyên khảo, giáo trình

-         Lê Lưu Oanh với luận án: Thơ trữ tình 1975-1990 (bảo vệ 1995)

-         Phùng Ngọc Kiếm: Con người trong truyện ngắn 1945-1975 (Bảo vệ 1996)

-         Trần Mạnh tiến: Lý luận phê bình văn học Việt Nam 30 năm đầu thế kỷ XX (Bảo vệ 1997)

                 Đây là tổ dẫn đầu về chuyên môn và nghiên cứu khoa học trong nhiều năm, các nguồn lí thuyết mới được các giảng viên trong tổ cập nhật nước ngoài giới thiệu và ứng dụng sớm trong đào tạo như lí luận phê bình phương Tây ở thế kỷ XX và XXI, các đề tài khoa học có tính ứng dụng cao. Số lượng sách giáo trình, chuyên khảo, tham khảo và các bài báo khoa học, đề tài khoa học công nghệ cao nhất trong khoa.

     II. HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO

1.     Hệ Đại học

               Kể từ khi có hệ đào tạo chính qui 4 năm, tổ Lý luận văn học đã đưa vào các chương trình mới: Mác Ăng ghen, Lê nin về văn học nghệ thuật, Đường lối văn nghệ của Đảng, Nguyên lý tính dân tộc trong văn học, Văn học và các loại hình nghệ thuật khác, Phương pháp luận nghiên cứu văn học…  Ngay sau ngày giải phóng miền Nam cácc giảng viên trong tổ đã tham gia giảng dạy ở các trường Đại học, các trung tâm đào tạo lớn ở miền Nam như Sài Gòn, Hà Nội, Cần Thơ và nước bạn như Lào, Cam pu chia.

        2. Hệ Sau đại học

               Gần 20 năm trở lại đây tổ lại tiếp tục bổ sung các chuyên đề mới: Các trường phái lí luận phê bình phương Tây hiện đại, Ký hiệu học, Chủ nghĩa hậu hiện đại, Chủ nghĩa nữ quyền sinh thái, Chuyển thể văn học, Thi pháp thơ Tố Hữu, Lý luận phê bình văn học đầu thế kỷ XX…

                Nhiều chuyên đề mới mẻ được triển khai: Lí luận phê bình văn học phương Tây, Lí luận văn học phương Đông; Những vấn đề hiện đại của lí luận văn học Mác xít; Phương pháp luận lí luận văn học; Vấn đề giảng dạy lí luận văn học từ trung học đến đại học; Thể loại văn học; Thi pháp thơ, Thi pháp truyện ngắn, Lý luận phê bình văn học Việt Nam thê kỷ XX.

               Các giảng viên đã tham gia giảng dạy các chuyên đề mới và tham gia đánh giá luận văn luận án ở các trường Đại học lớn trong nước như Huế, thành phố Hồ Chí Minh, Thái Nguyên, Vinh, Thái Nguyên… và tham gia giảng dạy ở nước ngoài.

               Tính từ năm 1976 đến nay tổ Lý luận văn học đã đào tạo tới trên 400 Thạc sĩ, gần 60 Tiến sĩ trong và ngoài trường và nước bạn Lào, Cam phu chia…

           3. Biên soạn giáo trình, chương trình, sách chuyên khảo, tham khảo

               Từ 1970 trở về trước các giáo trình ở bậc đại học chủ yếu dựa vào giáo trình Lý luận văn học của Liên xô và một phần của Trung Quốc. Đầu 1980 Bộ giáo dục thành lập Hội đồng Ngữ văn để chủ động xây dựng chương trình mới trong đó có Lí luận văn học theo hướng dân tộc và hiện đại. Cuối những năm 50 tổ Bộ môn LLVH mới thành lập, thầy Nguyễn Lương Ngọc chủ biên và có thầy Nguyễn Văn Hoàn, Trần văn Bính cùng biên soạn bộ giáo trình đầu tiên lấy tên là Nguyên lí lí luận văn học, gồm 3 tập (1960-1963). Tiếp đến là bộ Cơ sở LLVH (4 tập- nhà xuất bản Giáo dục 1965) phối hợp với Đại học Tổng hợp vẫn do thầy Nguyễn Lương Ngọc chủ biên cùng các tác giả Nguyễn Văn Hạnh, Trần Văn Bính, Nguyễn Xuân Nam. Đầu năm 1970, Hội đồng của Bộ Đại học được thành lập và có chủ trương ĐHSP Hà Nội kết hợp với ĐHSP Vinh viết Bộ giáo trình Cơ sở LLVH 3 tập (NXB. ĐH và Trung học chuyên nghiệp 1975-1983. ĐHSP Hà Nội có thầy Nguyễn Lương Ngọc chủ biên cùng các tác giả Nguyễn Văn Hạnh, Phương Lựu (Bùi Văn Ba).

     Đầu năm 1980 trên cơ sở chương trình LLVH theo hướng dân tộc hiện đại nói trên Bộ giáo dục chủ trương một số trường ĐH trong nước viết chung Bộ giáo trình Lí luận văn học tập 3 (Nhà xuất bản Giáo dục, 1986-1988) do ĐHSP làm nòng cốt. Thầy Phương Lựu làm chủ biên cùng các thầy Trần Đình Sử, Nguyễn Xuân Nam, La Khắc Hòa. Bộ giáo trình này đã được Hội đồng thẩm định sách của Bộ Giáo dục và Đào tạo giới thiệu làm sách chung cho các trường Đại học và 10 năm sau đươc Tái bản lại (1997). Năm 1997 và 2001, tổ đã tham gia biên soạn 2 bộ Giáo trình Lí luận văn học cho hệ Từ xa và Tại chức cử nhân Tiểu học và cử nhân văn với các tác giả Trần Đình Sử Nguyễn Nghĩa Trọng, Phạm Đăng Dư, Trần Mạn Tiến, Lê Lưu Oanh, Phùng Ngọc Kiếm. Năm 2003 và 2005 tổ đã cho ra mắt tập 1, tập 3 bộ giáo trình Lí luận văn học (GS. Phương Lựu chủ biên) cho hệ cử nhân chính qui. Năm 2005 Bộ giáo trình Lí luận văn học (GS. Trần Đình Sử chủ biên) được xuất bản cho hệ Cao đẳng. Từ 2002 trở đi GS. Trần Đình Sử được cử làm Tổng chủ biên sách Ngữ văn Phổ thông.

III. NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

               Bên cạnh các Hội thảo khoa học trong và ngoài nướ, các sinh hoạt tọa đàm văn học; các chuyên luận trong tổ đã liên tục được xuất bản như Thi pháp thơ Tố Hữu, Thi pháp học, Tư tưởng Lí luận văn nghệ Mác Ăng ghen, Phương pháp luận nghiên cứu văn học; Lý luận phê bình văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX, Lan Khai- Tác phẩm nghiên cứu lý luận phê bình văn học; Lan Khai - Lầm Than, Lan Khai – Truyện đường rừng, Văn học với các loại hình nghệ thuật…

               Từ cuối những năm 1980 – 2000 trở đi, tổ luôn quan tâm đến các vấn đề lí luận hiện đại của thế giới qua chuyển dịch, giới thiệu. Các công trình Văn học so sánh, thi pháp học, tự sự học đã được xuất bản. Tổng hợp lại đến nay trong tổ đã có tới 50 sách chuyên luận. 120 đầu sách hợp tác (1/2 là sách phổ thông). Có khoảng 600 bản báo cáo; dịch thuật gần 20 công trình. 9 bài báo Quốc tế. Tổ chức các Hội nghị Khoa học cấp Quốc gia như Tự sự học (2001), Văn học so sánh (2004); “Lý luận văn học thế giới với Việt Nam” (đề tài cấp nhà nước 2006- 2009); “Thi học cổ điển Trung Hoa” (2015). Năm 2015 Nhà xuất bản Giáo dục cho ra mắt bạn đọc Tuyển tập Trần Đình Sử và Tuyển tập Phương Lựu…

     Từ nền tảng lí luận và phê bình hiện đại, tổ lý luận đã thực hành kết hợp ứng dụng lý luận Mác xít với lý thuyết hiện đại phương Tây vào nghiên cứu và đào tạo mang lại nhiều kết quả mới như lý thuyết diễn ngôn, so sánh văn học, phê bình văn hóa, ký hiệu học…

     IV. CÔNG TÁC XÃ HỘI

     1. Hoạt động của các tổ viên

     Trong chiến tranh chống Mĩ đại bộ phận tổ viên đều đi sơ tán tham gia chủ nhiệm các lớp linh viên như các thầy Bùi Văn Ba, Thành Thế Thái Bình, Hồ Văn Nho. Công tác chính quyền và công đoàn rất nặng nề. Thầy Hạnh là Phó chủ nhiệm khoa phải cáng đáng mọi nhiệm vụ (Chủ nhiệm Khoa ốm đau), thầy Thành Thế Thái Bình làm công tác Đảng ủy, Bùi Văn Ba làm công tác công đoàn, công tác kiến thiết và thủ qũi… Các giảng viên phải vừa giảng dạy vừa nghiên cứu vừa tham gia chiến đấu. các tổ viên đều tham gia tự vệ như Nguyễn văn Hạnh, Nguyễn Kim Phong. Thành thế Thái Bình làm chính trị viên. Bùi Văn Ba làm trung đội trưởng. Trong chiến tranh phá hoại, các thầy Bùi Văn Ba, Thành Thế Thái Bình phải tham gia trực chiến trong khẩu đội 12 ly 7 đặt trên gò đất sau nhà A7 góp phận bắn rơi chếc F4 ngày 7/8/1972. Trong chiến tranh biên giới Phạm Đăng Dư, Phùng Ngọc Kiếm cùng đội xung kích lên Lạng Sơn, tổ cùng trung đoàn ĐHSP xây dựng phòng tuyến Sông Cầu.

       2. Các cán bộ khoa:

         a. Chủ nhiệm khoa: Nguyễn Lương Ngọc (1958-1963)

         b. Bí thư Đảng ủy khoa: Thành Thế Thái Bình (1978-1982). Nguyễn Nghĩa Trọng (1981-1983); Nguyễn Xuân Hậu (1983-1990); Phạm Đăng Dư (1986-1985); Phùng Ngọc Kiếm (2004-2006)

          c. Phó chủ nhiệm khoa: Nguyễn Văn Hạnh (1966-1975); Nguyễn Nghĩa Trọng (1980-1983); Phùng Ngọc Kiếm (2004-2006)

          d. Chủ tịch công đoàn: Thành Thế Thái Bình (1973-1975); Trần Mạnh Tiến chủ tịch công đoàn khoa (2002-2005), Thường vụ công đoàn Trường (2004-2006)

          đ. Bí thư đoàn khoa: Thành Thế Thái Bình (1962-1964); Nguyễn Nghĩa Trọng (1967-1968); Phạm Đăng Dư (1968-1977); Phùng Ngọc Kiếm (1979-1984)…

        3. Cấp trường

             Hiệu trưởng Nguyễn Lương Ngọc (1970-1975); Bí thư đoàn Trường Phạm Đăng Dư (1978-1982); Giám đốc Trung tâm Trung Quốc học Bùi Văn Ba; Phó giám đốc trung tâm: Trần Đình Sử từ 1999 đến 2010.

        4. Đại học Quốc gia Hà Nội

     Hội đồng khoa học: Trần Đình Sử, Bùi Văn Ba; Phó giám đốc Nhà xuất bản La Khắc Hòa; Phụ trách tờ tin ĐHSP Hà Nội Phùng Ngọc Kiếm.

          5. Bộ Giáo dục và đào tạo

     Ủy viên Thường trực Bộ môn Ngữ văn bậc đại học; Ủy viên Hội đồng Ngữ văn Trung học; Trần Đình Sử Ủy viên Hội đòng học hàm chuyên ngành văn: Trần Đình Sử…

         6. Hội Nhà văn, Hội Văn nghệ dân gian, Hội Nho học Quốc tế

     Ủy viên Hội đồng LLPB: Phương Lựu (Khóa IV); Trần Đình Sử (Khóa V,VI). GS. Bùi Văn Ba, PGS.TS Trần Mạnh Tiến (2016-2021); Hội đồng Nho học Quốc tế; PGS. Nguyễn Xuân Nam Hội viên Nhà văn; PGS.TS Trần Mạnh Tiến Hội viên hội Nhà văn, Hội viên Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam.

V. Khen thưởng

           1. Cấp Bộ

     Năm 1995, GSTSKH Phương Lựu được Bộ khen thưởng về đề tài cấp Bộ: Lý luận hiện đại phương Tây. Năm 1998, GS.TS Trần Đình Sử được Bộ khen về công tác chủ biên sách văn Phổ thông

           2. Giải thưởng Hội Nhà văn

         Năm 1995, GSTSKH Phương Lựu được giải thưởng cuốn Trên đà đổi mới văn nghệ. Năm 1998, GSTS Trần Đình Sử được giải LLPB về cuốn Lý luận phê bình văn học.

             3. Giải thưởng nhà nước năm 2000

       GSTSKH PHương Lựu được giải về cụm công trình Lý luận văn học dân tộc- hiện đại. GS.TS Trần Đình Sử được giải thưởng về cụm công trình Thi pháp học.

            4. Giải thưởng Nhà nước 2001

         GS.TSKH Phương Lựu

             5. Giải thưởng cấp tỉnh, cấp Trường

     PGS.TS Trần Mạnh Tiến, giải thưởng hạng Nhì Nghiên cứu chùm di sản văn hóa (Cấp tỉnh, 2008). Giải Nhì: Có thành tích xuất sắc trong Nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ (2010). Giải Ba công trình: Nguồn xưa xứ lâm tuyền (2016)

             Các khen thưởng khác:

          Tổ LĐXHCN 12 năm: Bằng Khen thủ tướng chính phủ cho tổ Tiên tiến xuất sắc; Huân chương lao động hạng 3 năm 2003 (Nguyễn Xuân Nam, Bùi Văn Ba, Trần Đình Sử). Nhà giáo Nhân dân: Bùi Văn Ba, Trần Đình Sử; Nhà giáo Ưu tú (Nguyễn Nghĩa Trọng, Lê Lưu Oanh…). Huân chương hạng Nhất (Nguyễn Nghĩa Trọng, Phạm Đăng Dư); Huân chương kháng chiến chống Mĩ hạng Nhì, hạng Ba (Nguyễn Nghĩa Trọng, Bùi Văn Ba, Trần Đình Sử). Bằng khen của Bộ giáo dục và đào tạo; Huy chương vì thế hệ trẻ của TW Đoàn (1982); Huy chương vì sự nghiệp phát triển Thể dục thể thao Nhà nước (2000): Phạm Đăng Dư; Huy chương chiên sĩ vẻ vang (Phùng Ngọc Kiếm); Bằng khen Bộ Giáo dục (Trần Mạnh Tiến, Lê Lưu Oanh…)

              Gần 60 năm thành lập, tổ Lý luận văn học khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã có một quá trình phát triển ngày một qui mô và hoàn thiện. Ở giai đoạn nào cũng có các cán bộ giỏi về chuyên môn có ảnh hưởng quan trọng đến hệ thống lí luận phê bình trong đào tạo và văn hóa xã hội. Hiện nay các nhà khoa học lí luận tuổi đã cao nhiều thầy cô đã nghỉ hưu, nhiều cán bộ trẻ đã có bằng Tiên sĩ nhưng trước yêu cầu khoa học của thời kì giao lưu hội nhập vẫn phải nỗ lực vươn lên nhiều hơn nữa về chuyên môn khoa học và ngoại ngữ; đổi mới giảng dạy và nghiên cứu để hoàn thành nhiệm vụ trong hoàn cảnh mới.

                                                                                                                                                            (Tháng 7 năm 2017)

























CÁN BỘ ĐÃ NGHỈ HƯU

Stt

Họ tên

Học hàm học vị

Liên hệ

           Điện thoại                           Email

1

Nguyễn Xuân Nam

PGS.TS

0438360964

 

 

2

Bùi Văn Ba

(Phương Lựu)

GS. TSKH

0438330701

fuongluu@gmail.com

3

Nguyễn Nghĩa Trọng

PGS.TSKH

01689171537

 

 

4

Trần Đình Sử

GS.TS

0437212693

dinhsutran@yahoo.com

5

La Khắc Hòa

(Lã Nguyên)

PGS.TS

0437680047

lakhachoa@hotmail.com

…………………………

………………

……………………

…………………………

 CÁN BỘ HIỆN ĐANG CÔNG TÁC

Stt

Họ tên

Năm sinh

Học hàm học vị

Chức vụ

Liên hệ

1

Phùng Ngọc Kiếm

1953

PGS.TS

Giảng viên cao cấp

kiempn@hnue.edu.vn

2

Lê Lưu Oanh

1956

PGS.TS

Giảng viên cao cấp

leluuoanh@yahoo.ca

3

Trần Mạnh Tiến

1957

PGS.TS 

      Giảng viên cao cấp

tranmanhtien56@yahoo.com

4

Lê Trà My

1969

TS

Giảng viên

tramyle2311@gmail.com

5

Trần Ngọc Hiếu

1979

TS

Giảng viên

hieutn1979@yahoo.com

6

Nguyễn Thị Hải Phương

1979

TS

Phó trưởng môn, Giảng viên

haiphuongdhsp@yahoo.com

7

Đỗ Văn Hiểu

1979

TS

Giảng viên

dovanhieu@hotmail.com

8

Nguyễn Thị Ngọc Minh

1981

TS

Giảng viên

nguyenngocminhsp@gmail.com

9

Lộ Đức Anh

1991

ThS

Giảng viên

dangtienthieu@gmail.com


BỘ MÔN VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI

 

I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ

Cùng với quá trình hình thành nền đại học mới Việt Nam, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (ĐHSP HN), Khoa Ngữ văn, Tổ văn học Nước ngoài (VHNN) cũng được hình thành và phát triển theo những giai đoạn sau:

1. Giai đoạn 1951– 1956: nền móng của Tổ VHNN

Quan tâm đến vai trò của giáo dục trong công cuộc “vừa kháng chiến vừa kiến quốc”, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà đã rất quan tâm chỉ đạo xây dựng nền đại học, bước đầu là thành lập hai cơ sở đào tạo đại học, một ở Nam Ninh (Trung Quốc) và hai phân hiệu dự bị đại học ở hai tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An. Sau khi hoà bình được lập lại ở miền Bắc, các cơ sở đại học trong kháng chiến được lệnh chuyển về tiếp quản trường Đại học Hà Nội tại đường Lê Thánh Tông. Lúc bấy giờ do số lượng giáo sư còn thiếu, nên ĐHSP và Đại học Tổng hợp (ĐHTH) còn học chung và mới chỉ có hai ngành chính là khoa học tự nhiên và văn khoa. Trong chương trình giảng dạy văn khoa, ngoài việc học văn học Việt Nam, thì nhu cầu cung cấp kiến thức văn học nước ngoài là không thể thiếu. Bước đầu đã hình thành ba phân môn của bộ môn Văn học nước ngoài:

– Văn học Trung Quốc do giáo sư Đặng Thai Mai, thầy Phan Ngọc, thầy Hoàng Thiếu Sơn giảng dạy.

– Văn học phương Tây do giáo sư Nguyễn Mạnh Tường giảng dạy.

– Văn học Xô viết do thầy Hoàng Xuân Nhị, Nguyễn Khánh Toàn giảng dạy.

2. Giai đoạn 1957 – 1975: tập hợp đội ngũ và phát triển

Lần lượt các thầy giáo đến làm việc ở tổ Văn học nước ngoài và lại ra đi như dòng chảy cuộc sống không ngừng vận động.

– Những năm 1956 – 1958 đầu tiên phải kể tới thầy Trương Chính (1916), nhà phê bình văn học, tác giả của cuốn Dưới mắt tôi viết năm 1939, người có kiến thức uyên bác về văn hoá và văn học Trung Quốc và cũng là thành viên “Nhóm Lê Quý Đôn” về tổ. Sau đó là thầy Đỗ Đức Hiểu, người hiểu biết sâu sắc về văn học phương Tây.

Tháng 8-1957 có thêm một số cán bộ giảng dạy văn học nước ngoài vốn là sinh viên vừa tốt nghiệp được tuyển chọn: thầy Nguyễn Hải Hà, thầy Nguyễn Khắc Phi.

– Năm 1958 – 1959 Trường Đại học Sư phạm và Đại học Tổng hợp tách ra thành hai trường, hai cơ sở đào tạo. Vì vậy có sự phân công lại cán bộ giảng dạy. Một số giáo sư có tuổi đã về nghỉ, ngoài thầy Trương Chính ở lại tổ Văn học nước ngoài, còn Giáo sư Đặng Thai Mai sang làm Viện trưởng Viện Văn học, thầy Hoàng Xuân Nhị, Đỗ Đức Hiểu, Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Khắc Phi, Nguyễn Hải Hà (một năm sau thầy Hà lại chuyển sang khoa Văn ĐHSPHN) ở lại khoa Văn ĐHTHHN.

Cũng dịp này thầy Nguyễn Cửu Cúc trước đó phụ trách giáo vụ trường đã về giảng dạy văn học phương Tây ở tổ.

Tiếp đó là các thế hệ sinh viên tốt nghiệp được tuyển chọn ở lại khoa và tổ Văn học nước ngoài: Lương Duy Trung (khoá 1956 – 1959), Hoàng Nhân (khoá 1957 – 1960).

Đầu năm học 1960 – 1961 một số thầy được đào tạo đại học từ nước ngoài về công tác tại tổ: thầy Trần Xuân Đề, Bùi Văn Ba từ Trung Quốc. Phan Hữu Nghệ (1961 – 1962) cũng từ Trung Quốc về. Thầy Đỗ Xuân Hà, Nguyễn Ngọc Ảnh từ Liên Xô về.

Đặc biệt năm 1963 có phó tiến sĩ văn học nước ngoài đầu tiên được đào tạo tại Liên Xô là thầy Nguyễn Đức Nam về tham gia công tác tại tổ.

Như vậy từ 1958 – 1965 tổ văn học nước ngoài đã dần tập hợp được lực lượng các thầy giáo giỏi phục vụ giảng dạy cho cả ba phân môn, văn học Trung Quốc có thầy Trương Chính, Bùi Văn Ba, Trần Xuân Đề, Phan Hữu Nghệ; văn học phương Tây có thầy Nguyễn Cửu Cúc, Lương Duy Trung, Hoàng Nhân, Nguyễn Đức Nam và văn học Nga – Xô viết có thầy Nguyễn Hải Hà, Đỗ Xuân Hà, Nguyễn Ngọc Ảnh. Thầy Nguyễn Đức Nam là trưởng môn, thầy Trương Chính là phó trưởng môn.

Từ 1965 – 1975 đây là thời kì đế quốc Mĩ leo thang đem máy bay đánh phá miền Bắc, các trường phải đi sơ tán, học tập đại học trong điều kiện hết sức khó khăn. Trong thời kì này khoa cũng tiếp nhận nhiều thầy cô giáo giỏi dạy ở cấp ba, hoặc công tác ở Bộ Giáo dục về công tác. Về tổ Văn học nước ngoài có cô Nguyễn Thị Hoàng (1965), Thái Thu Lan (1965), Đặng Anh Đào (1965). Thầy Lưu Đức Trung về từ Trung Quốc (1966). Thầy Phùng Văn Tửu chuyển từ Đại học Sư phạm Vinh ra (1969). Thầy Đỗ Đức Hiểu vốn là cán bộ khoa Văn ĐHTH, sau khi đi chuyên gia Trung Quốc về nước, cũng về Tổ Văn học nước ngoài khoa Văn ĐHSP, mấy năm sau mới trở lại ĐHTH. Năm học 1966 – 1967 cùng một số thầy cô khác của khoa, thầy Hoàng Nhân được điều về Đại học Sư phạm Việt Bắc, sau chuyển vào Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh

Cho đến trước 1975, nguồn bổ sung lớn nhất vẫn là các thế hệ sinh viên lần lượt qua các khoá. Tổ Văn học nước ngoài được tiếp nhận ba thầy cô giáo mới: Hồ Sĩ Hiệp, Lâm Ngọc Hoàn, Đinh Việt Anh.

Thầy Nguyễn Duy Bình, Ngô Xuân Anh về Đại học Sư phạm Vinh; thầy Nguyễn Cửu Cúc về trường ĐHSPNN, làm chủ nhiệm Khoa tiếng Anh.

3. Giai đoạn thứ ba, từ 1975 đến 2014

Đất nước thống nhất, trong niềm vui lớn lao sum họp của cả dân tộc, do nhu cầu tăng cường cán bộ giảng dạy, lại ở Thủ đô Hà Nội, Khoa Ngữ Văn nói chung và Tổ Văn học nước ngoài nói riêng có điều kiện thuận lợi thu hút nhiều thầy cô giỏi về Tổ làm việc.

Thầy Nguyễn Khắc Phi sau mấy chục năm từ khoa Văn ĐHTHHN vào dạy ở ĐHSP Vinh nay trở lại tổ Văn học nước ngoài (1975), Thầy Lương Duy Thứ từ khoa Văn ĐHSP Việt Bắc cũng về tham gia công tác ở Tổ (1975). Cũng dịp này khoa còn đón thêm một số giáo viên vốn là cán bộ giảng dạy khoa cấp II của trường ĐHSPHN đang giải thể, Tổ được tiếp nhận thầy Nguyễn Hoàng Tuyên (1975).

Tiếp đó Tổ còn tiếp nhận các giáo viên vốn là sinh viên vừa tốt nghiệp: cô Hà Thị Hoà (1976), cô Vũ Thị Ngọc (1977) và cô Nguyễn Lan Hương. Các cô Dương Quỳnh Như, Phan Minh Châu từ Liên Xô về.

Như vậy cho tới cuối những năm 1970 Tổ Văn học nước ngoài do PTS Nguyễn Đức Nam làm tổ trưởng với ba nhóm chuyên môn:

1. Nhóm văn học Trung Quốc do thầy Bùi Trương Chính làm nhóm trưởng, gồm các thầy Trần Xuân Đề, Lưu Đức Trung, Lương Duy Thứ, Hồ Sĩ Hiệp, Đinh Việt Anh, Nguyễn Khắc Phi.

2. Nhóm văn học phương Tây do thầy Lương Duy Trung làm nhóm trưởng, gồm các thầy Nguyễn Đức Nam, Hoàng Nhân, Phùng Văn Tửu, Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Hoàng Tuyên và các cô Đặng Anh Đào, Thái Thu Lan, Nguyễn Thị Hoàng, Vũ Thị Ngọc.

3. Nhóm văn học Xô Viết do thầy Nguyễn Hải Hà làm nhóm trưởng gồm các thầy Nguyễn Ngọc Ảnh, Đỗ Xuân Hà, và các cô Dương Quỳnh Như, Lâm Ngọc Hoàn, Nguyễn Lan Hương, Hà Thị Hoà, Phan Minh Châu.

Ít năm sau thầy Bùi Trương Chính và thầy Nguyễn Hải Hà được cử làm tổ phó bộ môn. Có thể nói đây là thời kỳ đạt tới đỉnh cao của tổ Văn học nước ngoài vì đã hội tụ về đây những gương mặt tiêu biểu, đã và sẽ là những chuyên gia đầu ngành nghiên cứu văn học nước ngoài ở Việt Nam.

Do nhu cầu phát triển của ngành giáo dục, đặc biệt là hệ thống các trường Đại học Sư phạm phía nam, chia sẻ đội ngũ cán bộ giảng dạy cũng là quy luật vận động tất yếu của cuộc sống.

Năm 1978 thầy Trưởng môn Văn học nước ngoài Nguyễn Đức Nam được Bộ Giáo dục & Đào tạo điều động lên làm Phó ban Cải cách Sư phạm, sau làm Giám đốc nhà xuất bản Giáo dục.

Cùng với nhiều giáo viên của khoa Văn được điều động về xây dựng các trường đại học phía nam, đã có 6 thầy cô của tổ cũng ở trong danh sách này: Thầy Trần Xuân Đề, Hồ Sĩ Hiệp, Lương Duy Trung, cô Phan Minh Châu về trường Đại học Sư phạm tp Hồ Chí Minh, cô Thái Thu Lan về trường ĐHTH thành phố Hồ Chí Minh, cô Nguyễn Thị Hoàng về ĐHSP Huế.

Từ năm 1980 – 2001 Tổ Văn học Nước ngoài do thầy Nguyễn Hải Hà làm trưởng môn, thầy Phùng Văn Tửu làm phó trưởng môn. Trong thời gian này, Tổ đã tiếp nhận một số sinh viên mới tốt nghiệp, hoặc thạc sĩ, tiến sĩ xin về công tác tại tổ: cô Trần Thu Dung, thầy Lê Tuấn Anh (1985), cô Phan Thu Hiền (1991), cô Phạm Hải Anh (1992), thầy Lê Nguyên Cẩn (1994), thầy Trần Lê Bảo (1994), cô Thành Đức Hồng Hà (1996), thầy Đỗ Hải Phong (1997), thầy Lê Huy Bắc (1998), cô Nguyễn Thị Linh Chi, cô Nguyễn Thị Từ Huy (2000), cô Nguyễn Thị Diệu Linh và Trần Thu Hương năm 2001, cô Nguyễn Thị Mai Liên (2002).

Cũng trong giai đoạn này, một số thầy cô chuyển đi nơi khác hoặc về hưu như: Trần Thu Dung, Phạm Hải Anh, Phan Thu Hiền, Nguyễn Khắc Phi, Lương Duy Thứ (chuyển đi công tác khác), Lê Tuấn Anh (học NCS mất ở Nga), Đinh Việt Anh (ốm mất), các thầy cô về hưu: Lưu Đức Trung, Đặng Anh Đào, Nguyễn Hoàng Tuyên, Phùng Văn Tửu, Nguyễn Hải Hà.

Từ cuối năm 2001 tới 2006, Tổ Văn học Nước ngoài do PGS.TS. Trần Lê Bảo làm trưởng môn, PGS.TS. Hà Thị Hoà làm phó trưởng môn.

Từ cuối 2006 đến 2009, PGS.TS. Đỗ Hải Phong làm trưởng môn. TS. Nguyễn Thị Mai Liên làm phó trưởng môn. PGS. TS. Trần Lê Bảo về hưu.

Tháng 10 năm 2009, sau khi PGS.TS. Đỗ Hải Phong được cử làm phó trưởng khoa, vị trí trưởng môn do GS.TS. Lê Huy Bắc đảm nhận, TS. Nguyễn Thị Mai Liên làm phó trưởng môn.

GS.TS. Lê Huy Bắc được phong GS vào năm 2013, là giáo sư trẻ nhất ngành Ngữ văn ở Việt Nam (45 tuổi).

Năm 2012, PGS.TS. Đỗ Hải Phong được bầu làm Chủ nhiệm Khoa Ngữ văn, là một trong hai chủ nhiệm khoa trẻ nhất trong truyền thống chủ nhiệm khoa Ngữ văn (năm 45 tuổi).

Sau khi bảo vệ tiến sĩ từ Pháp về nước, năm 2009, TS. Nguyễn Thị Từ Huy đã chuyển công tác vào trường ĐHKHXH&NV, ĐHQG TPHCM. Năm 2009, tổ đã tiếp nhận TS. Nguyễn Thị Mai Chanh chuyển công tác từ Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên về. Hiện nay, tổ văn học Nước ngoài gồm 1 GS, 4 PGS, 5 TS, chia làm 3 nhóm:

1. Nhóm văn học châu Á: TS. Nguyễn Thị Mai Liên kiêm nhóm trưởng, gồm PGS.TS. Nguyễn Thị Mai Chanh, TS. Nguyễn Thị Diệu Linh, TS. Trần Thị Thu Hương.

2. Nhóm văn học Âu-Mỹ: GS.TS. Lê Huy Bắc kiêm nhóm trưởng, gồm PGS.TS. Lê Nguyên Cẩn, TS. Nguyễn Linh Chi.

3. Nhóm văn học Nga-Đông Âu: PGS.TS. Đỗ Hải Phong kiêm nhóm trưởng, gồm PGS.TS. Hà Thị Hoà, TS. Thành Đức Hồng Hà.

Bộ môn Văn học nước ngoài hiện tại có 10 thầy cô, tuy số lượng chưa đông, nhưng nói chung đều được đào tạo cẩn thận; đặc biệt nhiều thầy cô giáo trẻ hăng hái, năng động, tiếp cận nhanh với công nghệ thông tin và các hướng nghiên cứu mới của thế giới như Hậu hiện đại, Mĩ học đương đại, Văn học so sánh, Kí hiệu học ngôn ngữ văn học, Phê bình sinh thái... Toàn tổ mọi người đều cố gắng học tập, tăng cường nghiên cứu khoa học để nâng cao trình độ chuyên môn và năng lực sư phạm, đáp ứng tốt mọi nhiệm vụ được giao. Hiện tại, có thể xem đây là một trong những tổ bộ môn có năng lực chuyên môn, học hàm, học vị mạnh nhất trong khối các ngành khoa học xã hội ở Việt Nam.

Bộ môn Văn học nước ngoài có bốn thầy cô được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nhà giáo ưu tú: GS Nguyễn Hải Hà, GS Phùng Văn Tửu, PGS.TS. Đặng Anh Đào, PGS. Lưu Đức Trung.

II. ĐÀO TẠO VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

1. Công tác đào tạo

Cán bộ của Bộ môn Văn học nước ngoài đã góp sức cùng cán bộ giảng dạy khoa Văn đào tạo hàng ngàn giáo viên văn học có trình độ cử nhân cho các trường phổ thông với đủ các hệ 3 năm, 4 năm, 5 năm. Lớp đại trà và cả lớp chất lượng cao. Đào tạo hệ cử tuyển, văn bằng hai, đào tạo sinh viên nước ngoài, lưỡng quốc cử nhân…

Bộ môn cũng góp phần đào tạo hàng chục ngàn cử nhân văn học và cử nhân các ngành khác trong trường, với các hệ đào tạo ngoài trường: chuyên tu, tại chức, từ xa, được đặt trên nhiều tỉnh khắp cả nước.

Với số lượng 10 cán bộ giảng dạy, các thầy cô giáo trong tổ Văn học nước ngoài phải hết sức cố gắng, để hoàn thành khối lượng đào tạo khổng lồ đủ các hệ trong và ngoài trường hiện nay.

Mặc dù khối lượng công việc quá lớn, nhưng không vì thế mà chất lượng giờ giảng trên lớp bị coi nhẹ. Đã có nhiều giờ giảng của các thầy cô trong tổ Văn học nước ngoài không những tạo được hứng thú học tập và nghiên cứu của sinh viên khoa Ngữ văn mà còn để lại những ấn tượng sâu sắc trong lòng sinh viên. Tổ văn học nước ngoài luôn nhận được số lượng sinh viên đông đảo đề nghị các thầy cô trong tổ hướng dẫn làm bài tập nghiên cứu khoa học và luận văn tốt nghiệp.

Đào tạo sau đại học cũng là một nhiệm vụ quan trọng của các thầy cô giáo trong tổ Văn học nước ngoài. Bộ môn đã đào tạo được hơn 500 thạc sĩ, 50 tiến sĩ văn học nước ngoài cho trường ta và các trường đại học, cao đẳng trong cả nước. Các thầy cô giáo được phân công giảng dạy cao học đã chuẩn bị đầy đủ các chuyên đề khoa học, gồm 3 chuyên đề cơ sở, 4 chuyên đề chung cho phần Văn học Nước ngoài, 12 chuyên đề cho ba phân ngành văn học châu Á, văn học Âu-Mỹ và văn học Nga – Đông Âu.

Hiện nay, hướng dẫn NCS, tổ có 6 thầy cô: GS.TS Lê Huy Bắc, PGS.TS. Đỗ Hải Phong, PGS.TS. Lê Nguyên Cẩn, PGS.TS. Hà Thị Hoà, PGS.TS. Nguyễn Thị Mai Chanh và TS. Nguyễn Thị Mai Liên. Ngoài ra còn 2 GS, 3 PGS đã nghỉ hưu vẫn nhiệt tâm đào tạo thế hệ trẻ: GS. Nguyễn Hải Hà, GS Phùng Văn Tửu, PGS. TS Đặng Anh Đào, PGS. Lưu Đức Trung, PGS.TS. Trần Lê Bảo.

Về hướng dẫn thạc sĩ, ngoài các giáo sư, phó giáo sư kể trên, các tiến sĩ còn lại của tổ, gồm TS. Nguyễn Linh Chi, TS. Thành Đức Hồng Hà, TS. Nguyễn Thị Diệu Linh, TS. Trần Thị Thu Hương đều tích cực tham gia hướng dẫn và thu được nhiều kết quả tốt.

Quá trình đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ cũng được Bộ môn tuân thủ nghiêm túc, để đảm bảo định hướng và nâng cao chất lượng của luận văn và luận án. Những buổi bảo vệ đề tài luận văn và luận án trước tổ Bộ môn là việc làm thường xuyên trong tiến trình đào tạo sau đại học. Những góp ý nghiêm túc thẳng thắn và xác đáng của các chuyên gia trong Bộ môn về đề tài, hết sức bổ ích chẳng những cho người thực hiện đề tài, người hướng dẫn mà còn cho cả những người nghe, nhất là cán bộ trẻ.

2. Công tác nghiên cứu khoa học

Nghiên cứu khoa học và đào tạo là hai nhiệm vụ quan trọng, có tác động tương hỗ đối với việc nâng cao trình độ và nghiêp vụ chuyên môn một cán bộ giảng dạy ở bậc đại học. Muốn giảng dạy tốt thì phải nghiên cứu khoa học, ngược lại nghiên cứu khoa học tiếp cận được nhiều thông tin mới, kiến thức mới, phương pháp mới chính là để phục vụ giảng dạy tốt hơn. Lâu nay, với cán bộ giảng dạy văn học nước ngoài mỗi người đều phải tự trang bị cho mình một ngoại ngữ thích hợp để có thể sử dụng nghiên cứu nền văn học mà mình được phân công giảng dạy. Đây là nhu cầu và cũng là thực tiễn nghiêm ngặt ở tổ Văn học nước ngoài.

Hàng loạt cải tiến giảng dạy và nghiên cứu khoa học đã được tiến hành tại Bộ môn trong mấy chục năm qua.

Những năm 60 thế kỉ trước:

– Xêmine hoá một số bài giảng và thực hành sân khấu hoá một số trích đoạn tác phẩm văn học nước ngoài: kịch Đậu Nga oan, Tây sương ký, AQ chính truyện, Lôi Vũ, Romeo và Juliet, Những linh hồn chết, Eugenie Grandet… đã tạo ra sự say mê hứng thú của nhiều thế hệ sinh viên khoa Văn.

– Giảng dạy tác phẩm tự sự theo lối tiếp cận tác phẩm văn học hoàn chỉnh.

– Đứng vững trên lập trường dân tộc, làm chủ kho tàng văn học thế giới.

Những năm 70 thế kỉ trước:

– Tìm hiểu lý luận về chủ nghĩa hiện thực trong văn học thế giới. Tổ chức hội thảo toàn quốc.

– Giảng dạy theo phương pháp chương trình hoá và cá thể hoá. Hướng dẫn sinh viên làm bài tập nghiên cứu.

Những năm 80 thế kỉ trước:

Bộ môn nêu ra phương châm: chống xã hội học dung tục, chống chủ nghĩa hình thức, giúp người học khám phá và rung động trước các giá trị thẩm mĩ của tác phẩm văn học thế giới.

Phương châm này đã được toàn thể cán bộ trong Bộ môn nhất trí hưởng ứng vận dụng hết sức hiệu quả trong công tác nghiên cứu khoa học và nâng cao chất lượng bài giảng. Phương châm này cũng chỉ đạo việc biên soạn sách giáo khoa dạy văn PTTH, biên soạn giáo trình đại học và viết các công trình nghiên cứu. Phương châm này cũng chỉ đạo việc lựa chọn đề tài luận văn thạc sĩ và luận án tiến sĩ.

Những năm 90 thế kỉ trước tới nay:

Phương châm chống xã hội học dung tục… được toàn thể cán bộ trong tổ tuân thủ kiên trì giữ gìn hơn 20 năm nay. Tuy nhiên cũng còn nhiều trường phái, phương pháp tiếp cận khác cũng có hiệu quả trong cách tiếp cận tác phẩm văn học nước ngoài được các thầy cô giáo trong tổ khai thác vận dụng như: thi pháp học, nghiên cứu văn học so sánh, giải mã văn học từ mã văn hoá, hậu hiện đại… Một loạt hội thảo khoa học có tầm cỡ quốc gia được giảng viên trong Bộ môn đứng ra tổ chức: Hội thảo về Balzac, Hemingway, Hugo, Lỗ Tấn, Kawabata, Gogol... Đặc biệt một số hội thảo khoa học có sự tham gia của người nước ngoài. Hội thảo khoa học về Chekhov trong nhà trường PTTH và ĐH ở Việt Nam có sự tham gia của đại diện sứ quán Nga tại Việt Nam (12–2004), có tập kỷ yếu hội thảo. Hội thảo khoa học 400 năm Don Quixote có sự kết hợp và tài trợ của Đại sứ quán Tây Ban Nha, Viện Cervantes và Bộ môn Văn học nước ngoài (4–2005). Đại sứ Tây Ban Nha đã in tập kỷ yếu hội thảo chọn lọc bằng hai thứ tiếng Việt Nam và Tây Ban Nha. Tháng 4–2006, giảng viên trong Bộ môn lại tổ chức thành công Hội thảo khoa học quốc gia về Văn học kỳ ảo với trên 70 báo cáo được gửi về từ các trường đại học, các vụ viện trong cả nước. Tạp chí Nghiên cứu Văn học đã chọn đăng tải một chùm bài về văn học kì ảo số 8, 2006.

Quá trình đứng ra tổ chức các hội thảo chẳng những thúc đẩy phong trào nghiên cứu khoa học của toàn bộ thành viên trong Bộ môn, mỗi người đều có báo cáo khoa học trong các cuộc hội thảo, mà còn tập hợp mọi người thành một khối đoàn kết nhất trí, thống nhất trong hành động để tạo hiệu quả công tác tốt nhất. Thêm nữa mỗi lần hội thảo cũng là dịp để các giáo viên trẻ có dịp làm quen, dần làm chủ được cách thức tổ chức các cuộc hội thảo khác ngày một tốt hơn..

Có thể nói tổ chức được nhiều cuộc hội thảo khoa học có tầm cỡ quốc gia, thường xuyên, qua từng năm là một thành tích rất đáng được biểu giương của toàn thể giảng viên trong Bộ môn Văn học nước ngoài. Đây cũng là thế mạnh của Bộ môn. Bộ môn trở thành địa chỉ có uy tín, đáng tin cậy về nghiên cứu khoa học trong cả nước.

Hướng dẫn sinh viên nghiên cứu khoa học cũng là một thành tích nổi bật của Bộ môn văn học nước ngoài. Phong trào sinh viên nghiên cứu khoa học chỉ mới được rộ lên khoảng 10 năm nay ở các trường đại học và cao đẳng. Bộ môn văn học nước ngoài là một trong những bộ môn có số sinh viên đăng ký làm báo cáo khoa học đông nhất, thường là trên 40 báo cáo khoa học. Chỉ riêng số lượng đông đảo sinh viên tham gia đăng ký làm báo cáo khoa học với các thầy cô trong Bộ môn cũng nói lên được hiệu quả giảng dạy của các thầy cô ở trên lớp. Chính các thầy cô trong Bộ môn đã đem lại niềm say mê cho sinh viên khi tiếp xúc với văn học nước ngoài, và cũng chính họ nâng đỡ những ước mơ nghiên cứu của sinh viên thành hiện thực. Nhiều báo cáo có chất lượng tốt, được lựa chọn báo cáo ở khoa và trường. Bộ môn văn học nước ngoài 6 năm liền hướng dẫn sinh viên nghiên cứu khoa học đạt 6 giải thưởng Sinh Viên nghiên cứu khoa học của Bộ GD&ĐT (Gọi tắt là VIFOTEC), từ giải nhất đến giải khuyến khích. Cả 6 đề tài này đều nghiên cứu về văn học Trung Quốc do PGS.TS Trần Lê Bảo hướng dẫn. Năm 2014, PGS.TS. Lê Nguyên Cẩn hướng dẫn sinh viên đạt giải thưởng Sinh Viên nghiên cứu khoa học của Bộ GD&ĐT.

Các giáo sư của Bộ môn có thâm niên công tác đều đã giữ vai trò chủ chốt trong việc biên soạn các bộ giáo trình đại học về văn học Trung Quốc, văn học Ấn Độ, Nhật Bản, Đông Nam Á, văn học phương Tây, văn học Âu-Mỹ, văn học Mỹ, văn học Nga, bộ sách giáo khoa về văn học nước ngoài cho học sinh và giáo viên trường PTTH. Đồng thời các giáo sư cũng là tác giả các chuyên luận có chất lượng tốt về văn học nước ngoài.

Đội ngũ các phó giáo sư, tiến sĩ, thạc sĩ cũng kế tục truyền thống lớp các giáo sư đi trước, nhiều giáo trình mới, cập nhật cũng ra đời, nhiều chuyên luận cũng lần lượt xuất hiện với số lượng và chất lượng cao, hàng trăm bài báo được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành và đa ngành ở trung ương và địa phương. Nhiều báo cáo khoa học tham gia hội thảo quốc tế và trong nước.

Đến nay, toàn tổ đã cho in trên 500 đầu sách, trên 700 bài báo, trên 20 giáo trình đại học và sau đại học đạt chất lượng tốt. Thiết thực để giàng dạy đại học theo chương trình tín chỉ.

Tổ văn học nước ngoài cũng tiên phong trong việc in bài báo trên tạp chí nước ngoài, tiêu biểu: GS.TS Lê Huy Bắc (04 bài), PGS.TS Lê Nguyên Cẩn (01 bài), PGS.TS Đỗ Hải Phong (01 bài).

III. HOẠT ĐỘNG NGOÀI TRƯỜNG

Nghiên cứu và giảng dạy văn học nước ngoài, đặc biệt gắn bó với các nền văn học cũng như ngôn ngữ của những nước cần nghiên cứu. Vì vậy đã có nhiều cán bộ giảng dạy được đào tạo từ nước ngoài về tham gia công tác của Bộ môn đã phát huy đựợc thế mạnh nghiên cứu khoa học: GS.TS Nguyễn Đức Nam, Nguyễn Ngọc Ảnh, PGS. TSKH Đỗ Xuân Hà, Dương Quỳnh Như, PGS.TS Đỗ Hải Phong, ThS Thành Đức Hồng Hà… từ Liên Xô về. PGS Trần Xuân Đề, PGS Lưu Đức Trung, GS Lương Duy Thứ… từ Trung Quốc về, PGS. TS Lê Nguyên Cẩn từ Rumani về. Một số cán bộ được đi thực tập hoặc trao đổi khoa học ở nước ngoài: GS Phùng Văn Tửu, PGS.TS Đặng Anh Đào trao đổi khoa học và thực tập ở Pháp, PGS Lưu Đức Trung thực tập ở Trung Quốc, GS Nguyễn Hải Hà thực tập ở Nga, thầy Nguyễn Hoàng Tuyên thực tập ở Italia, GS.TS Lê Huy Bắc ở Mỹ, Đức; PGS.TS Lê Nguyên Cẩn thực tập ở Rumani, PGS.TS Trần Lê Bảo trao đổi học thuật ở Trung Quốc,…

Một số thầy cô được mời giảng dạy ở nước ngoài: GS. Nguyễn Hải Hà được mời dạy tại ĐHSP Lào, các GS. Nguyễn Hải Hà, GS. Phùng Văn Tửu, PGS. Lưu Đức Trung, PGS.TS. Đặng Anh Đào đi thỉnh giảng ở trường ĐHSP Phnompênh Campuchia.

Các giáo sư và nhiều giảng viên của Bộ môn được mời dạy tại nhiều cơ sở đại học trong cả nước: ĐHKHXH & NV–ĐHQGHN, Đại học Văn hoá, Đại học Tuyên giáo, ĐHKHXH & NV và ĐHSP – ĐHQG.TPHCM, ĐHSPHN2, ĐHSP Huế, ĐHSP Việt Bắc và một số trường cao đẳng khác…

Nhiều thầy cô giáo trong tổ được mời tham gia viết giáo trình văn học nước ngoài hệ đào tạo từ xa, sách cao đẳng, sách giáo khoa phục vụ cho chương trình cải cách giáo dục. Nhiều cán bộ giảng dạy bộ môn được mời đi bồi dưỡng nghiệp vụ cho giáo viên trường PTTH và giảng dạy các lớp đại học tại chức, chuyên tu, từ xa tại nhiều tỉnh thành trong cả nước.

Nhiều giáo sư, phó giáo sư được mời tham gia Hội đồng chấm luận án tiến sĩ, đánh giá đề tài các cấp. Nhiều thầy cô giáo tham gia các tổ chức ngoài khoa và trường: GS Phùng Văn Tửu, PGS.TS Đặng Anh Đào tham gia Hội nhà văn, PGS.TS Trần Lê Bảo là giám đốc Trung tâm nghiên cứu Trung Quốc ĐHSPHN, là thành viên Hội đồng khoa học Viện nghiên cứu Trung Quốc, Hội đồng biên tập Tạp chí nghiên cứu Trung Quốc thuộc Viện KHXHVN.

Bộ môn văn học nước ngoài đã nhiều lần được công nhận là tổ lao động xã hội chủ nghĩa, năm học 2005–2006 Bộ môn được công nhận là Tổ lao động xuất sắc, với 4 thành viên được đề nghị danh hiệu giáo viên giỏi.

Bộ môn văn học nước ngoài là một đơn vị vững mạnh về cả đào tạo và nghiên cứu với những giáo sư là chuyên gia đầu ngành và đội ngũ kế cận có năng lực vững vàng. Bộ môn cũng xây dựng được truyền thống đoàn kết, dân chủ, hợp tác, luôn năng động sáng tạo hoàn thành mọi nhiệm vụ chính trị được giao. Bộ môn đã đóng góp nhiều thành tích chung cho khoa Ngữ văn và Trường ĐHSPHN.

Cho tới nay Bộ môn Văn học nước ngoài của khoa Văn trường ĐHSPHN vẫn là một trung tâm khoa học đáng tin cậy, nơi đào tạo nhiều cán bộ giảng dạy cho các trường ĐHSP và CĐSP trong cả nước.

 

 

Đang cập nhật

Bộ môn Phương pháp dạy học Ngữ văn là 1 trong 7 bộ môn của khoa Ngữ văn, Trường ĐHSPHN. Bộ môn có nhiệm vụ giảng dạy, đào tạo về phương pháp dạy học Ngữ văn cho các hệ đại học, cao học, nghiên cứu sinh tại Khoa Ngữ văn trường ĐHSPHN, đồng thời nghiên cứu khoa học về lĩnh vực chuyên môn nói trên.

Số lượng giảng viên hiện nay của bộ môn là 9 người, bao gồm:

-         PGS.TS Nguyễn Viết Chữ

-         TS Trần Hoài Phương

-         TS Trịnh Thị Lan

-         TS Phan Hồng Xuân

-         PGS.TS Phạm Thị Thu Hương

-         TS Đoàn Thị Thanh Huyền

-         TS Lê Thị Minh Nguyệt

-         TS Nguyễn Ái Học

-    Nguyễn Thế Hưng

I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ

Có thể nói khoa Ngữ văn trường ĐHSP Hà Nội được khai sinh từ lúc nào thì chỉ sau đó ít lâu đã có sự xuất hiện của tổ Phương pháp giảng dạy. Thật khó khi đi tìm biên chế và tài năng cho bộ môn khoa học này. Nó là một “chi” của “bộ mã” sư phạm, nên một nhà giáo dục, một nhà tâm lí học uyên thâm giàu kinh nghiệm và có sở trường về văn chương hay tiếng Việt là đều có thể trở thành một nhà phương pháp dạy học nhưng còn rất xa mới trở thành nhà phương pháp bộ môn theo đúng nghĩa.

Các thầy Nguyễn Hữu Tảo, Nguyễn Lân, Vũ Đình Liên, Nguyễn Tài Cẩn, Hoàng Tuệ… thế hệ những nhà giáo đi đầu là những gương mặt như thế. Thủy chung với nghề văn, trong đó có cả sáng tạo và tái tạo văn chương (dạy văn) làm say mê bao thế hệ học hành, có lẽ gương mặt nhà thơ – nhà giáo Vũ Đình Liên là đậm nét hơn cả. Tổ Phương pháp dạy học Ngữ văn hiện nay của Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội là sự hợp nhất của hai tổ bộ môn: Tổ Phương pháp dạy học văn (vốn là tổ Giáo học pháp và tổ Phương pháp dạy tiếng (vốn là tổ Tiếng Việt – Làm văn cũ). Vào những năm 1996- 1997, đứng trước tình hình mới của cải cách giáo dục và sự thay đổi trong tinh thần đào tạo, Ban Giám hiệu Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và lãnh đạo khoa Ngữ văn quyết định sáp nhập hai tổ bộ môn trên thành tổ Phương pháp dạy học Ngữ văn.

Tổ Giáo học pháp văn vào những năm 1963 – 1964 là lớp thế hệ của các nhà phương pháp : thầy Hoàng Lân, thầy Bùi Hoàng Phổ… Sau giải phóng, thầy Hoàng Lân vào sống ở miền Nam và vẫn bám chắc sự nghiệp giáo dục. Còn người quản lí bộ môn lâu năm nhất – thầy Bùi Hoàng Phổ (từ năm 1962 cho đến khoảng 1988) – là người có khả năng tổ chức, chú ý đến việc phát triển đội ngũ. Từ năm 1967 đến năm 1975, nhiều thầy cô trong tổ bộ môn đã được điều chuyển, đảm nhiệm các vị trí, công việc khác nhau.Thầy Quách Hy Dong nhận trách nhiệm Phó chủ nhiệm khoa Văn. Nhờ thầy, những năm sơ tán chống Mỹ cứu nước, cuộc sống gian nan của cán bộ giảng dạy và sinh viên có được sự ổn định. Một thời gian sau, thầy Phan Sĩ Tấn được cử làm Chủ nhiệm khoa Giáo dục chính trị. Giải phóng miền Nam, thầy Trần Thanh Đạm từ Tổ phó lên đảm nhiệm cương vị Phó chủ nhiệm khoa, về công tác ở Viện khoa học giáo dục rồi được cử vào tiếp quản và làm hiệu trưởng trường ĐHSP Thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian này, bộ môn được bổ sung thêm một số cán bộ có năng lực gắn bó với sự nghiệp giáo dục phổ thông như thầy Phan Trọng Luận, thầy Nguyễn Tiến Hùng, thầy Nguyễn Thanh Hùng, thầy Nguyễn Thanh Bình, cô Nguyễn Thị Thanh Hương, thầy Trần Phú, thầy Hoàng Dư, thầy Trần Thanh Xuân, thầy Nguyễn Bình Sơn, thầy Nguyễn Viết Chữ…và tới những năm 2000 là lớp kế cận, cô Phạm Thị Thu Hương, thầy Nguyễn Ái Học, cô Đoàn Thị Thanh Huyền. Bộ môn Giáo học pháp văn cũng là nơi tập hợp được những người có khả năng toàn diện, nhiều người trưởng thành và giữ những trọng trách cao hơn. Từ chủ nhiệm khoa tại chức Đại học Huế như thầy Nguyễn Tiến Hùng, đến Hiệu trưởng Trung học sư phạm Thái Bình Nguyễn Thái Bình, từ chánh phó Chủ nhiệm khoa lớn ở các trường đại học như thầy Quách Hy Dong, thầy Phan Sĩ Tấn đến Hiệu trưởng trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh như thầy Trần Thanh Đạm. Đến nay các thầy đều đã nghỉ hưu và đóng góp cho xã hội theo cách riêng của mình. Tổ Phương pháp dạy học tiếng được hình thành trên cơ sở của nhóm Tiếng Việt – Làm văn (hay nhóm Tiếng Việt thực hành thuộc tổ Ngôn ngữ). Đây là nhóm do GS Lê Trí Viễn kiên trì đề nghị thành lập. Nhiệm vụ của nhóm này là luyện chữ, chính tả, dùng từ, đặt câu, cấu tạo đoạn văn đến việc xây dựng bố cục và viết một bài văn hoàn chỉnh cho sinh viên năm thứ nhất của Khoa Ngữ văn. Sau đó, tới những năm đầu 80 của thế kỉ XX, sau Hội nghị toàn quốc về “Dạy tiếng Việt trong nhà trường”, được sự đồng ý của Bộ Giáo dục, mà cụ thể là sự ủng hộ của Thứ trưởng - GS. Nguyễn Cảnh Toàn, Viện trưởng Viện Ngôn ngữ học –GS. Hoàng Tuệ, Chủ nhiệm khoa Ngữ văn ĐHSP Hà Nội – GS. Đỗ Hữu Châu, tổ Phương pháp dạy học tiếng Việt đầu tiên trong cả nước đã ra đời.

Nhắc đến quá trình hình thành bộ môn Phương pháp dạy tiếng cần ghi nhận công lao của một lớp thế hệ các thầy cô gắn bó với tổ ngay từ những ngày đầu tiên như: thầy Nguyễn Xuân Khoa, thầy Nguyễn Đình Cao, thầy Nguyễn Quang Ninh C, thầy Nguyễn Tiến Mâu, thầy Nguyễn Quang Ninh B, cô Nguyễn Thị Ngọc Diệu, cô Tạ Thanh Kim, cô Ngô Thị Thắng,… Sau đó, tổ được bổ sung lực lượng với các thầy cô như: thầy Lê A, cô Phan Hồng Hạnh từ Vinh ra, cô Phan Thị Hồng Xuân, cô Trịnh Thị Lan, cô Lê Thị Minh Nguyệt, cô Trần Hoài Phương. Nhiều thầy từng đảm nhiệm công tác quản lí như GS.TS. Lê A làm Tổng biên tập NXB ĐHSP Hà Nội, PGS.TS. Nguyễn Quang Ninh làm Phó chủ nhiệm khoa Ngữ văn ĐHSP Hà Nội… Sự sáp nhập hai tổ thành tổ Phương pháp dạy học Ngữ văn thực sự tạo ra thế mạnh về chuyên môn và các mặt công tác khác. Việc vận dụng nghiên cứu khoa học liên ngành, việc nghiên cứu về sự tích hợp trong dạy học văn và dạy học tiếng, việc đổi mới phương pháp giảng dạy ở trường đại học, chuyển hướng mạnh mẽ vào trau dồi lí thuyết cơ bản, hiện đại, rèn luyện khả năng tự học, kĩ năng giảng dạy cho sinh viên cũng như việc nghiên cứu thận trọng giáo trình phương pháp dạy học thế giới là bước chuẩn bị khoa học để xây dựng bộ giáo trình và sách tham khảo cập nhật, hiện đại, hướng đến nhiệm vụ đào tạo đội ngũ giáo viên Ngữ văn đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục nước nhà.

II. THẾ MẠNH TRONG CÔNG TÁC NGHIÊN CỨU VÀ ĐÀO TẠO CỦA BỘ MÔN

Là bộ môn khoa học nghiệp vụ gắn bó với sinh viên các hệ đào tạo và giáo viên các cấp nên điều kiện phấn đấu chuyên môn của bộ môn rất thuận lợi và giữ được sức sống của nó. Vị trí khoa học của bộ môn này là rất quan trọng đối với việc đào tạo giáo viên trong cả nước.

Cùng với sự trưởng thành của từng cán bộ giảng viên, các giáo sư, tiến sĩ đầu ngành như GS.NGND Phan Trọng Luận, GS.TS. Nguyễn Thanh Hùng, GS.TS Lê A, PGS.TS. Nguyễn Quang Ninh, PGS. TS. Nguyễn Thị Thanh Hương, GVC Trần Phú, GVC Nguyễn Bình Sơn, GVC Trần Thanh Xuân,… cho tới lớp kế cận như PGS.TS. Nguyễn Viết Chữ, PGS.TS. Phạm Thị Thu Hương, TS. Phan Thị Hồng Xuân, TS. Trịnh Thị Lan, TS. Lê Thị Minh Nguyệt,…tổ bộ môn tiếp tục trở thành một đơn vị có uy tín trong đào tạo về phương pháp dạy học. Nhiều công trình khoa học thường xuyên được xuất bản, trong đó có các công trình tiêu biểu như: Phân tích tác phẩm văn học, Giáo trình phương pháp dạy học văn (chủ biên), Xã hội –Văn học – Nhà trường, Đổi mới giờ học TPVC, Văn học – Giáo dục thế kỉ XXI, Văn chương – Bạn đọc sáng tạo, Phương pháp luận giải mã tác phẩm văn học ,… của GS. Phan Trọng Luận; Giáo trình Phương pháp dạy học văn, Hiểu văn – Dạy văn, Đọc và tiếp nhận văn chương, Kĩ năng đọc hiểu văn,… của GS.TS. Nguyễn Thanh Hùng; Phương pháp tiếp nhận tác phẩm văn học ở nhà trường phổ thông, Định hướng hoạt động tiếp nhận sáng tạo tác phẩm văn chương cho học sinh THPT,… của PGS.TS. Nguyễn Thị Thanh Hương; Phương pháp dạy học TPVC trong nhà trường của PGS.TS Nguyễn Viết Chữ; Phương pháp tư duy hệ thống trong dạy học văn của TS.Nguyễn Ái Học; Đọc hiểu và chiến thuật đọc hiểu văn bản trong nhà trường phổ thông của PGS.TS. Phạm Thị Thu Hương; Giáo trình Làm văn của GVC Nguyễn Đình Cao và GS.TS. Lê A; Giáo trình Phương pháp dạy học tiếng Việt của GS.TS Lê A, PGS.TS.Nguyễn Quang Ninh và GS.TS. Bùi Minh Toán; Giáo trình Tiếng Việt thực hành A của PGS.TS. Nguyễn Quang Ninh, Tiếng Việt thực hành B của GS.TS. Lê A,… và nhiều công trình khác gắn với việc dạy Văn, Tiếng Việt ở phổ thông.

Ngoài ra cũng cần phải khẳng định công sức của tổ Phương pháp dạy học Ngữ văn đối với việc biên soạn sách giáo khoa phổ thông. Có thầy là Tổng chủ biên sách THPT như GS. Phan Trọng Luận, có thầy là Chủ biên từng phần như GS.TS. Lê A (chủ biên phần Làm văn sách THPT), có thầy là tác giả như PGS.TS. Nguyễn Quang Ninh, có thầy là Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu như GS.TS.Nguyễn Thanh Hùng,… Công sức của các thầy cô trong tổ Phương pháp dạy học Ngữ văn đối với sự nghiệp giáo dục là điều hoàn toàn có thể khẳng định được. Với lực lượng gồm 8 cán bộ, trong đó có 2 PGS, 4 TS, 2 cán bộ chuẩn bị bảo vệ luận án TS, ngoài ra tổ được hỗ trợ về chuyên môn của các thầy cô đã nghỉ hưu, gồm 2 GS, 2 PGS, bộ môn Phương pháp dạy học Ngữ văn đảm nhiệm tốt công tác đào tạo các hệ từ đại học đến sau đại học, đặc biệt là hoạt động đào tạo NCS. Hàng năm tổ đảm nhiệm hướng dẫn từ 4 đến 8 NCS chuyên ngành Lí luận và Phương pháp dạy học bộ môn, đảm bảo tiến độ, chất lượng luận án, là cơ sở đào tạo bậc tiến sĩ uy tín trên cả nước.

Hoạt động nghiên cứu khoa học của tổ bộ môn trong những năm qua đã chuyển mình mạnh mẽ theo hướng vừa tiếp tục nghiên cứu lí luận cơ bản về phương pháp dạy học Ngữ văn, vừa nhấn mạnh đến định hướng ứng dụng, gắn bó và đáp ứng yêu cầu thực tiễn đổi mới dạy học Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực học sinh. Bộ môn đã có những chuẩn bị tích cực trong nghiên cứu về chương trình, sách giáo khoa, tài liệu học tập, phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá để đáp ứng yêu cầu xây dựng chương trình giáo dục mới và biên soạn tài liệu học tập giai đoạn sau 2015. Kết quả nghiên cứu khoa học của bộ môn đã được vận dụng vào thực tiễn đào tạo và đào tạo lại giáo viên Ngữ văn, góp phần quan trọng vào những thay đổi tích cực trong dạy học bộ môn ở nhà trường phổ thông hiện nay.

III. NHỮNG THÀNH TÍCH NỔI BẬT CỦA BỘ MÔN

 Tính đến nay bộ môn đã cùng với khoa đào tạo và bồi dưỡng hàng nghìn giáo viên các cấp cho ngành giáo dục, đã đào tạo khoảng trên dưới 1000 thạc sĩ và gần 100 nghiên cứu sinh. Hiện nay số thạc sĩ, tiến sĩ theo học ngành phương pháp dạy học Ngữ văn khá đông. Về giáo trình cũ và mới đã có 4 bộ hoàn thành. Hiện nay tổ bộ môn đang biên soạn giáo trình mới để cập nhật kiến thức hiện đại. Số đầu sách của bộ môn tính đến nay khoảng hơn 50 cuốn, không kể các tài liệu khác của địa phương.

Trong các hội thảo quan trọng, những vấn đề khoa học nổi bật trong ngành văn và ngành giáo dục đều có tiếng nói của các cán bộ bộ môn. Tổ PPDH Tiếng Việt đã tổ chức được hội nghị khoa học tầm cỡ quốc gia, hội nghị “Dạy học tiếng Việt trong nhà trường” tiến hành trong 3 ngày 23, 24, 25 tháng 12 năm 1982 (với sự góp mặt của Thứ trưởng Bộ Giáo dục – GS. Nguyễn Cảnh Toàn, viện trưởng Viện Ngôn ngữ học – GS. Hoàng Tuệ, cục phó Cục Đào tạo bồi dưỡng Đỗ Bình Trị,…) Ngoài ra còn nhiều hội thảo khác với các chủ đề như: Đổi mới phương phương pháp dạy học Ngữ văn hoặc Đổi mới phương pháp dạy học ở đại học, Hội thảo quốc gia Về dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông Việt Nam, Hội thảo Đổi mới nghiên cứu và giảng dạy Ngữ văn trong nhà trường sư phạm,... cán bộ tổ Phương pháp đều đóng vai trò nòng cốt, tham gia tích cực, bài viết có chất lượng. Công tác nghiên cứu và tự nâng cao trình độ của tổ bộ môn đã đi vào chiều sâu, hình thành từng hướng nghiên cứu khoa học khác nhau và đã có những khác biệt về phong cách nghiên cứu khoa học văn học và khoa học dạy học văn, khoa học về ngôn ngữ và khoa học dạy học tiếng, làm phong phú đa dạng diện mạo khoa học phương pháp và hỗ trợ bổ sung tốt cho nhau. Bộ môn Phương pháp dạy học Ngữ văn đảm bảo một khối lượng lớn về việc soạn chương trình, viết giáo trình, giảng dạy hệ chính quy và các hệ đào tạo ngoài trường như hệ từ xa, hệ chính quy tại địa phương, hệ tại chức, chuyên tu,…

Tổ bộ môn cũng có đóng góp quan trọng vào các mặt công tác của khoa và trường như công tác Đảng, công đoàn, chủ nhiệm, thực tập sư phạm, hội đồng khoa học, công nghệ giáo dục và các công tác ngoài trường.

IV. THÀNH TÍCH VÀ KHEN THƯỞNG

-Huy chương kháng chiến chống Pháp: thầy Nguyễn Đình Cao;

-Huân chương kháng chiến chống Mĩ hạng nhất: thầy Nguyễn Đình Cao, thầy Nguyễn Xuân Khoa;

-Huân chương Ăngkor của Campuchia: thầy Phan Trọng Luận;

- Huân, Huy chương hữu nghị và bằng khen của Chính phủ Lào: thầy Nguyễn Quang Ninh, thầy Nguyễn Đình Cao, cô Nguyễn Thị Ngọc Diệu;

-Nhà giáo Ưu tú: thầy Phan Trọng Luận, thầy Nguyễn Thanh Hùng;

-Nhà giáo Nhân dân: thầy Phan Trọng Luận

-Giải thưởng khoa học Nhà nước: thầy Phan Trọng Luận

-Bằng khen của Thủ tướng chính phủ: thầy Nguyễn Thanh Hùng

- Nhiều Huân, Huy chương kháng chiến chống Mĩ cứu nước, nhiều Huy hiệu vì sự nghiệp giáo dục, nhiều Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo và các loại bằng khen, giấy khen khác… 

BỘ MÔN NGÔN NGỮ

I. ĐỘI NGŨ CÁN BỘ TRONG TỔ BỘ MÔN

So với nhiều tổ bộ môn khác trong Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội thì tổ bộ môn Tiếng Việt (Ngôn ngữ) ra đời muộn hơn một vài năm. Năm 1959, tổ chính thức được thành lập. Trưởng bộ môn đầu tiên là GS.Hoàng Tuệ với các cán bộ xây dựng tổ là các nhà giáo Lê Cận, Lê Anh Hiền, Đỗ Hữu Châu, Đinh Trọng Lạc, Trần Hoán, Lê Quang Thung.

Cho đến nay, tổng số cán bộ đã và đang công tác trong tổ bộ môn là 50 người. Ngoài 7 nhà giáo kể trên, danh sách các cán bộ đã và đang công tác trong tổ như sau (theo thứ tự ABC): Lê A, Lê Thị Lan Anh, Diệp Quang Ban, Võ Bình, Lê Văn Biên, Nguyễn Khoa Diệu Biên, Nguyễn Ngọc Diệu, Nguyễn Văn Đàm, Nguyễn Thị Hai, Lê Thị Hồng Hạnh, Hoàng Hiêng, Đinh Xuân Hiền, Đặng Thị Thu Hiền, Lương Thị Hiền, Nguyễn Thái Hòa, Nguyễn Thị Ngân Hoa, Đoàn Công Huynh, Đỗ Việt Hùng, Vũ Thị Thanh Huyền, Đinh Thu Hương, Tạ Thanh Kim, Nguyễn Xuân Khoa, Đặng Thị Lanh, Nguyễn Thị Lương, Bùi Tuyết Mai, Nguyễn Tiến Mâu, Đái Xuân Ninh, Nguyễn Quang Ninh B, Nguyễn Quang Ninh C, Vũ Tố Nga, Nguyễn Hồng Ngân, Trần Thị Hồng Phấn, Trần Kim Phượng, Phạm Quang Tản, Đặng Thị Hảo Tâm, Tạ Thành Tấn, Ngô Thị Thắng, Đinh Văn Thiện, Hoàng Văn Thung, Phan Thị Minh Thúy, Nguyễn Thu Thủy, Nguyễn Thị Thìn, Lê Hữu Tỉnh, Bùi Minh Toán, Lê Văn Trúc, Nguyễn Thị Tân Trường, Phan Duy Trường, Cù Đình Tú.  

Trong số các cán bộ đã công tác ở tổ bộ môn, một số đã chuyển sang xây dựng bộ môn Phương pháp dạy học ngữ văn trong Khoa: Lê A, Nguyễn Ngọc Diệu, Nguyễn Tiến Mâu, Nguyễn Quang Ninh B, Nguyễn Quang Ninh C; một số nhà giáo đã chuyển công tác đi cơ quan khác: Nguyễn Thị Hai, Đoàn Công Huynh, Tạ Thanh Kim, Lê Hữu Tỉnh, Cù Đình Tú, Lê Hiền,Lê Văn Trực, Nguyễn Khoa Diệu Biên, Hòang Tuệ, Phan Quang Tân, Nguyễn Thị Hồng Phấn, Nguyễn Thị Tân Trường, Phan Duy Trường, Ngô Thị Thắng, Nguyễn Thị Minh Thúy,Trần Hoàn,…; hoặc chuyển vị trí làm việc từ cấp khoa lên cấp trường: Đặng Thị Lanh, Đỗ Việt Hùng (phó hiệu trưởng – trường ĐHSP Hà Nội), Nguyễn Ngân Hoa (Phó phòng khoa học và công nghệ); một số nhà giáo đã nghỉ hưu: Diệp Quang Ban, Đặng Thị Lanh, Nguyễn Văn Đàm, Nguyễn Thái Hòa, Đinh Thu Hương, Đinh Văn Thiện, Bùi Minh Toán,  Lê Văn Biên, Hoàng Văn Thung…; có cả một số nhà giáo đã qua đời: Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thị Thìn, Đinh Trọng Lạc, Hòang Tuệ, Hoàng Hiêng, Võ Bình, Đinh Xuân Hiền….. Đặc biệt, trong khoảng từ năm 2003 - 2013, có 5 cán bộ tạo nguồn từ lớp sinh viên tài năng, do thành tích học tập xuất sắc, đã được bộ môn tiếp nhận làm cán bộ giảng dạy: Lê Thị Hồng Hạnh, Vũ Thị Thanh Huyền, Đặng Thị Thu Hiền, Lương Thị Hiền, Tạ Thành Tấn.

 Trong khoảng thời gian từ năm 1956 – 1975, thầy Hoàng Tuệ, thầy Lê Cận lần lượt  đảm trách vị trí trưởng bộ môn, thầy Lê Hiền, thầy Trần Hoàn dảm trách vị trí phó trưởng bộ môn. Từ năm 1976 – 1990, GS.TS Đỗ Hữu Châu đảm trách vị trí trưởng bộ môn ( kiêm chủ nhiệm khoa Ngữ văn từ năm 1981 – 1990), nhà giáo Hoàng Văn Thung đảm trách vị trí phó trưởng bộ môn. Từ năm 1990 - 1991 PGS.TS Đặng Thị Lanh đảm trách vị trí trưởng bộ môn (khoảng thời gian này thầy Đỗ Hữu Châu làm thực tập sinh tại Pháp). Sau đó, PGS.TS Đặng Thị Lanh chuyển từ cấp khoa lên cấp trường đảm trách nhiệm vụ hiệu phó trường ĐHSP Hà Nội. Từ năm 1991 - 2000, GS.TS Đỗ Hữu Châu đảm trách vị trí trưởng môn, nhà giáo Đinh Văn Thiện đảm trách vị trí phó trưởng bộ môn. Từ năm 2001 đến năm 2010 GS.TS Bùi Minh Toán đảm trách vị trí trưởng môn, nhà giáo Đinh Văn Thiện, sau đó  PGS.TS Nguyễn Thị Lương  đảm trách vị trí phó trưởng môn (2007). Từ năm 2010 – 2015, PGS.TS Nguyễn Thị Lương đảm trách vị trí trưởng môn, PGS.TS Đặng Thị Hảo Tâm  đảm trách vị trí phó trưởng bộ môn. Từ 2015 đến nay, PGS.TS Đặng Thị Hảo Tâm đảm trách vị trí trưởng môn, PGS.TS Trần Kim Phượng đảm trách vị trí phó trưởng bộ môn.  

Đến nay số cán bộ hiện làm việc theo biên chế trong tổ bộ môn (cán bộ đương nhiệm) gồm 10 người. Trong đó có 4 Phó giáo sư, 5 Tiến sĩ, 1 Thạc sĩ. Tuy số lượng cán bộ không nhiều nhưng các thầy cô bộ môn ngôn ngữ với độ tuổi trung bình 40, đều rất hăng hái, tích cực, năng động, không ngừng phấn đấu nâng cao trình độ chuyên môn, đáp ứng tốt yêu cầu giảng dạy và nghiên cứu khoa học.

Năm 2016, cố GS.TS, Nhà giáo ưu tú Đỗ Hữu Châu, nguyên Trưởng khoa Ngữ văn, nguyên Trưởng bộ môn Ngôn ngữ, vinh dự được Nhà nước trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học và Công nghệ cho cụm công trình NGỮ DỤNG HỌC.

II. NHIỆM VỤ ĐÀO TẠO

1. Nhiệm vụ của tổ bộ môn trong công tác đào tạo trình độ đại học 

Giảng viên bộ môn Ngôn ngữ đã góp sức cùng giảng viên  khoa Ngữ văn đào tạo hàng chục ngàn giáo viên Ngữ văn cho các trường phổ thông từ hệ 4 năm đến hệ 5 năm, từ lớp đại trà đến lớp cử nhân sư phạm ngữ văn chất lượng cao, cả hệ chính quy và hệ tại chức. Trung bình một năm học, giảng viên tổ bộ môn giảng dạy 8 học phần (gồm 22 đơn vị học trình) trong chương trình đào tạo chính quy tập trung: Tiếng Việt thực hành, Dẫn luận ngôn ngữ học, Ngữ âm tiếng Việt, Ngữ dụng học (Hoạt động giao tiếp), Từ vựng – Ngữ nghĩa tiếng Việt, Ngữ pháp tiếng Việt, Văn bản tiếng Việt, Phong cách học tiếng Việt. Ngoài ra, còn một số chuyên đề tự chọn được thực hiện tùy theo từng năm học: Chuyên đề Tiếng Việt trong nhà trường, chuyên đề Ngôn ngữ văn học, chuyên đề Ngôn ngữ học xã hội. Bình quân số giờ giảng của cán bộ bộ môn Ngôn ngữ (tính cả dạy chuyên đề và hướng dẫn ) ở các trình độ cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ là hơn 590 tiết/1 năm; số tiết nghiên cứu khoa học theo quy đổi hiện hành (năm 2016) bình quân mỗi cán bộ là 426 tiết/1 năm. Bộ môn cũng đã giảng dạy các học phần tương ứng cho các hệ đào tạo ngoài trường (tại chức, từ xa, văn bằng hai) được đặt trên nhiều tỉnh khắp cả nước.

Bên cạnh nhiệm vụ giảng dạy cho hệ đào tạo cử nhân sư phạm ngữ văn trong và ngoài trường, giảng viên bộ môn Ngôn ngữ còn giảng dạy học phần Tiếng Việt thực hành (4 đvht) và Dẫn luận ngôn ngữ học (3 đvht) cho sinh viên các khoa Ngoại ngữ,  sinh viên khoa Quản lí giáo dục trong trường. Giảng viên tổ bộ môn là lực lượng cốt cán của khoa trong việc dạy tiếng Việt cho sinh viên nước ngoài: sinh viên Trung Quốc, Hàn Quốc và Lào.

Bộ môn Ngôn ngữ là bộ môn luôn nhận được số lượng đông đảo sinh viên đề nghị hướng dẫn báo cáo khoa học, hướng dẫn khóa luận tốt nghiệp. Trung bình mỗi năm học, bộ môn hướng dẫn từ 12 đến 14 khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Ngôn ngữ.

2. Nhiệm vụ đào tạo sau đại học (cao học và nghiên cứu sinh)

Đào tạo sau đại học là một nhiệm vụ quan trọng của các thầy cô giáo trong Bộ môn Ngôn ngữ. Với sự cộng tác của các nhà giáo đã nghỉ hưu, Bộ môn đã tham gia đào tạo 26 khóa cao học (tính đến năm 2016). Hàng năm, Bộ môn đảm nhiệm công tác đào tạo chuyên ngành Ngôn ngữ học với các hoạt động chính như sau:

 - Giảng dạy 14 chuyên đề thuộc các chuyên đề cơ bản, cơ sở, chuyên ngành và chuyên đề tự chọn cho học viên cao học.

- Hướng dẫn học viên cao học thực hiện luận văn khoa học.

- Hướng dẫn nghiên cứu sinh thực hiện các chuyên đề tiến sĩ và luận án tiến sĩ.

- Tham gia cộng tác cùng các cơ quan khác (Viện Ngôn ngữ học, các trường đại học khác) trong công tác đào tạo đại học và sau đại học.

Đến nay đã có những kết quả cụ thể như sau:

- Đào tạo hơn 500 Thạc sĩ chuyên ngành Ngôn ngữ học.

- Tự đào tạo và đào tạo hơn 50 tiến sĩ chuyên ngành Lí luận ngôn ngữ và Ngôn ngữ Việt Nam.

Quá trình đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ được Bộ môn tuân thủ nghiêm túc. Để đảm bảo định hướng và nâng cao chất lượng luận văn và luận án, Bộ môn tổ chức thông qua đề tài, đề cương luận văn, tổ chức xeminar bản thảo luận án cấp bộ môn đối với luận án. Hoạt động này được tiến hành thường xuyên trong tiến trình đào tạo sau đại học.

III. CÔNG TÁC HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC

Tổ bộ môn đã có bề dày về đào tạo và hoạt động khoa học, nhưng đến nay số cán bộ đương nhiệm, vì nhiều nguyên nhân khác nhau, chỉ còn một lực lượng mỏng so với yêu cầu và nhiệm vụ đào tạo. Tuy thế, lực lượng đương nhiệm trong tổ đã cố gắng nhiều trong cả hoạt động đào tạo và nghiên cứu. Cán bộ đương nhiệm đã biên soạn và xuất bản 9 giáo trình cho các hệ đào tạo. Các cán bộ đương nhiệm trong tổ tham gia biên soạn 10 tập sách giáo khoa phổ thông về Tiếng Việt (ở Tiểu học) và Ngữ văn (ở THCS và THPT). Số bài báo khoa học do các cán bộ đương nhiệm trong tổ công bố trên tạp chí khoa học hoặc trong các Hội thảo khoa học chỉ riêng năm 2015  - 2016 là 28 bài.

Trong khoảng 10 năm trở lại đây, Bộ môn duy trì việc công bố kết quả nghiên cứu khoa học hàng năm trên tạp chí chuyên ngành (1 số tạp chí / năm). Tháng 10 năm 2013, Bộ môn tổ chức Hội thảo khoa học toàn quốc “Ngôn ngữ và văn học” với trên 100 báo cáo được gửi về từ các trường đại học, các vụ viện trong cả nước. Việc xuất bản Kỉ yếu Hội thảo ngay trước thềm Hội thảo (Kỉ yếu có dung lượng 986 trang) cùng với sự thành công của Hội thảo đã thể hiện sự nỗ lực của các thành viên Bộ môn. Tháng 1 năm 2016, tưởng nhớ 10 năm ngày mất của GS.TS Đỗ Hữu Châu – Nhà khoa học có công đầu trong việc đưa lí thuyết Ngữ dụng học thế giới vào Việt Nam, Bộ môn Ngôn ngữ tổ chức  Hội thảo « Đỗ Hữu Châu – Những vấn đề về ngôn ngữ - văn hóa – văn học ». Đây là một Hội thảo có tiếng vang lớn trên cả về phương diện khoa học cũng như phương diện nhân văn. Hội thảo đã quy tụ được các nhà khoa học ngôn ngữ, khoa học văn học, đồng nghiệp của cố GS Đỗ Hữu Châu, học trò của GS từ mọi miền đất nước. Cũng ngay trước thềm Hội thảo, 70 báo cáo có hàm lượng khoa học cao đã được in ấn, xuất bản trong ấn phẩm « Đỗ Hữu Châu – Hành trình và Tiếp nối » (Sách có dung lượng 735 trang). Sau Hội thảo, Quỹ GIẢI THƯỞNG ĐỖ HỮU CHÂU ra đời dành cho đối tượng sinh viên Ngữ văn đạt thành tích xuất sắc toàn diện, với số tiền ban đầu là 150.000.000 (một trăm năm mươi triệu đồng), trong đó 50.000.000 đ do gia đình cố GS tài trợ, 100.000.000 đ được tài trợ từ Hội thảo. Quá trình tổ chức hội thảo chẳng những thúc đẩy phong trào nghiên cứu khoa học của toàn bộ thành viên trong Bộ môn, mỗi người đều có báo cáo khoa học trong các cuộc hội thảo, mà còn tập hợp mọi người thành một khối đoàn kết nhất trí, thống nhất trong hành động để tạo hiệu quả công tác tốt nhất.

Hầu hết các thành viên tổ bộ môn đã và đang chủ trì đề tài nghiên cứu khoa học từ cấp Cơ sở đến cấp Bộ, đến đề tài thuộc quỹ Nafosted.

IV. MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG CHÍNH TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC CỦA TỔ BỘ MÔN HIỆN NAY VÀ TRONG THỜI GIAN TỚI

1. Xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cả về số lượng và cả về chất lượng chuyên môn. Lực lượng hiện nay của tổ so với trước đây và so với yêu cầu đào tạo, NCKH là còn mỏng. Từ khâu tạo nguồn, đến khâu tự bồi dưỡng và phát triển đội ngũ, nâng cao trình độ ngoại ngữ, trình độ chuyên ngành, trình độ nghiệp vụ đều đòi hỏi từng cá nhân và toàn bộ tổ bộ môn những cố gắng và quyết tâm lớn, để sớm có một đội ngũ đáp ứng tốt nhiệm vụ.

2. Tiếp tục phát huy những điểm mạnh về đào tạo và nghiên cứu khoa học đã có từ trước, như việc đi sâu vào nghiên cứu và giảng dạy ngôn ngữ (tiếng Việt) gắn liền với hoạt động hành chức của ngôn ngữ, thể hiện qua các chuyên ngành hẹp như ngữ dụng học, ngữ pháp chức năng, phong cách học, ngôn ngữ và văn học, ngôn ngữ học xã hội, ngôn ngữ học tri nhận.

3. Tiếp tục phát huy vai trò của một bộ môn chuyên ngành ở Trường Đại học Sư phạm đối với những hoạt động nghiệp vụ trong ngành giáo dục: tham gia biên soạn chương trình, sách giáo khoa, sách giáo viên, tài liệu dạy học, tham gia bồi dưỡng giáo viên, đổi mới nội dung và phương pháp dạy học trong môn Tiếng Việt.

4. Tăng cường hợp tác với các lực lượng ngoài tổ bộ môn để tiếp tục giữ vững và nâng cao hiệu quả đào tạo sau đại học, bồi dưỡng lực lượng cán bộ và nghiên cứu khoa học.

Nhân kỉ niệm 65 năm thành lập Khoa, nhìn lại chặng đường đã đi qua, có thể thấy tổ bộ môn Ngôn ngữ đã đóng góp rất xứng đáng vào hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học trong Khoa. Hiện nay lực lượng của Bộ môn tuy có mỏng hơn, nhưng nhiệm vụ không kém nặng nề (có mặt còn đòi hỏi nhiều hơn so với mười năm trước đây, như nhiệm vụ đào tạo sau đại học). Nhiệm vụ đó đòi hỏi Bộ môn phải vươn lên để có thể tiếp tục truyền thống của một tổ bộ môn nòng cốt trong Khoa.