Tiện ích


Hình ảnh
Thống kê truy cập

QUÁ TRÌNH THÀNH LẬP:

Ở nước ta, dưới thời Pháp thuộc, năm 1919, Trường cao đẳng Sư phạm Đông Dương đã được thành lập tại Hà Nội chuyên đào tạo giáo viên trong đó có ngành văn khoa cho bậc trung học. Giảng viên phần lớn là người Pháp, tuy thế cũng có người để lại ấn tượng tốt đẹp đối với sinh viên Việt Nam như các giáo sư  Houlié, Milon. Trong số giảng viên người Việt được các thế hệ học trò về sau thường nhắc đến với niềm kính yêu, có cụ phó bảng Bùi Kỷ, một nhà nghiên cứu cổ văn giàu uy tín. Thời gian đào tạo của trường là 3 năm. Số lượng tuyển sinh hàng năm rất ít, chỉ vài chục người. Các thế hệ sinh viên cao đẳng sư phạm bấy giờ nói chung đã để lại một ấn tượng khá đẹp trong lịch sử nền giáo dục đại học Việt Nam. Nhiều sinh viên đã hăng hái tham gia phong trào đòi ân xá cho cụ Phan Bội Châu, để tang cụ Phan Châu Trinh vốn là những phong trào ái quốc, có ảnh hưởng sâu rộng bấy giờ. Về sau, trong số họ, không ít người đã thành nhà cách mạng, hoặc vừa là nha cách mạng vừa là nhà văn hoá có tên tuổi lớn như: Dương Quảng Hàm, Lê Thước, Hoàng Ngọc Phách, Đặng Thai Mai, Tôn Quang Phiệt, Cao Xuân Huy, Nguyễn Hữu Tảo, Nguyễn Khánh Toàn, Phạm Thiều, Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Lân… Trần Trọng Kim, tác giả của các bộ sách như Nho giáo, Việt Nam sử lược… cũng xuất thân từ trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương…
    Sau ngày cách mạng tháng Tám thành công (1945), năm 1949, ngay trong hoàn cảnh kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Bộ Giáo dục nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã cho mở lớp đại học Văn khoa đầu tiên. Trong tình trạng không có trường sở, học sinh phải học theo lối “tầm sư học đạo”, tìm đến nhà các thầy mà học. Học với học giả Cao Xuân Huy thì vào Diễn Châu, Nghệ An. Học với các học giả Đặng Thai Mai… thì ra Thanh Hoá. Sinh viên chỉ có 7 người, được gọi vui là “thất hiền”, trong đó có cụ Nguyễn  Đức Nam, Nguyễn Tài Cẩn, Tôn Gia Ngân, Vũ Xuân Ba, Ngô Đanh, Đặng Thị Hạnh và Hoàng Như Hoa. Sau khi mãn khoá, hầu hết đã trở thành những giáo viên Văn cấp 3 đầu tiên tham gia nền giáo dục cách mạng. Một số nhà đã thành danh: Nguyễn Đức Nam (giáo sư), Nguyễn Tài Cẩn (giáo sư, giải thưởng Hồ Chí Minh…).
    Nói đến lịch sử 60 năm (1951 - 2010) của khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, thiết tưởng nhắc đến trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương và lớp đại học Văn khoa như trên, cũng là điều thoả đáng.
    Khoa Ngữ văn ra đời cùng với sự ra đời của Trường Đại học Sư phạm, tính từ 1951 theo chủ trương của Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Trải qua 50 năm, lịch sử của khoa là lịch sử tiến lên phía trước. Có thể chia lịch sử đó thành ba chặng lớn và mỗi chặng lớn bao gồm nhiều chặng nhỏ:
    - Chặng lớn thứ nhất: từ 1951 đến 1956
    - Chặng lớn thứ hai: từ 1956 đến 1975
    - Chặng lớn thứ ba: từ 1975 đến nay.
(Xin xem tiếp mục V: Quá trình phát triển và thành tựu chủ yếu).

CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ

1. Đào tạo cử nhân sư phạm ngữ văn: hệ chuẩn và hệ tài năng, cung cấp nguồn giáo viên ngữ văn chất lượng cao cho ngành giáo dục toàn quốc. Đào tạo cử nhân sư phạm ngữ văn: hệ ngoài chính quy, liên thông, văn bằng 2…
2. Đào tạo cử nhân khoa học ngành Văn học và Ngôn ngữ.
3. Đào tạo sau đại học, gồm hệ Thạc sĩ và hệ Tiến sĩ. Hệ Thạc sĩ gồm các chuyên ngành: Văn học dân gian; Văn học Việt nam; Văn học nước ngoài; Lí luận ngôn ngữ; Lí luận văn học; Ngữ văn Hán Nôm; Phương pháp dạy học Ngữ văn. Hệ Tiến sĩ gồm các chuyên ngành: Văn học dân gian; Văn học Việt Nam trung đại; Văn học Việt Nam hiện đại; Ngôn ngữ; Lí thuyết và lịch sử văn học; Văn học Nga; Văn học Trung Quốc; Ngữ văn Hán Nôm; Phương pháp dạy học Tiếng Việt; Phương pháp dạy học Văn.
4. Tổ chức biên soạn và thẩm định các chương trình, giáo trình, giáo khoa ngữ văn ở tất cả các cấp bậc học.
5. Tổ chức nghiên cứu và hợp tác nghiên cứu ở các lĩnh vực thuộc khoa học xã hội và nhân văn.
6. Hợp tác quốc tế trong đào tạo và nghiên cứu, tư vấn, trao đổi chuyên gia…

1. Chủ nhiệm khoa
Đặng Thai Mai               (1951-1958)
Nguyễn Lương Ngọc     (1958- 1963)
Lê Trí Viễn               (1963- 1978)
Đỗ Bình Trị               (1978- 1982)
Đỗ Hữu Châu                 (1982- 1990)
Trần Đình Sử                  (1990- 1995)
Trần Đăng Xuyền           (1995- 2004)
Lã Nhâm Thìn                (2004 - 2009)
Đỗ Việt Hùng           (2009 – 2012)

Đỗ Hải Phong           (2012 – nay)

2. Bí thư Đảng uỷ
Nguyễn Lương Ngọc        (1955- 1959)
Hoàng Dung              (1958- 1962)
Nguyễn Nghĩa Dân              (1962- 1967)
Trần Văn Thận              (1972- 1975)
Đoàn Trọng Huy              (1975- 1977)
Đỗ Bình Trị                  (1977- 1978)
Thành Thế Thái Bình         (1978- 1981)
Nguyễn Nghĩa Trọng        (1981- 1983)
Nguyễn Xuân Hậu             (1983- 1990)
Trịnh Thu Tiết              (1990- 1995)
Phạm Đăng Dư              (1995- 1999)
Trần Đăng Xuyền              (1999- 2004)
Phùng Ngọc Kiếm             (2004 - 2008)
Lã Nhâm Thìn          (2008 – 2012)

Đỗ Hải Phong          (2012 – nay)

3. Phó Chủ nhiệm khoa
Lê Trí Viễn
Hoàng Tuệ
Quách Hy Dong
Nguyễn Văn Hạnh
Trần Thanh Đạm
Nguyễn Đức Nam
Trần Xuân Đề
Nguyễn Nghĩa Dân
Trần Văn Thận
Đoàn Trọng Huy
Nguyễn Nghĩa Trọng
Nguyễn Khắc Phi    Trần Đức Ngôn
La Khắc Hoà
Trần Đăng Xuyền
Nguyễn Quang Ninh C
Đinh Văn Thiện
Lã Nhâm Thìn
Phạm Thu Yến
Phùng Ngọc Kiếm
Đỗ Việt Hùng
Đỗ Hải Phong
Trần Hạnh mai
Vũ Thanh

Trần Văn Toàn

4. Chủ tịch công đoàn
Trần Văn Mười
Quách Hy Dong
Hồ Văn Nho
Nguyễn Ngọc ảnh
Đào Nguyên Tụ
Đinh Việt Anh
Nguyễn Hải Hà
Đỗ Bình Trị
Thành Thế Thái Bình
Đoàn Trọng Huy
Hoàng Dung    Phùng Văn Tửu
Đặng Thị Lanh
Tôn Gia Các
Phạm Đăng Dư
Đinh Văn Thiện
Phạm Thu Yến
Trần Mạnh Tiến
Đinh Thị Khang
Trần Hạnh Mai
Nguyễn Thị Ngân Hoa
   
5. Bí thư Đoàn thanh niên

Thành Thế Thái Bình
Nguyễn Nghĩa Trọng
Phạm Đăng Dư
Phùng Ngọc Kiếm
Đinh Văn Thiện
Trần Đăng Xuyền
Tạ Thanh Kim
Hà Văn Minh Phạm Tuấn Anh
Trịnh Thị Lan
Nguyễn Thị Hồng Minh
Hà Thu Nga
Nguyễn Việt Hùng
Nguyễn Thanh Tùng
Đinh Minh Hằng

1. Danh sách Giáo sư, Phó Giáo sư (từ 2005 đến nay)

STT    Họ và tên    Học hàm    Học vị   
1    Bùi Văn Ba    GS. 1991    TSKH. 1991   
2    Nguyễn Thanh Hùng    GS. 1996    TS 1979   
3    Trần Đình Sử    GS. 1996    TS. 1980   
4    Trần Đăng Xuyền    GS 2003    TS 1990   
5    Lê A    GS 2003    TS 1990   
5    Bùi Minh Toán    GS 2003    TS 1981   
6    La Khắc Hoà    PGS. 1991    TS. 1982   
7    Nguyễn Văn Long    PGS. 1991       
8    Nguyễn Đăng Na    PGS. 1996    TS. 1980   
9    Nguyễn Quang Ninh C    PGS. 1996    TS. 1993   
10    Vũ Anh Tuấn    PGS. 1996    TS 1991   
11    Lã Nhâm Thìn    PGS. 2002    TS 1993   
12    Đinh Thị Khang    PGS. 2005    TS 1992   
13    Phạm Thu Yến    PGS. 2002    TS 1992   
14    Trần Lê Bảo    PGS. 2002    TS 1993   
15    Lê Nguyên Cẩn    PGS. 2002    TS 1993   
16    Lê Trường Phát    PGS. 2002    TS 1997   
17    Lê Lưu Oanh    PGS. 2002    TS. 1995   
18    Phùng Ngọc Kiếm    PGS. 2003    TS 1996   
19    Trần Mạnh Tiến    PGS. 2005    TS 1997   
20    Hà Thị Hoà    PGS. 2005    TS 1997   
21    Lê Huy Bắc    PGS. 2004    TS 1998   
22    Đỗ Việt Hùng    PGS. 2004    TS 1992   
23    Nguyễn Thị Bình    PGS. 2004    TS 1996   
24    Nguyễn Thị Lương    PGS. 2006    TS 1996   
25    Nguyễn Viết Chữ    PGS. 2009    TS 1995   
26    Đỗ Hải Phong    PGS. 2006    TS. 1996   
27    Vũ Thanh    PGS. 2002    TS. 1992   
2. Danh sách cán bộ đã công tác ở khoa

TT   Họ và tên    Chuyên môn    Trình độ    Cơ quan chuyển, hoặc cơ quan đang làm việc, chức vụ và giải thưởng cao nhất   
1.        Lê A    PPGD    PGS.TS    Tổng biên tập NXB  ĐHSP   
2.        Đào Duy Anh    Sử học    Học giả    Giải thưởng Hồ Chí Minh   
3.        Đinh Việt Anh    VHNN    ThS    Đã mất khi đang là cán bộ khoa   
4.        Lê Tuấn Anh    VHNN    ThS    Đã mất khi đang là cán bộ khoa   
5.        Ngô Xuân Anh    VHNN    CN    ĐH Sư phạm Vinh   
6.        Phạm Hải Anh    VHNN    TS    Hãng phim Thiên Ngân   
7.        Nguyễn Ngọc Ảnh    VHNN    CN       
8.        Nguyễn Thị Tố Ảnh    VHNN    CN    ĐH Sư phạm Hà Nội   
9.        Phạm Bài     Tổ chức           
10.        Lê Đăng Bảng    LLVH    CN    Đi B- hi sinh năm 1968   
11.        Nguyễn Khoa Diệu Biên    Ngôn ngữ    CN    ĐH Sư phạm TP Hồ Chí Minh   
12.        Nguyễn Duy Bình    VHNN    PGS.TS    Hiệu trưởng trường ĐHSP Hà Nội II- Xuân Hoà   
13.        Thành Thế Thái Bình    LLVH    PGS    Hiệu trưởng trường ĐHSP Hà Nội II- Xuân Hoà   
14.        Võ Bình    Ngôn ngữ    CN       
15.        Nguyễn Thanh Bình    PPGD    CN    Hiệu trưởng trường CĐSP Thái Bình   
16.        Trần Văn Bính    LLVH    GS.TS    Chủ nhiệm khoa Văn hoá XHCN, Học viện CTQG   
17.        Nguyễn Phan Cảnh    Ngôn ngữ    TS    ĐHTH Hà Nội   
18.        Đỗ Cát    Quản lí        ĐH SP Hà Nội   
19.        Lê Cận    Ngôn ngữ    PGS. TS    Viện khoa học giáo dục   
20.        Phan Minh Châu    VHNN    CN    ĐH Sư phạm TP Hồ Chí Minh   
21.        Hà Thúc Chỉ    VHVN    CN       
22.        Phạm Chu    PPGD    CN    TP Hồ Chí Minh   
23.        Hoàng Văn Chúc    Tổ chức    CN    Khoa Giáo dục chính trị- ĐHSP HN   
24.        Nguyễn Ngọc Côn    VHDG    CN    ĐHSP Ngoại ngữ   
25.        Phan Côn    VHVN    CN    Phó văn phòng Ban tư tưởng vân hoá TU   
26.        Nguyễn Cửu Cúc    VHNN    CN    Chủ nhiệm khoa Anh văn- trường ĐH SP Ngoại ngữ   
27.        Nguyễn Nghĩa Dân    VHDG    CN    Phó chánh Văn phòng Bộ giáo dục và đào tạo, Nhà giáo ưu tú   
28.        Đoàn Thị Din    Y sĩ           
29.        Nguyễn Thị Dinh    Tạp vụ        Trường ĐHSP Hà Nội   
30.        Quách Hy Dong    PPGD    CN    Hiệu trưởng trường CĐSP Nhạc hoạ TƯ   
31.        Trần Thu Dung    VHNN    CN    Pháp   
32.        Nguyễn Đức Dũng    VHVN    CN    Vụ trưởng Vụ VHVN- Ban TT-VH TƯ   
33.        Trần Thanh Đạm    PPGD    PGS    ĐHSP TP Hồ Chí Minh- ĐH KHXH&NV TP. HCM   
34.        Phan Cự Đệ    VHVN    GS-VS    ĐH Tổng hợp Hà Nội   
35.        Trần Xuân Đề    VH Trung Quốc    PGS    ĐHSP TP Hồ Chí Minh   
36.        Cao Huy Đỉnh    VH ấn Độ, VHDG    PGS    Viện Văn học, Giải thưởng Hồ Chí Minh   
37.        Hà Minh Đức    LLVH    GS    Viện trưởng Viện VH   
38.        Trần Tiến Đức    VHVN    CN    ĐHSP II Xuân Hoà   
39.        Nguyễn Văn Đức    Thư viện           
40.        Phạm Hoàng Gia    Lịch sử tư tưởng, Tâm lí học    PGS    Viện khoa học giáo dục   
41.        Nguyễn Thị Gấm    Quản lí        ĐH Sư phạm Hà Nội   
42.        Hà Huy Giáp    Chính trị        Thứ trưởng Bộ Giáo dục, Uỷ viên TƯ Đảng   
43.        Trần Văn Giàu    Triết học, sử học    GS    Giải thưởng Hồ Chí Minh   
44.        Đỗ Xuân Hà    Văn học Nga    PGS. TSKH    Viện khoa học giáo dục, Khoa Báo chí- ĐH KHXH&NV- ĐHQG Hà Nội   
45.        Nguyễn Thị Hai    Ngôn ngữ    TS    ĐHSP TP Hồ Chí Minh   
46.        Phạm Thị Hảo    Hán Nôm    CN    ĐHSP TP Hồ Chí Minh   
47.        Cao Xuân Hạo    Ngôn ngữ    PGS    Viện KHXH TP Hồ Chí Minh   
48.        Lê Bá Hán    LLVH    PGS    ĐHSP Vinh   
49.        Nguyễn Mĩ Hoà    LLVH    CN    CĐSP TP Hồ Chí Minh
50.        Nguyễn Văn Hoàn    VHVN    PGS    Viện phó Viện Văn học   
51.        Lâm Ngọc Hoàn    Văn học Nga           
52.        Phan Kế Hoành    VHDG    CN    Vụ Phổ thông- Bộ Giáo dục   
53.        Nguyễn Văn Hạnh    LLVH    GS. TS    Thứ trưởng Bộ GD-ĐT, P.ban VH-TTTW   
54.        Trần Hoàn    Ngôn ngữ    CN    Chủ nhiệm khoa Văn ĐHSP TP HCM   
55.        Nguyễn Thị Hoàng    VHNN    TS    Pháp   
56.        Phạm Văn Hoá    VHVN    CN    Bí thư huyện uỷ Quỳnh Phụ- Thái Bình   
57.        Đào Thanh Hoá    VHVN    CN    Báo Công an
58.        Hồ Sĩ Hiệp    Văn học Trung Quốc    PGS.TS    P.CN Khoa Ngữ văn ĐHSP TP Hồ Chí  Minh   
59.        Lê Hiền    Ngôn ngữ    CN    Nxb Giáo dục   
60.        Đinh Xuân Hiền    Ngôn ngữ    CN    ĐHSP TP Hồ Chí Minh   
61.        Phan Thu Hiền    VHNN    PGS. TS    ĐH TH TP Hồ Chí Minh   
62.        Hoàng Ngọc Hiến    VHNN    TS    Trường viết văn Nguyễn Du   
63.        Hoàng Hiêng    Ngôn ngữ    CN    Trường Bổ túc văn hoá- Bộ Giáo dục   
64.        Đỗ Đức Hiểu    VH NN    GS    ĐH Tổng hợp Hà Nội   
65.        Trần Văn Hối    VHVN    CN    ĐHSP Vinh, ĐHSP Huế   
66.        Nguyễn Tiến Hùng    PPGD    CN    ĐHSP Huế   
67.        Nguyễn Khắc Hùng    Thư viện           
68.        Cao Xuân Huy    VHVN    Giáo sư    Giải thưởng Hồ Chí Minh   
69.        Đoàn Công Huynh    Ngôn ngữ    Thạc sĩ    Báo Hoa Học Trò; TBT báo Tiền Phong   
70.        Nguyễn Lan Hương    Văn học Nga    CN       
71.        Lê Quang Hưng    VHVN    PGS. TS    Chủ nhiệm khoa Việt Nam học   
72.        Nguyễn Viết Hưng    Giáo vụ    CN    CĐSP Nhạc hoạ Trung ương   
73.        Đinh Gia Khánh    VHVN    GS    ĐH Tổng hợp Hà Nội   
74.        Nguyễn Xuân Khoa    Ngôn ngữ    CN    Khoa Mẫu giáo- ĐHSP Hà Nội   
75.        Tạ Thanh Kim    Ngôn ngữ    CN    Công ti TNHH Mĩ Kim   
76.        Nguyễn Kim    Tài vụ        ĐHSP TP Hồ Chí Minh   
77.        Đinh Trọng Lạc    Ngôn ngữ    PGS. TS    Đã mất khi đang là cán bộ khoa   
78.        Thái Thu Lan    VHNN    TS    ĐHTH Tp Hồ Chí Minh   
79.        Hoàng Lân    PPGD    CN    CĐSP TP Hồ Chí Minh   
80.        Vũ Đình Liên    PPGD    CN, thi sĩ    Chủ nhiệm khoa Pháp - ĐH Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội   
81.        Phạm Thuý Liên    Y sĩ        ĐHSP TP Hồ Chí Minh   
82.        Trần Thị Liên    Quản lí           
83.        Phạm Huy Liệu    Hán Nôm    CN    Phòng Giáo dục Kim Sơn- Ninh Bình   
84.        Phạm Mai Loan    Y tế        ĐHSP Hà Nội   
85.        Nguyễn Quốc Luân    VHVN    TS    Nxb Giáo dục, Nxb Văn học   
86.        Phạm Luận    VHVN    CN    ĐH SP Việt Bắc   
87.        Kiều Lục    Tiếng Trung    CN    ĐHSP Ngoại ngữ   
88.        Bùi Tuyết Mai    Ngôn ngữ    TS    Báo Ba thứ tiếng   
89.        Đặng Thai Mai    VHVN    GS    Giải thưởng Hồ Chí Minh, nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục đầu tiên   
90.        Hoàng Như Mai    VHVN    GS    ĐHTH Hà Nội, ĐHTH TP Hồ Chí Minh   
91.        Đào Ngọc Miên    Quản trị           
92.        Bùi Công Minh    VHVN    CN    Giám đốc Sở GD&ĐT QN-ĐN   
93.        Nguyễn Tuyết Minh    Tiếng Nga    PGS    ĐHSP Ngoại ngữ   
94.        Trần Văn Mười    VHNN    CN    ĐHSP Cần Thơ   
95.        Lê Hoài Nam    VHVN    PGS    H.trưởng ĐHSP Vinh   
96.        Nguyễn Đức Nam    VHNN    GS    Nxb Giáo dục   
97.        Nguyễn Thị Nam    Tiếng Trung    CN    ĐHSP Ngoại ngữ Hà Nội   
98.        Nguyễn Thị Ngần    Tài vụ        ĐHSP Hà Nội   
99.        Trần Văn Sánh    Tổ chức    CN    Bộ Giáo dục và Đào tạo   
100.        Nguyễn Lương Ngọc    LLVH    GS    Hiệu trưởng trường ĐHSP Hà Nội   
101.        Phan Ngọc    Ngôn ngữ    PGS    Viện Đông Nam á   
102.        Vũ Thị Ngọc    VHNN    CN       
103.        Trần Đức Ngôn    VHDG    PGS. TS    P. Hiệu trưởng trường ĐHSP Hà Nội. Hiệu trưởng trường ĐH Văn hoá Hà Nội   
104.        Phùng Quí Nhâm    LLVH    PGS. TS    ĐHSP TP Hồ Chí Minh   
105.        Hoàng Nhân    VHNN    PGS    ĐHSP Tp Hồ Chí Minh   
106.        Hoàng Xuân Nhị    VHNN    Giáo sư    ĐH Tổng hợp, Chủ nhiệm khoa Văn   
107.        Hà Thị Nhị    Thư viện           
108.        Hồ Văn Nho    LLVH    CN    ĐHSP Tp Hồ Chí Minh   
109.        Nguyễn Thị Nhung    VHVN    CN    ĐHSP Tp Hồ Chí Minh   
110.        Dương Quỳnh Như    VHNN    GVC    Đức   
111.        Đái Xuân Ninh    Ngôn ngữ    Giáo sư       
112.        Nguyễn Tấn Phát    VHVN    PGS. TS    Thứ trưởng bộ Giáo dục và Đào tạo, Uỷ viên TƯ Đảng, Giám đốc ĐHQG Tp HCM   
113.        Trần Thị Hồng Phấn    Ngôn ngữ    CN    Cơ sở GD &ĐT Hà Tây   
114.        Nguyễn Khắc Phi    Văn học Trung Quốc    PGS    Phó Giám đốc Nxb Giáo dục   
115.        Nguyễn Kim Phong    LLVH    TS    Phó Tổng biên tập- Nxb Giáo dục   
116.        Tô Lưu Phương    VHVN    CN    Sống ở Mĩ   
117.        Lý Quảng    Quản lí        Việt Bắc   
118.        Nguyễn Văn Quĩ    Văn phòng           
119.        Vũ Viết Rậu    VHVN    CN    Đã mất khi đang là cán bộ khoa   
120.        Đỗ Thị Sợi    Y tế phục vụ        ĐHSP Hà Nội   
121.        Hoàng Thiếu Sơn    Văn học Trung Quốc    GS    ĐH SP Hà Nội, Nhà giáo nhân dân   
122.        Lê Văn Sơn    Hán Nôm    CN    ĐHSP TP Hồ Chí Minh   
123.        Trần Hữu Tá    VHNN    PGS    Chủ nhiệm khoa Văn, trường ĐHSP TP Hồ Chí Minh   
124.        Phạm Quang Tản     Ngôn ngữ    CN       

125.        Văn Tâm    VHVN    CN    THPT Nguyễn Trãi Hà NộiNhà giáo ưu tú   

126.        Phạm Sĩ Tấn    VHVN, PPGD    CN    Chủ nhiệm khoa Giáo dục Chính trị, ĐHSP Hà Nội   
127.        Lý Hữu Tấn    VHVN    CN       
128.        Nguyễn Hữu Tảo    PPGD        ĐHSP Hà Nội   
129.        Nguyễn Kim Thản    Ngôn ngữ    Giáo sư    Viện Ngôn ngữ   
130.        Trần Đức Thảo    Triết học    Giáo sư    Giải thưởng Hồ Chí Minh   
131.        Trần Duy Thanh    VHVN    CN    CĐSP Hà Nội   
132.        Đặng Quang Thanh    VHVN    CN       
133.        Phạm Văn Thanh    Tổ chức        Thái Bình   
134.        Nguyễn Thị Thìn    Ngôn ngữ    TS    Đã mất khi đang là cán bộ khoa   
135.        Lê Quang Trung    Ngôn ngữ    CN    ĐHSP Hà Nội   
136.        Đỗ Đức Tín    VHVN    TS    Bộ Giáo dục và Đào tạo   
137.        Lê Hữu Tỉnh    Ngôn ngữ    TS    ĐHSP Hà Nội II, TBT Nxb Giáo dục   
138.        Nguyễn  Tiệp    VHVN    CN    Đã mất khi đang là cán bộ khoa   
139.        Nguyễn Khánh Toàn    VHNN    GS.VS    Chủ nhiệm UBKHXH, Uỷ viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ giáo dục   
140.        Huỳnh Văn Trứ    Hán Nôm    CN    ĐHSP Qui Nhơn   
141.        Nguyễn Xuân Tự    VHVN    CN    ĐHSP Huế   
142.        Lương Duy Trung    VHNN    PGS    ĐHSP Tp Hồ Chí Minh   
143.        Lương Duy Thứ    VH Trung Quốc    GS    ĐHSP Tp Hồ Chí Minh   
144.        Ngô Thị Thắng    Ngôn ngữ    TS    CHLB Đức   
145.        Phạm Huy Thông    Sử học    GS.VS    Hiệu trưởng ĐHSP Hà Nội, Viện trưởng Viện Khảo cổ, Giải thưởng Hồ Chí Minh   
146.        Hoàng Tuệ    Ngôn ngữ    GS    Viện Ngôn ngữ   
147.        Đào Nguyên Tụ    VHVN    CN    ĐHSP Hà Nội II   
148.        Đỗ Bình Trị    VHDG    PGS    Bộ Giáo dục và đào tạo, Cục trưởng Cục ĐTBD   
149.        Trần Văn Thận    VHVN    CN    Hiệu phó ĐHSP Qui Nhơn   
150.        Nguyễn Văn The    Thư viện        ĐHSP Hà Nội   
151.        Bùi Đình Thể    VHVN    CN       
152.        Đỗ Văn Thêm    Tạp vụ        ĐHSP Hà Nội   
153.        Nguyễn Văn Thiệu    Hán Nôm    CN    CĐSP Nam Định   
154.        Đặng Xuân Thiều    Chính trị    GS    Nhà Cách mạng lão thành   
155.        Nguyễn Thịnh    Văn phòng           
156.        Nguyễn Thọ    Tổ chức        CĐSP Hà Bắc   
157.        Nguyễn Duy Thuý    Tổ chức           
158.        Phan Minh Thuý    Ngôn ngữ    ThS    ĐHSP Tp Hồ Chí Minh   
159.        Đặng Thái Thuyên    VHDG    ThS       
160.        Cao Xuân Thử    LLVH    CN    ĐHSP Việt Bắc   
161.        Lê Tố    VHVN    CN    ĐHSP Cần Thơ   
162.        Lê Ngọc Trà    LLVH    PGS. TSKH    ĐHSP TP Hồ Chí Minh   
163.        Hoàng Ngọc Tri    VHVN    TS    Phó Giám đốc Sở KH và CN Nam Định   
164.        Lê Văn Trúc    Ngôn ngữ           
165.        Phan Duy Trường    Ngôn ngữ    CN       
166.        Nguyễn Thị Tân Trường    Ngôn ngữ    CN    THPT Duy Tiên   
167.        Nguyễn Văn Tu    Ngôn ngữ    PGS    ĐHTH Hà Nội   
168.        Phạm Anh Tuấn    Hán Nôm    CN       
169.        Vũ Tuyên    Thư viện        Yên Bái   
170.        Nguyễn Mạnh Tường    VHNN    GS.TS    Tiến sĩ hai chuyên ngành: Luật khoa và Văn khoa   
171.        Trương Tửu    VHVN    Giáo sư       
172.        Hoàng Tường    Tổ chức    CN    ĐHSP Xuân Hoà   
173.        Hoàng Thị Văn    LLVH    CN    ĐHSP Hà Nội   
174.        Nguyễn Thái Vân    Tiếng Nga    CN    Bộ môn Ngoại ngữ ĐHSP Hà Nội   
175.        Vũ Huy Vĩ    Hán Nôm    ThS    ĐH Thuỷ Lợi   
176.        Lê Trí Viễn    VHVN    GS    ĐHSP TP Hồ Chí Minh, Nhà giáo nhân dân   
177.        Lâm Quang Vinh     LLVH    TS    ĐHSP TP Hồ Chí Minh   

3. Danh sách cán bộ, công nhân viên đã nghỉ hưu:
 
STT    Họ tên    Chuyên môn    Trình độ    Chức vụ đã đảm nhiệm tại khoa   
1.         Diệp Quang Ban    Ngôn ngữ    GS.TS    Chủ nhiệm bộ môn   
2.        Lê Thanh Bình    Hán Nôm    CN       
3.        Lê Biên    Ngôn ngữ    ThS       
4.        Vương Mộng Bưu    Hán Nôm    CN       
5.        Tôn Gia Các    VHVN    CN    Chủ tịch Công đoàn   
6.        Nguyễn Đình Cao    PPGD    CN    Chủ nhiệm bộ môn   
7.        Đỗ Hữu Châu    Ngôn ngữ    GS.TS    Chủ nhiệm khoa Chủ nhiệm bộ môn   
8.        Bùi Trương Chính    VHNN    PGS       
9.        Nguyễn Đình Chú    VHVN    GS    Chủ nhiệm bộ môn   
10.        Nguyễn Thị Ngọc Diệu    PPGD    CN       
11.        Hoàng Dung    VHVN    PGS    Chủ nhiệm bộ môn Bí thư Đảng uỷ; Chủ tịch CĐ khoa   
12.        Hoàng Dư    PPGD    CN    BCH CĐ khoa   
13.        Phạm Đăng Dư    LLVH    GVC    Chủ tịch CĐ; Bí thư Đảng ủy; Bí thư Đoàn TN   
14.        Đặng Anh Đào    VHNN    PGS.TS   Nguyễn Văn Đàm    Ngôn ngữ    CN       
15.        Nguyễn Thị Minh Đức    Văn phòng    CN       
16.        Nguyễn Hải Hà    VHNN    GS    Chủ nhiệm bộ môn   
17.        Phan Hồng Hạnh    PPGD    CN       
18.        Nguyễn Xuân Hậu    LLVH    ThS    Bí thư Đảng uỷ, Phó CN khoa   
19.        Nguyễn Thái Hoà    Ngôn ngữ    PGS.TS    P. Thư kí CĐ   
20.        Bùi Thanh Hùng    Hán Nôm    GVC    Chủ nhiệm bộ môn   
21.        Đoàn Trọng Huy    VHVN    PGS.TS    Phó CN khoa, Bí thư Đảng uỷ   
22.        Đinh Thu Hương    Ngôn ngữ    ThS       
23.        Nguyễn Thị Thanh Hương    PPGD    PGS.TS    Phó chủ nhiệm bộ môn   
24.        Nguyễn Hoành Khung    VHVN    PGS       
25.        Đặng Thị Lanh    Ngôn ngữ    PGS.TS    P. Hiệu trưởng ĐHSP HN; Trưởng bộ môn   
26.        Đặng Thanh Lê    VHVN    GS    Chủ nhiệm bộ môn   
27.        Trần Gia Linh    VHDG    CN    Chủ nhiệm bộ môn   
28.        Phan Trọng Luận    PPGD    GS    Chủ nhiệm bộ môn   
29.        Huỳnh Lý    VHVN    PGS    Phó chủ nhiệm bộ môn   
30.        Đoàn Thị Mai    Hán Nôm    CN       
31.        Nguyễn Đăng Mạnh    VHVN    GS    Chủ nhiệm bộ môn   
32.        Trần Quang Minh    VHVN    GVC    Phó chủ nhiệm bộ môn Phó bí thư Đảng uỷ   
33.        Nguyễn Xuân Nam    LLVH    PGS    Uỷ viên BCH CĐ   
34.        Quách Thị Nhã    QLSV    ThS    Tổ trưởng tổ VP  Bí thư CB UVBCHCĐ khoa   
35.        Phạm Hữu Nghệ    Hán Nôm    CN       
36.        Bùi Văn Nguyên    VHVN    GS    Chủ nhiệm bộ môn   
37.        Đái Xuân Ninh    Ngôn ngữ    GS       
38.        Bùi Hoàng Phổ    PPGD    CN    Chủ nhiệm bộ môn   
39.        Trần Phú    PPGD    GVC    Uỷ viên BCH Công đoàn khoa   
40.        Nguyễn Ngọc San    Hán Nôm    GS. TS    Chủ nhiệm bộ môn   
41.        Thái Thị Hương Sen    Văn phòng    CN       
42.        Đặng Đức Siêu    Hán Nôm    PGS    Chủ nhiệm bộ môn   
43.        Lê Tiến Sơn    Hán Nôm    GVC    Trợ lí học phần   
44.        Trần Thị Thanh    Văn phòng           
45.        Phạm Xuân Thi    Hoạ sĩ           
46.        Trần Phương Thi    Hán Nôm    ThS       
47.        Hoàng Thung    Ngôn ngữ    ThS    Phó chủ nhiệm bộ môn   
48.        Nguyễn Văn Tiến    VHVN    CN       
49.        Trịnh Thu Tiết    VHVN    CN    Bí thư Đảng uỷ khoa   
50.        Doãn Nhữ Tiếp    VHVN    CN       
51.        Nguyễn Trác    VHVN    PGS    Chủ nhiệm bộ môn   
52.        Nguyễn Nghĩa Trọng    LLVH    PGS.TSKH    Bí thư Đảng uỷ P. CN khoa   
53.        Lưu Đức Trung    VHNN    PGS    Bí thư CB   
54.        Phùng Văn Tửu    VHNN    GS    Phó chủ nhiệm bộ môn   
55.        Trần Thanh Xuân    PPGD    GVC    Tổ trưởng, uỷ viên BCH CĐ   
56.        Hoàng Hữu Yên    VHVN    PGS    
QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN:

     Khoa Ngữ văn ra đời cùng với sự ra đời của Trường Đại học Sư phạm, tính từ 1951 theo chủ trương của Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Trải qua 50 năm, lịch sử của khoa là lịch sử tiến lên phía trước. Có thể chia lịch sử đó thành ba chặng lớn và mỗi chặng lớn bao gồm nhiều chặng nhỏ:
    - Chặng lớn thứ nhất: từ 1951 đến 1956
    - Chặng lớn thứ hai: từ 1956 đến 1975
    - Chặng lớn thứ ba: từ 1975 đến nay.

A. Chặng lớn thứ nhất: từ 1951 đến 1956

  1. 1951 - 1954
    Cuối năm 1951, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược đang vào giai đoạn gay go ác liệt. Nhưng với đường lối “vừa kháng chiến vừa kiến quốc”, chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đã chủ trương tích cực xây dựng nền đại học bằng việc thành lập hai cơ sở đào tạo đại học. Một ở Nam Ninh (Trung Quốc), gồm trường khoa học cơ bản và trường Sư phạm cao cấp tự nhiên. Một ở trong nước gồm hai phân hiệu Dự bị đại học tại hai tỉnh Nghệ An và Thanh Hóa. Sau đó, phân hiệu Nghệ An được chuyển ra nhập với phân hiệu Thanh Hoá thành một. Trường Dự bị đại học Thanh Hoá bấy giờ chỉ mới phân làm hai chuyên ngành lớn : khoa học tự nhiên và Văn khoa. Trong văn khoa, Văn và Sử là một. Nhà trường không có trường sở, bàn ghế. Lớp học là các ngôi đình làng. Bàn là những tấm gỗ mượn của dân kê lên để viết. Một số sinh viên làm được bàn xếp thì mang theo đến lớp mà dùng. Còn ghế, chủ yếu là đôi dép cao su (thường gọi là dép Bình Trị Thiên vì ra đời trong hoàn cảnh kháng chiến ở Bình Trị Thiên) hoặc cái gì khác thì tuỳ. Học vào ban đêm để tránh máy bay địch oanh tạc. Thầy và trò, mỗi người đều có một cái đèn hoa kỳ nhỏ, trên có chụp bằng giấy để khỏi hắt ánh sáng ra ngoài. Sinh viên, hầu hết không có học bổng. Một số ít có thì được nhận bằng thóc. Đại đa số đã phải tự kiếm sống để ăn học bằng các hình thức : làm gia sư, dạy trường dân lập, kéo xe gác… thời gian học của dự bị đại học là một năm rưỡi. Sau khi tốt nghiệp, hầu hết được học tiếp lớp sư phạm cấp tốc trong một học kỳ. Ra đời trong khói lửa chiến tranh, thời gian học chỉ hai năm, điều kiện dạy và học thiếu thốn hết mức, vậy mà trường dự bị đại học ở Thanh Hoá đã là một dấu son đẹp trong ký ức của nhiều người. Được thế, trước hết nhờ có đội ngũ giáo sư gồm những đại trí thức của đất nước như: Đặng Thai Mai, Đào Duy Anh, Nguyễn Mạnh Tường, Trần Văn Giàu, Cao Xuân Huy, Trương Tửu. Bên cạnh các giáo sư, là những giảng viên có uy tín như : Nguyễn Lương Ngọc, Nguyễn Đức Chính, Chiêm Tế, Đặng Xuân Thiều, Nguyễn Danh Hoàn… Trong số các giáo sư vừa kể trên đây, có 4 vị sau này đã được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh là : Đặng Thai Mai, Cao Xuân Huy, Trần Văn Giàu, Đào Duy Anh. Còn về học trò thì quả đây là một thế hệ sinh viên ưu tú, vừa đựơc sàng lọc nghiêm ngặt trên con đường thi cử, học vấn, vừa được tôi luyện trong không khí kháng chiến vệ quốc thần thánh. Hầu hết trong họ đã trở thành những giáo viên kế tục mấy vị trong số “thất hiền” của lớp đại học văn khoa trước đó 3 năm, đóng vai trò cốt cán cho sự nghiệp dạy văn cấp 3 ở miền Bắc trong quãng thời gian 1954 đến 1975 trên cả nước. Trong thế hệ này, một số sau này đã thành danh, thành giáo sư, phó giáo sư như Đặng Thanh Lê, Phan Trọng Luận, Trần Đình Hượu, Trần Thanh Đạm, Phan Sĩ Tấn, Nguyễn Xuân Nam…Cũng có người chuyển sang hoạt động ở ngành văn hoá mà nổi tiếng như Trọng Bằng, giáo sư nghệ sĩ nhân dân, giám đốc nhạc viện Hà Nội, Chủ tịch Hội âm nhạc Việt Nam…, Nguyễn Đức Đàn, giáo sư, hiệu trưởng trường viết văn Nguyễn Du, nhà nghiên cứu văn học có thành tựu.

2. 1954 -1956

    Tháng 7-1954, hiệp định Giơnevơ được ký kết. Hoà bình lập lại ở miền Bắc. Ngày 10-10-1954, thủ đô Hà Nội được giải phóng, trường Dự bị đại học ở Thanh Hoá (với khoá II) và trường Sư phạm cao cấp ở Nam Ninh (Trung Quốc) cùng được lệnh chuyển về Hà Nội tiếp quản trường Đại học Hà Nội cũ tại đường Lê Thánh Tông, trước vườn hoa Tao Đàn. Trong hoàn cảnh mới, có sự sắp xếp tổ chức thành hai trường ĐHSP: Khoa học và Văn học. Đại học sư phạm Văn học do giáo sư Đặng Thai Mai làm giám đốc, giáo sư Nguyễn Mạnh Tường làm phó giám đốc. Đội ngũ thầy giáo vẫn là đội ngũ của dự bị đại học ở Thanh Hoá trứơc đó nhưng có thêm một giáo sư từng lừng danh triết học ở phương Tây là Trần Đức Thảo (sau này cũng được giải thưởng Hồ Chí Minh) và một số giảng viên khác là Hoàng Xuân Nhị (nguyên giám đốc giáo dục Nam Bộ) Hoàng Thiếu Sơn, Phan Ngọc, Hoàng Tuệ, Trần Lê Nhân. Hai vị thứ trưởng bộ Giáo dục (cũng là hai uỷ viên trung ương Đảng) bấy giờ là Nguyễn Khánh Toàn và Hà Huy Giáp đã tham gia giảng dạy. Với năm học đầu tiên sau khoá đào tạo. Một khoá gồm những sinh viên đã học xong năm thứ nhất của dự bị đại học khoá II ở Thanh Hoá, nay về Hà Nội tiếp tục năm thứ hai. Khoá đào tạo này còn có thêm một số sinh viên vốn là giáo viên được cử đi học, lúc đầu vẫn học năm thứ nhất, nhưng hết học kỳ một thì được bỏ năm thứ nhất chuyển lên học chung với năm thứ hai và tiếp theo là năm thứ ba. Có hiện tượng đó là do yêu cầu chuẩn bị cho kế hoạch thống nhất đất nước hai năm sau theo hiệp định Giơnevơ. Một khoá khác gồm những sinh viên mới được tuyển vào trường, vốn là học sinh đã tốt nghiệp cấp 3 từ khu Bốn, khu Ba, khu Việt Bắc, khu Năm (tập kết), hoặc vừa tốt nghiệp tú tài ở Hà Nội tạm chiếm. Ngoài ra, còn có một ít học sinh tốt nghiệp tú tài ở Sài Gòn tạm chiếm vượt tuyến ra Hà Nội học. Với ĐHSP Văn học, ngay ở năm học 1954-1955, đã tách Văn khỏi Sử Địa (vào năm học 1955- 1956, Sử Địa mới tách nhau). ở năm học đầu 1954-1955 bên cạnh trường ĐHSP Văn học, cũng đã thành lập lớp Dự bị đại học Văn học. Nhưng sau một năm dự bị, lớp học này cũng nhập vào ĐHSP Văn khoa, để cùng học tiếp năm thứ hai, năm thứ ba và cùng ra trường vào cuối năm học 1956-1957. Năm học 1955-1956, ĐHSP Văn học ngừng tuyển sinh một năm. Điều đáng nói là trong điều kiện hoà bình, trường ĐHSP Văn học, cũng như trường ĐHSP Khoa học, đã có giảng đường lớp học khang trang ở đường Lê Thánh Tông mà nay thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội quản lý. Ký túc xá sinh viên chính là khu nhà D (một trong bốn khu nhà ký túc của sinh viên có từ  thời Đông Dương học xá trước 1945 kể lại), mà ngày nay đã khiêm tốn nép mình giữa bao nhiêu giảng đường, nhà cửa to lớn của Đại học Bách khoa Hà Nội. Hai khoá học đầu tiên sau ngày hoà bình lập lại đã cung cấp cho ngành giáo dục ở bậc phổ thông cấp 3, một đội ngũ giáo viên Văn học, hùng hậu hơn nhiều so với trước. Trong số sinh viên tốt nghiệp cuối năm học 1955-1956, một số đã được giữ lại làm cán bộ giảng dạy gồm: Cao Huy Đỉnh (sau này được giải thưởng Hồ Chí Minh), Lê Hoài Nam, Nguyễn Duy Bình, Cao Xuân Hạo, Phạm Hoàng Gia, Văn Tâm, Phan Kế Hoành, Hà Thúc Chỉ (bút danh Thúc Hà, được giải nhất thơ của Liên hoan thanh niên thế giới tại Berlin,1955 với bài “Chờ con má nhé”) và Bùi Quang Đoài (nhà văn Thái Vũ). Cũng cần nói thêm là, sau ngày hoà bình mới đựơc lập lại, ở Hà Nội chỉ mới có ba trường thực sự đại học là ĐHSP Văn học, ĐHSP Khoa học, Đại học Y Dược nên được nhà nước rất mực quan tâm. Đặc biệt, có lần (1956) Hồ Chủ Tịch, không báo trước, đã đến thăm sinh viên Ký túc xá (Việt Nam học xá). Có một câu chuyện nhỏ nhưng rất có ý nghĩa, xin được kể lại như sau: Trong buổi đến thăm sinh viên này, Bác Hồ hỏi: “các cháu có thương nhau không?” - Tất cả đều đáp : “Dạ, có ạ”. Bác hỏi tiếp : “Thương nhau thì phải làm gì?” Anh sinh viên Trịnh Hiệt trưởng sinh viên ĐHSP Văn học nhanh nhảu đáp : “Dạ, phải tương trợ nhau ạ!” Bác Hồ hỏi ngay: “Thế có tương mắm không?” Mọi người cười ồ, Bác nói : “sinh viên Văn khoa là phải bảo vệ tiếng Việt - Từ gì tiếng Việt đã có thì cố mà dùng. Chỉ khi tiếng Việt không có mới phải dùng từ Hán - Ví dụ: phải dùng từ độc lập, chứ không thể nói : Việt Nam dân chủ cộng hoà: đứng một mình - tự do - hạnh phúc.” Mọi người lại được một trận cười khoái chá và một bài học có ý nghĩa lớn.


B. Chặng lớn thứ hai : Từ 1956 đến 1975

1. 1956 - 1958
    Năm 1956, bước vào năm học 1956-1957, nền đại học xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc đi vào một giai đoạn phát triển mới. Đó là năm thành lập các Trường Đại học Tổng hợp, Đại học Bách khoa, Đại học Nông lâm, Đại học Sư phạm. Đây là một trường Đại học Sư phạm hoàn chỉnh, bao gồm cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Trường có Ban giám hiệu mới gồm hiệu trưởng là giáo sư sử học kiêm thi sĩ Phạm Huy Thông, hiệu phó là giáo sư Nguyễn Thúc Hào. Trong hai niên khoá 1956-1957, 1957-1958 quan hệ giữa hai trường Đại học Sư phạm Hà Nội và Đại học Tổng hợp Hà Nội là quan hệ vừa độc lập, vừa đan xen. Bởi đã có  trường, hai Ban Giám hiệu, hai đối tượng sinh viên, hai hệ thống phòng ban, nhưng trường sở vẫn là một khoa và đội ngũ giáo viên vẫn là một. Giáo viên vẫn dạy cả ở hai đối tượng sinh viên thuộc hai trường - Chủ nhiệm khoa văn lúc này là giáo sư Đặng Thai Mai. Đội ngũ thầy giáo của khoa cũng đựơc tăng cường. Trong năm học 1956-1957 về khoa làm cán bộ giảng dạy có các vị: Vũ Đình Liên (nhà thơ, tác giả của bài thơ nổi tiếng Ông đồ), Trương Chính (nhà phê bình văn học, tác giả của Dưới mắt tôi viết năm 1939), Đỗ Đức Hiểu, Đinh Gia Khánh và ba cán bộ phiên dịch trung văn được đào tạo từ Trung Quốc về là Đặng Đức Siêu, Nguyễn Ngọc San, Nguyễn Thạch Giang. Tháng 8-1957, khoa lại có thêm một số cán bộ giảng dạy vốn là sinh viên vừa tốt nghiệp được tuyển chọn : Nguyễn Đình Chú, Trần Văn Hối, Nguyễn Hải Hà, Trần Văn Bính, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Nguyễn Phan Cảnh, Nguyễn Khắc Phi, Lê Bá Hán và Bùi Văn Nguyên được điều từ trường cấp 3 lên đại học. Bấy giờ, đã có sự phân định chức danh trong đội ngũ giáo viên đại học. Trên hết là giáo sư gồm Đặng Thai Mai, Trần Văn Giàu, Trần Đức Thảo, Đào Duy Anh, Nguyễn Mạnh Tường, Phạm Huy Thông, Trương Tửu, Hoàng Xuân Nhị. Dưới giáo sư là giảng viên - Dưới giảng viên là phụ giảng - Dưới phụ giảng là trợ lý, tập sự trợ lý.
   

2. 1958 - 1965

    Bước vào năm học 1958-1959 hai Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và Đại học Tổng hợp Hà Nội tách ra. Trường ĐHSP Hà Nội nhường hẳn cơ sở cũ ở đường Lê Thánh Tông cho trường ĐHTH Hà Nội, và chuyển ra xây  dựng trường mới trên cơ sở của trường Trung cấp Sư phạm Trung ương đang chuẩn bị giải thể tại cây số 8 đường Hà Nội - Sơn Tây. Trong hoàn cảnh mới, việc quan trọng là phân chia cán bộ giảng dạy trước đó còn chung một khoa nay là hai khoa riêng rẽ. Hầu hết đã được chia về khoa Văn trường ĐHSP Hà Nội, gồm : Nguyễn Lương Ngọc, Đinh Gia Khánh, Bùi Văn Nguyên, Vũ Đình Liên, Trương Chính, Lê Hoài Nam, Nguyễn Đình Chú, Trần Văn Hối, Trần Văn Bính, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Lê Bá Hán, Đặng Đức Siêu, Nguyễn Ngọc San, ở tại khoa Văn trường ĐHTH Hà Nội có: Đặng Thai Mai (nhưng ngay sau đó đã sang làm Viện trưởng Viện Văn học), Hoàng Xuân Nhị, Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Duy Bình, Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Khắc Phi, Nguyễn Phan Cảnh, Nguyễn Hải Hà (nhưng một năm sau thầy Hà cũng chuyển sang Sư phạm), ở khoa Ngữ văn trường ĐHSP Hà Nội, cũng vào dịp này, còn được bổ sung thêm hai nhà tu thư, vốn là hai nhà nghiên cứu thuộc nhóm nghiên cứu văn học Lê Quí Đôn là Lê Trí Viễn và Huỳnh Lý. Thêm nữa, có Nguyễn Trác, một thầy giáo văn trung học nổi tiếng của Hà Nội và thầy Nguyễn Cửu Cúc trước đó phụ trách giáo vụ trường. Vào đầu năm học 1959-1960, khoa lại có thêm những thầy giáo vốn là của trường Trung cấp Sư phạm Trung ương vừa giải thể : Hoàng Như Mai (nguyên Hiệu trưởng TCSP Trung ương), Đặng Thanh Lê, Trần Thanh Đạm, Nguyễn Văn Hoàn, Phạm Thị Hảo, Phan Sĩ Tấn, Nguyễn Ngọc Côn và một số sinh viên vừa tốt nghiệp của khoá 1956-1959 là : Hoàng Dung, Lê Cận, Trần Văn Mười, Lê Hiền, Lý Hữu Tấn, Lương Duy Trung, Phan Côn. Nhưng vào đầu năm học 1960-1961, lại có việc chia bớt một số cán bộ giảng dạy cho khoa Văn ĐHTH gồm : Hoàng Như Mai, Đinh Gia Khánh, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức; và một số vào khoa Văn trường ĐHSP Vinh gồm: Lê Hoài Nam, Trần Văn Hối, Lê Bá Hán. Bên cạnh việc chia bớt cán bộ giảng dạy cho các khoa bạn, hàng năm tiếp theo, khoa vẫn có kế hoạch bổ sung bằng cách chọn từ nguồn sinh viên tốt nghiệp. Với khoá học 1957-1960 có Nguyễn Nghĩa Dân, Đỗ Bình Trị, Đinh Trọng Lạc, Thành Thế Thái Bình, Phạm Luận, Hoàng Nhân, Quách Hy Dong, Lê Tố; khoá học 1958-1960 có Đỗ Hữu Châu, Đoàn Trọng Huy; khoá học 1959-1961 có Đào Nguyên Tụ, Nguyễn Đức Dũng (Từ Sơn), Nguyễn Thị Ngọc, Hồ Văn Nho, Nguyễn Xuân Tự; khoá học 1960-1962 có Trịnh Thu Tiết, Hoàng Thung; khoá học 1961-1964 có Lê Biên, Vũ Viết Rậu. Với khóa học 1962-1965 có: Nguyễn Trọng Nghĩa, Doãn Như Tiếp, Phùng Quí Nhâm, Đỗ Đức Tín, Lâm Quang Vinh, Nguyễn Thị Hai, Nguyễn Thị Mỹ Hoà, Trần Quang Minh, Nguyễn Văn Long, Nguyễn Thị Nhung, Nguyễn Khoa Diệu Biên, Lê Văn Trúc.
    Trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ giảng dạy của khoa, bên cạnh việc tuyển chọn từ nguồn sinh viên tốt nghiệp trong khoa còn có tuyển chọn từ nguồn giáo viên cấp 3, hoặc sư phạm trung cấp. Năm 1960, có Bùi Hoàng Phổ từ trường sư phạm miền núi. Năm 1961, có Nguyễn Hoành Khung tốt nghiệp ĐHTH (1960), sau một năm ở lại trường ĐHTH cũng chuyển sang Sư phạm. Đến năm 1963 có Đái Xuân Ninh vốn là giáo viên cấp 3 làm chuyên gia dạy Việt ngữ ở Ba Lan về, có Hoàng Lân là từ trường cấp III lên. Ngoài ra lại có những người được đào tạo từ nước ngoài về. Đầu năm học 1960-1961 có: Bùi Văn Ba, Trần Xuân Đề từ Trung Quốc về. Đầu năm học 1961-1962 có Phan Hữu Nghệ, Trần Hoán, Lê Quang Thung , Lê Đăng Bảng cũng từ Trung Quốc về. Tiếp đó lại có Đỗ Xuân Hà, Nguyễn Ngọc Ảnh từ Liên Xô về. Đặc biệt đến năm 1963, có hai phó tiến sĩ văn học đầu tiên được đào tạo ở Liên Xô là Nguyễn Đức Nam, Nguyễn Văn Hạnh, cũng được phân về khoa Ngữ văn trường ĐHSP Hà Nội. Nhưng cũng trong năm 1963 thày Huỳnh Lý đựơc điều vào ĐHSP Vinh làm chủ nghiệm khoa Văn và sau đó hai cán bộ giảng dạy của khoa là Lê Đăng Bảng, Nguyễn Đức Dũng được cử vào chiến trường miền Nam. Lê Đăng Bảng sau đó đã hi sinh.
    Trải mấy năm xây dựng từ 1958 đến 1965, khoa Ngữ văn trường ĐHSP Hà Nội đã có được một đội ngũ cán bộ giảng dạy hùng hậu, làm nền và đào tạo cho những bước phát triển tiếp tục về sau.
    Về mặt tổ chức, ở một hai năm đầu khi mới tách ra khỏi khoa chung của hai trường ĐHSP Hà Nội và ĐHTH Hà Nội, khoa Ngữ văn chỉ mới là phân khoa, cùng với phân khoa Lịch sử, nằm chung trong một khoa Văn Sử do thầy Nguyễn Lương Ngọc làm trưởng khoa (kiêm phân khoa trưởng của Văn). Tuy vậy trong khoa Văn đã trước sau lần lượt hình thành các tổ bộ môn gồm: tổ Văn Việt Nam I do thầy Bùi Văn Nguyên làm tổ trưởng, tổ Văn Việt Nam II do thầy Lê Trí Viễn làm tổ trưởng (năm 1963 thầy Lê Trí Viễn làm chủ nhiệm khoa thì thầy Nguyễn Đình Chú phụ trách sau đó mới làm tổ trưởng). Tổ Văn Việt Nam III do thầy Nguyễn Trác làm tổ trưởng. Tổ Văn học nước ngoài do thầy Nguyễn Đức Nam làm tổ trưởng. Tổ Giáo học pháp do nhà thơ Vũ Đình Liên làm tổ trưởng. Tổ Lý luận văn học do thầy Nguyễn Lương Ngọc kiêm nhiệm tổ trưởng, tiếp đến là thầy Trần  Văn Bính, Lê Đăng Bảng rồi Nguyễn Văn Hạnh lần lượt thay. Nhóm ngoại ngữ kiêm phiên dịch Trung văn do thầy Nguyễn Ngọc San làm nhóm trưởng. Tổ Ngôn ngữ do thầy Hoàng Tuệ làm tổ trưởng. Năm 1963 có thêm tổ Cổ văn dạy về Hán Nôm lúc đầu do thầy Lê Trí Viễn phụ trách, sau đó là cô Phạm Thị Hảo, thầy Nguyễn Ngọc San, thầy Đặng Đức Siêu… Cán bộ Văn phòng khoa có: Nguyễn Thuý phụ trách công tác tổ chức cán bộ, Nguyễn Văn Thịnh phụ trách công tác văn phòng.
    Nhiệm vụ chính của khoa là đào tạo và nghiên cứu khoa học cơ bản cùng khoa học sư phạm. Trong đào tạo, phương châm được đặt ra là làm sao thể hiện được bản sắc sư phạm, vì đây là nơi đào tạo những giáo viên ngữ văn chứ không phải là các nhà nghiên cứu ngữ văn. Với phương châm này, nội dung chương trình đào tạo phải gắn với nội dung chương trình cấp 3, phải ưu tiên phân môn giảng văn (vì ở cấp 3 có nhiều giờ giảng văn), coi trọng bộ môn Giáo học Pháp, cũng như Giáo dục nói chung. Nếu ai có dịp so sánh nội dung đào tạo ở khoa Văn trường ĐHSP Hà Nội từ 1956 trở đi sẽ thấy càng về sau, bên cạnh phần chung, phần riêng ở khoa Văn trường ĐHSP rấy coi trọng việc biên soạn giáo trình riêng. Công việc đó đã được khởi sướng từ năm học 1958-1959. Năm đó, nhiều giáo trình đã được biên soạn, in rônéo cho sinh viên học. Chính khoa văn ĐTTH trong 2, 3 năm đầu đã dùng chung loại giáo trình này. Riêng với khoa Văn ĐHSP Hà Nội, sau đó vào năm học 1961-1962 có một đợt tập trung viết giáo trình. Kết quả là trong 2 năm 1962-1963, khoa đã lần lượt cho xuất bản một hệ thống giáo trình tại Nxb Giáo dục gồm: Lịch sử Văn học Việt Nam (6 tập, đã tái bản đến lần thứ 6 khi tái bản các tập IV, V đều thành IVA, IVB, VA, VB), Lịch sử Văn học Trung Quốc (2 tập), Lịch sử Văn học phương Tây (2 tập), Lý luận Văn học(2 tập), giáo trình Ngôn ngữ học, Giáo học pháp. Riêng bộ Lịch sử Văn học Nga - Xô Viết (2 tập) thì đến năm 1966 mới xuất bản. Trong thời gian khoảng hơn một năm mà có được một hệ thống giáo trình như thế, đến hôm nay vẫn là điều ngạc nhiên với nhiều người. Nhưng ở thời đó, chính nó là sản phẩm của đường lối xây dựng đội ngũ cán bộ giảng dạy đại học sư phạm bằng cách gắn việc giảng dạy với nghiên cứu khoa học. Hệ thống giáo trình này đã có tác dụng rất lớn trong công tác đào tạo, không chỉ cho sinh viên khoa Văn trường ĐHSP Hà Nội mà còn cho khoa Văn trường ĐHSP Vinh, cho khoa Văn các trường CĐSP, và cũng là tài liệu tham khảo cho sinh viên khoa văn ĐHTH Hà Nội mà bấy giờ ở đây chưa có đủ giáo trình như ở khoa Văn ĐHSP Hà Nội. Hệ thống giáo trình này còn có ảnh hưởng với xã hội, và có giáo trình đã lan toả ảnh hưởng vào cả các trường đại học ở miền Nam, thậm chí còn sang tới Pháp với Việt kiều. Riêng bộ giáo trình “Lịch sử văn học Việt Nam” đã được Bộ Giáo dục tặng thưởng. Để thúc đẩy công tác nghiên cứu khoa học, từ năm học 1963-1964, ở khoa đã thành lập Hội đồng khoa học. Hàng năm, các tổ đều có hội  nghị khoa học, và khoa thì có hội nghị khoa học toàn khoa. Chính từ không khí coi trọng công tác nghiên cứu khoa học, song song với công tác giảng dạy mà nhiều cán bộ giảng dạy của khoa Ngữ văn sau này trở thành những vị giáo sư, những nhà khoa học có tên tuổi trong ngành, thậm chí là đầu ngành của cả nước.
    Nhìn chung, giai đoạn 1958 - 1965 là một giai đoạn phát triển khá nhanh chóng của khoa Ngữ văn trường ĐHSP Hà Nội cả trên hai phương diện: đào tạo và nghiên cứu khoa học. Trong đào tạo, mặc dù thời gian đào tạo cho các khoá chưa cố định. Có khoá 3 năm, có khoá 2 năm 3 tháng, có khoá 2 năm, có khoá 2 năm cộng 1 (cho một số ít), có khoá 3 năm cộng 1 (cũng cho một số ít), nhưng nhìn chung là số lượng mỗ năm một tăng, và chất lượng thì có uy tín đối với ngành, đối với xã hội. Một số sinh viên tốt nghiệp khoa Ngữ văn trường ĐHSP Hà Nội trong quãng thời gian này về sau đã thành danh. Ví dụ như Đồng chí Nguyễn Khoa Điềm tốt nghiệp 1964 (nhà thơ, nguyên Bộ trưởng Bộ Văn hoá, nguyên Tổng thư ký Hội nhà văn Việt Nam, Uỷ viên Bộ Chính Trị Ban chấp hành TW khoá IX, Giải thưởng Nhà nước năm 2000), Trần Thị Thanh Thanh (tốt nghiệp năm1962, Uỷ viên TW Đảng, Bộ trưởng), Ma Văn Kháng (tốt nghiệp 1964, nhà văn được giải thưởng văn học Châu Á), Phạm Tiến Duật tốt nghiệp năm 1964 (nhà thơ, giải nhất cuộc thi thơ của báo Văn nghệ, Giải thưởng Nhà nước năm 2001), Tô Nhuận Vĩ, tốt nghiệp 1964 (nhà văn), Dương Thụ tốt nghiệp 1965 (nhạc sĩ)…
   

3. 1965 - 1975

    5 – 8 - 1964, đế quốc Mỹ chính thức đưa không quân ra ném bom miền Bắc. Do đó, vào đầu năm học 1965-1966, khoa Ngữ văn cùng cả trường ĐHSP Hà Nội từ giã thủ đô, đi sơ tán, Khoá sơ tán ở hai nơi. Một lên xã Phúc Lương, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Một về xã Nguyên Hoà, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên. Nhưng sau một học kỳ thì chuyển cả về xã Cộng Hoà, huyện Yên Mĩ, tỉnh Hưng Yên. Vào năm học 1967-1968, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội chia làm ba trường : ĐHSP Hà Nội I, ĐHSP Hà Nội II, ĐHSP Ngoại ngữ. Khoa Ngữ văn nằm trong trường ĐHSP Hà Nội I. Việc chia trường hầu như không ảnh hưởng gì đối với khoa. Chỉ biết trong hoàn cảnh sơ tán, điều kiện mọi thứ rất thiếu thốn. Trường sở không có. Phải mượn đình chùa của các địa phương để làm lớp học. Sau đó, mới xây thêm được các lớp học bằng tre nứa lá và đắp tường đất vòng quanh để đề phòng bom đạn. Cả thầy và trò đều ở nhờ nhà dân. Có xây dựng một vài dãy nhà lá thì cũng chỉ đủ dành cho các thầy cô giáo có giai đình cùng sơ tán. Mỗi lớp sinh viên đều có một bếp ăn tập thể, có cấp dưỡng phục vụ. Bấy giờ, các thầy cô chủ yếu sống ở thôn Quần Ngọc thuộc xã Cộng Hoà. Cũng có bếp ăn riêng do chị Dinh làm bếp trưởng, vốn là người vui tính và nấu ăn vừa ngon vừa sạch. Đình Quần Ngọc nằm sát bờ đê con sông đào, trước sân có rặng nhãn luôn luôn toả bóng mát, là nơi hội họp của khoa. Sau đó, mới dựng được một hội trường bằng tre lá. Những năm sơ tán dù khó khăn, nhưng khoa lại có nhiều mặt phát triển. Số lượng sinh viên tăng nhanh hơn so với trước. Vào năm học 1966-1967, cả khoa đã có trên 1500 sinh viên chính qui. Thời gian đào tạo cũng được nâng lên. Bắt đầu có hệ 3 năm cộng 1, tiếp đó là 4 năm. Ngoài ra còn mở thêm 2 lớp hệ bồi dưỡng một năm, dành riêng cho những giáo viên đã dạy cấp 3, hoặc cao đẳng sư phạm, trung học sư phạm và thêm nữa là hệ đào tạo hàm thụ 4 năm. Sinh viên tăng, hệ đào tạo tăng, dĩ nhiên đội ngũ cán bộ giảng dạy cũng tăng, có lúc đã lên tới 108 vị, mà nhiều người cũng nói vui là ''108 anh hùng Lương Sơn Bạc” trong truyện Thuỷ Hử. Khoa tiếp nhận nhiều thầy cô giáo hoặc dạy cấp 3, hoặc công tác ở Bộ Giáo dục: Trần Văn Thận, Phan Trọng Luận, Nguyễn Thị Hoàng, Trẫn Hữu Tá, Thái Thu Lan, Đặng Anh Đào, Tôn Gia Các, Võ Bình, Đinh Xuân Hiền, Nguyễn Thị Thanh Hương. Ngoài ra, còn có một số thầy từ khoa Văn trường ĐHSP Vinh chuyển ra khoa Văn trường ĐHSP Hà Nội gồm Nguyễn Đăng Mạnh, Trần Gia Linh, Phùng Văn Tửu, Nguyễn Xuân Nam. Riêng thầy Huỳnh Lý, sau mấy năm được biệt phái vào trường ĐHSP Vinh làm chủ nhiệm khoa Ngữ văn, nay cũng về lại khoa Ngữ văn  trường ĐHSP Hà Nội. Thầy Diệp Quang Ban, Hoàng Hữu Yên từ khoa văn ĐHTH, thày Nguyễn Đình Cao từ tổ Ngoại ngữ chuyển sang. Riêng thày Đỗ Đức Hiểu vốn là cán bộ khoa Văn ĐHTH ngày trường còn thuộc phạm vi quản lý của Bộ Giáo dục sau khi làm chuyên gia ở Trung Quốc về, cũng về khoa Văn ĐHSP, mấy năm sau mới về lại ĐHTH. Một số sinh viên tốt nghiệp ĐHSP Ngoại ngữ cũng được phân về khoa dạy Trung văn, hoặc Nga văn gồm: Trần Phương Thi, Huỳnh Văn Trứ, Phạm Huy Liệu, Lê Tiến Sơn, Lê Văn Sơn, Nguyễn Thị Thái Vân… Nguồn bổ sung lớn nhất vẫn là những sinh viên tốt nghiệp hoặc qua lớp bồi dưỡng thêm được chọn để giữ lại. Lần lượt trong mấy năm, gồm : Nguyễn Tiệp, Phạm Chu, Trần Phú, Phạm Quang Tản, Vi Văn Hồng, Nguyễn Tiến Hùng, Nguyễn Thanh Tùng, Nguyễn Văn Tiến, Đinh Thu Hương, Đặng Thị Lanh, Bùi Minh Toán, Hoàng Ngọc Trì, Nguyễn Tấn Phát, Bùi Công Minh, Phạm Văn Hóa, Hồ Sĩ Hiệp, Lê Ngọc Trà, Phạm Đăng Dư, Đặng Thái Thuyên, Hoàng Dư, Lâm Thị Ngọc Hoàn, Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Thị Kim Phong, Đinh Việt Anh,Trần Tiến  Đức. Sau nữa là Đinh Thị Khang, Nguyễn Ngọc Diệu, Hoàng Hiêng, Nguyễn Văn Đàm, Nguyễn Quanh Ninh B, Nguyễn Tiến Mâu, Lê Hữu Tỉnh, Nguyễn Thị Bích Hà, Phạm Thu Yến,…
    Trên đà tăng nhanh số lượng cán bộ giảng dạy như thế, vẫn có chuyện san bớt cho trường bạn. Vào năm học 1966 -1967, trường ĐHSP Việt Bắc được thành lập. Các thày Hoàng Nhân, Phạm Luật, Vi Văn Hồng đã được điều lên làm chủ nhiệm khoa hoặc trưởng bộ môn. Riêng thày Trần Văn Mười thì năm 1966 cũng được điều về Nam Bộ làm Trưởng Ban giáo dục Khu 9.
    Khác với hoàn cảnh trước đó, khoa chỉ là đơn vị đảm nhiệm riêng việc giảng dạy, nay trong sơ tán, nó thành như một trường con trong trường lớn, bởi phải lo mọi việc trong đó có chuyện ăn ở của sinh viên. Do đó mà trong khoa, cùng với đội ngũ cán bộ giảng dạy, còn là đội ngũ cán bộ công nhân viên bao gồm các cán bộ văn phòng, tổ chức, thư viện, tài vụ và cấp dưỡng, mà số lượng ước tính cũng đến trên dưới bốn chục người.
    Trong sơ tán, tuy phương tiện rất thiếu thốn, nhưng không khí dạy và học lại rất nghiêm túc và sôi nổi. Thầy vẫn dạy hết lòng.Trò vẫn học hết sức. Trong phong trào thi đua hăng hái toàn khoa bấy giờ, tổ Văn Việt Nam II (bấy giờ bộ môn VHVN có 3 tổ I, II, III) do thầy Nguyễn Đình Chú làm tổ trưởng là tổ được công nhận danh hiệu lao động XHCN đầu tiên của khoa và cũng là của trường ĐHSP HN I. Tiếp sau đó, các tổ Văn học Việt Nam III, Văn học Việt Nam I, Lý luận văn học, Văn học nước ngoài, Ngôn ngữ cũng lần lượt được công nhận danh hiệu tổ lao dộng XHCN. Trong phong trào chung này, nổi lên là sự gần gũi giữa thầy và trò tới mức mà về sau không dễ gì có lại. Có được điều đó là nhờ có nhiệt tình của thầy cô, nhưng cũng là do hoàn cảnh khách quan thầy trò trong khi sơ tán, đều ít có dịp về nhà. Sự gắn bó đựơc thể hiện dưới nhiều hình thức. Ví như Tổ Văn Việt Nam II đã có đợt huy động tất cả các thầy cô của tổ xuống “hai cùng” (cùng ở, cùng ăn) với sinh viên để quan sát tìm hiểu tình hình học tập, phương pháp học tập của từng sinh viên và từ đó góp ý cho họ cách cải tiến nâng cao chất lượng học tập. Trong học tập, ngoài nội dung chính khoá, việc tổ chức ngoại khoá rất coi trọng. Bấy giờ, có phong trào các lớp sinh viên thi nhau tổ chức những đêm biểu diễn văn nghệ bằng cách chuyển thể tác phẩm văn học lên sân khấu, ví như với Truyện Kiều, truyện Lục Vân Tiên, Tắt đèn, Ô-ten-lô, Hamlét, Lôi Vũ.. Những buổi biểu diễn này không chỉ lôi cuốn sinh viên vào không khí văn học nghệ thuật, tạo điều kiện cho họ hiểu sâu hơn tác phẩm văn học, mà quan trọng nữa là tạo ra những cơ hội gắn bó nhà trường với địa phương. Trong các đêm biểu diễn văn nghệ đó, nhân dân địa phương từ các cụ già cho đến các em thiếu niên nhi đồng tất nập kéo nhau đến xem rất hào hứng. Có đêm gặp cảnh gió mùa đông bắc, mà chương trình biểu diễn vẫn kéo dài cho tới hơn 12 giờ đêm mới kết thúc. Khoa còn chủ trương cho sinh viên rèn luyện năng lực đưa văn học vào đời sống, vào nhân dân bằng cách bố trí cho các nhóm sinh viên đi về các thôn xóm, không chỉ ở xã Cộng Hoà nơi sơ tán, mà còn ở các xã lân cận, tập những buổi nói chuyện văn thơ, biểu diễn văn nghệ, nói như ngôn ngữ hiện nay là giao lưu văn hoá. Hoạt động này, được giáo viên theo dõi, đánh giá hẳn hoi. Để nâng cao kết quả học tập của sinh viên, khoa còn mời nhiều nhà văn có tên tuổi như : Nguyễn Tuân, Hoài Thanh, Nguyễn Công Hoan, Tô Hoài, Huy Cận, Xuân Diệu… về nói chuyện tại khu sơ tán, cũng như mời nhà nghiên cứu Hoàng Châu Ký, các nghệ sĩ lão thành: cụ Nho Tuý, cụ Sơ, bà Liễu, cùng một số diễn viên nói chuyện và minh họa nghệ thuật tuồng, tạo ra một quang cảnh rất sôi động giữa làng quê trong thời chiến tranh ác liệt. Với khoa Ngữ văn lúc này, ý thức gắn nhà trường với nhiệm vụ chiến đấu cũng rất đựơc coi trọng. Có mấy đợt thầy và trò đi thực tế chiến đấu ở Nam Ngạn (Hàm Rồng - Thanh Hoá), Vĩnh Linh, Bắc Giang, cùng sống và chiến đấu với bộ đội ở các trận địa pháo cao xạ.
    Sau cuộc tấn công Mậu Thân (1968), đế quốc Mỹ buộc phải hạn chế ném bom miền Bắc, chỉ còn từ vĩ tuyến 20 trở vào. Trong hoàn cảnh đó, đáng lẽ khoa đưa sinh viên về lại trường. Nhưng đến đây, số lượng sinh viên đã đông lên nhiều, nhà trường không còn đủ chỗ ở nên khoa vẫn phải sơ tán ở xã Cổ Nhuế và Đông Ngạc cách trường 2 đến 5 cây số. Chỉ có giáo viên thì coi như hết sơ tán, về sống ở gia đình riêng và đến lớp giảng dạy như ngày chưa sơ tán. Sau đó, nhà trường có kế hoạch chuẩn bị từng bước để đưa sinh viên về lại trường. Nhưng vào tháng 4-1972, giặc Mĩ lại đem B52 ra rải thảm miền Bắc, Hà Nội lại một phen khẩn trường sơ tán. Khoa Ngữ văn đang đêm đã phải kéo toàn bộ sơ tán lên xã Liên Minh thuộc huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây. Sau mấy tháng, lại kéo nhau về Văn Giang, rồi lại về Cộng Hoà, Yên Mĩ, nơi sơ tán cũ. Trong dịp sơ tán lần này, khoa ngữ văn đã để lại ba lớp biên chế thành một đại đội tự vệ vừa trực chiến vừa học văn hoá tại trường cùng với đại đội tự vệ của các thày. Tổ trực chiến của các thầy và Đài quan sát của sinh viên được báo chí bấy giờ mệnh danh là “Con mắt phía Tây thủ đô“. Trong dịp máy bay Mĩ bị bắn rơi ở Mễ Trì (Từ Liêm - Hà Nội), Khoa Ngữ văn được công nhận là đơn vị tự vệ xuất sắc tham gia bắn rơi máy bay Mĩ. Trong đại đội, có cô Nguyễn Thị Bích Hà bấy giờ là một nữ sinh viên gan dạ được đài báo biểu dương.
    Trước đó, từ năm học 1970-1971, theo chủ trương của nhà nước, nhiều sinh viên kể cả một số cán bộ giảng dạy của khoa là các thầy Phạm Văn Hoá, Bùi Công Minh, Trần Quang Minh đã nhập ngũ. Không ít người trong số này hiện nay đã trở thành sĩ quan cao cấp trong quân đội. Một số về học lại để thành giáo viên. Trong số sinh viên nhập ngũ, có người đã hi sinh anh dũng như anh Vũ Đình Văn, một người có năng khiếu thơ, đã hy sinh trong trận chiến đấu chống B52 của Mĩ tại Hà Nội. Sau ngày anh hy sinh, thơ của anh đã đựơc in và được giải thưởng của tuần báo Văn nghệ với những lời đánh giá rất cao. Còn thày giáo trẻ Bùi Công Minh vừa mới nhập ngũ đã có bài thơ Hành khúc ngày và đêm  được nhạc sỹ Phan Huỳnh Điểu phổ thành một nhạc phẩm nổi tiếng.

C. Chặng đường thứ ba: 1975 đến nay

1. Từ 1975 đến 2000

    Chiến dịch Hồ Chí Minh kết thúc đại thắng vào ngày 30 - 4 - 1975. Cả nước hoàn toàn độc lập. Bắc Nam sum họp một nhà- Trong sự đổi thay  lớn lao của đất nước, khoa Ngữ văn cũng có nhiều biến động. Trước hết là sự biến động về đội ngũ cán bộ giảng dạy. Một số thầy như Nguyễn Văn Hạnh đang làm phó chủ nhiệm khoa thì được điều vào Huế tiếp quản đại học, làm Viện trưởng Viện đại học Huế. Thầy Trần Văn Thuận cũng đang làm phó chủ nhiệm kiêm bí thư Đảng uỷ khoa thì được điều về tiếp quản giáo dục tỉnh Quảng Ngãi, làm hiệu trưởng trường cấp 3 sau đó làm hiệu phó kiêm bí thư Đảng uỷ trường ĐHSP Qui Nhơn mới thành lập. Phần lớn các thầy cô giáo quê miền Nam đều được điểu về giảng dạy tại các trường miền Nam vừa giải phóng. Về Đại học Cần Thơ có thầy Lê Tố. Về đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh có các thầy cô : Trần Xuân Đề, Phạm Thị Hảo, Hồ Văn Nho, Nguyễn Tấn Phát, Trần Hoàn, Đinh Xuân Hiền, Hồ Sĩ Hiệp, Phùng Quí Nhâm, Nguyễn Thị Hai, Nguyễn Thị Nhung, Lê Văn Sơn, Lê Ngọc Trà, Lâm Quang Vinh, Nguyễn Thị Mĩ Hoà, Nguyễn Thị Diệu Biên. Về đại học sư phạm Huế có cô Nguyễn Thị Hoàng, thày Nguyễn Tiến Hùng, thầy Nguyễn Xuân Tự cũng về Huế làm hiệu trưởng trường Quốc học sau đó mới chuyển về ĐHSP Huế.
    Năm 1976, trên đà phát triển nhanh chóng của nền đai học, trường ĐHSP II (Xuân Hoà) ra đời - khoa Ngữ văn ĐHSP Hà Nội lại phải cử cán bộ đi xây dựng khoa Văn cho ĐHSP Hà Nội 2. Thầy Đinh Trọng Lạc làm chủ nhiệm. Thầy Đào Nguyên Tụ làm phó chủ nhiệm - Thầy Trần Tiến Đức và Thầy Bùi Minh Toán làm chủ nhiệm bộ môn. Nguyễn Thị Bích Hà, Lê Hữu Tỉnh làm cán bộ giảng dạy. Việc giảng dạy ở khoa Văn Trường Đại học Sư phạm Xuân Hoà trong 2, 3 năm đầu chủ yếu là do khoa Văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội I đảm nhiệm. Năm 1981, thầy Thành Thế Thái Bình được cử làm chủ nhiệm khoa Văn, sau đó là Hiệu trưởng trường ĐHSP Hà Nội 2. Riêng thầy Lê Trí Viễn, từng là một chủ nhiệm lâu năm (từ 1963) và có nhiều sáng kiến đóng góp trong việc xây dựng phát triển khoa về mọi mặt, đến năm 1978 cũng chuyển vào ĐHSP thành phố Hồ Chí Minh. Thầy  Đỗ Bình Trị làm quyền chủ nhiệm khoa (1978-1982). Thầy Nguyễn Đức Nam cũng được điều lên Bộ làm phó ban cải cách sư phạm, rồi thầy Đỗ Bình Trị được điều lên Bộ làm Cục phó Cục đào tạo và bồi dưỡng. Chức chủ nhiệm khoa lại do thầy Đỗ Hữu Châu đảm nhận. Sự hao hụt về đội ngũ cán bộ giảng dạy như thế là quá lớn mặc dù vẫn có sự bổ sung. Thầy Nguyễn Khắc Phi sau mấy chục năm từ khoa Văn ĐHTH Hà Nội vào dạy khoa văn ĐHSP Vinh nay trở lại khoa Văn ĐHSP Hà Nội. Thầy Lương Duy Thứ cũng từ khoa Văn ĐHSP Việt Bắc về công tác tại khoa. Khoa còn đón thêm một số vốn là cán bộ giảng dạy cấp II của trường Đại học Sư phạm Hà Nội đang giải thể, gồm các thầy : Trần Đức Ngôn, Trần Thanh Xuân, Vương Mộng Bưu, Nguyễn Xuân Hậu,  Nguyễn Hoàng Tuyên … Các thầy Trần Đình Sử, La Khắc Hoà, Lê A vốn là cán bộ giảng dạy ĐHSP Vinh, và khoa cấp II sau khi bảo vệ luận án PTS (nay gọi là Tiến sĩ) ở Liên Xô (cũ) về nước cũng được phân về khoa Văn trường ĐHSP Hà Nội. Thầy Nguyễn Thái Hoà, Nguyễn Xuân Khoa cũng từ Trường Đại học Sư phạm Vinh chuyển ra khoa Văn trường ĐHSP Hà Nội. Ngoài ra, năm này, năm khác từ năm 1975, vẫn có một số sinh viên tốt nghiệp được giữ lại làm cán bộ giảng dạy của khoa gồm: Hà Thị Hoà, Tạ Thanh Kim, Ngô Thị Thắng, Lê Lưu Oanh, Phùng Ngọc Kiếm, Nguyễn Bình Sơn, Nguyễn Thị Lương, Nguyễn Thị Thìn, Trần Đăng Xuyền, Nguyễn Thị Bình, Lã Nhâm Thìn, Đinh Văn Thiện, Trần Hạnh Mai, Phan Hồng Xuân, Lê Tuấn Anh, Nguyễn Thị Bích Liên, Chu Văn Sơn (sau vài năm dạy ở ĐHSP Quy Nhơn)… Từ 1990 thì có thêm: Hà Văn Minh, Lê Nguyên Cẩn, Trần Lê Bảo, Lê Huy Bắc, Đỗ Hải Phong, Thành Đức Hồng Hà, Trần Mạnh Tiến, Lê Quang Hưng, Nguyễn Thanh Minh, Nguyễn Ngân Hoa, Trần Hoa Lê, Dương Tuấn Anh, Trần Văn Toàn, Nguyễn Thị Từ Huy, Đặng Hảo Tâm… Ngoài ra còn có Phan Thị Hồng Hạnh, Đỗ Việt Hùng, Vũ Anh Tuấn… từ nơi khác chuyển về.
    Bên cạnh tình hình cán bộ giảng dạy như trên, bộ phận cán bộ văn phòng của khoa cũng có sự thay đổi. Anh Nguyễn Viết Hưng, cán bộ văn phòng chuyển đi làm trưởng phòng giáo vụ của Trường Cao đẳng Nhạc Hoạ. Cán bộ tổ chức của khoa là anh Trần Văn Sánh cũng lên Bộ làm trưởng phòng Lưu trữ. Trong khi đó có những cán bộ được tiếp tục bổ sung gồm: Trần Thị Thanh, Quách Thị Nhã, Nguyễn Thị Minh Đức, Thái Hương Sen, Lê Hải Anh, Đỗ Thu Hà, Nguyễn Thị Thu Hương, Nguyễn Kim Oanh, Nguyễn Chí Trung, Nguyễn Thuỷ Nguyên.
    Đảm nhiệm công việc chủ nhiệm khoa, sau thầy Đỗ Hữu Châu là thầy Trần Đình Sử (từ 1990 đến 1995), thầy Trần Đăng Xuyền (từ 1996 đến 2004), thầy Lã Nhâm Thìn (từ 2005 đến 2008) và hiện nay là thầy Đỗ Việt Hùng.
    Đúng là sau 1975, tình hình đội ngũ cán bộ giảng dạy cũng như cán bộ văn phòng của khoa Ngữ văn có nhiều thay đổi - nhưng có thay đổi gì thì với khoa, vẫn là một chặng đường phát triển mới, với những nhiệm vụ vừa quen thuộc vừa mới mẻ, nhưng đều được hoàn thành tốt đẹp.
    Trước hết, về đào tạo, hệ thống 4 năm đã được cố định. Số lượng tuyển sinh hàng năm cũng ổn định. Điều mới là bên cạnh hệ đại học chính quy, khoa còn tham gia đào tạo các hệ hàm thụ, hệ vừa học vừa làm, hệ tại chức, hệ đào tạo từ xa, hệ đào tạo chính quy theo địa chỉ… Thêm nữa, là hệ cao học (sau này chuẩn hoá thành thạc sĩ), bắt đầu từ năm học 1976-1977, đến nay đã có trên 30 khoá, đào tạo được trên 2.000 Thạc sĩ . Cũng bắt đầu từ năm học 1976-1977, trường ĐHSP Hà Nội được nhà nước công nhận là một trong 6 đơn vị (gồm các Viện khoa học, và trường đại học) được phép đào tạo đào tạo phó tiến sĩ, nay là tiến sĩ. Thầy Đỗ Hữu Châu, thầy Diệp Quang Ban, cô Đặng Anh Đào, cô Thái Thu Lan, thầy Nguyễn Ngọc San, cô Nguyễn Thị Hoàng là thuộc lớp cán bộ của khoa đi đầu trong việc làm nghiên cứu sinh, bảo vệ thành công luận án. Tính đến tháng 09/2001, khoa ngữ văn đã đào tạo 112 tiến sĩ. Trong đó, một số là người nước ngoài: Lào, Campuchia, Hàn Quốc. Riêng về luận án tiến sỹ khoa học (văn học) được bảo vệ ở trong nước thì chỉ mới có một trường hợp của thày Bùi Văn Ba. Cũng cần nói thêm là năm học 1980-1981, theo chủ trương của Bộ Giáo dục và trường ĐHSP Hà Nội, khoa Ngữ văn còn đào tạo thí điểm hệ 5 năm đặc biệt có trình độ tương đương sau đại học. Đã có 3 khóa đào tạo thí điểm thành công nhưng sau thấy không cần tiếp tục vì hệ sau đại học đã đi vào nề nếp.
    Khoa Ngữ văn còn làm nhiệm vụ thỉnh giảng. Sau 1975 mấy năm liền, khoa không chỉ thỉnh giảng ở khoa Văn trường ĐHSP Xuân Hoà mà còn ở khoa Văn trường ĐHSP thành phố Hồ Chí Minh, ĐHSP Huế, ĐHSP Qui Nhơn, kể cả ĐHSP Cần Thơ. Ngoài ra, nhiều cán bộ của khoa còn tham gia giảng dạy ở các trường đại học khác có dạy văn như đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, ĐHTH Huế, ĐH Văn hoá, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh,  trường viết văn Nguyễn Du…Khoa còn làm nhiệm vụ quốc tế. Với nước bạn Lào, ngay ở thời kỳ chống Mĩ, khoa đã cử  cán bộ giảng dạy sang giúp bạn mở lớp đào tạo đại học ở Khang Khay gồm: Thành Thế Thái Bình, Nguyễn Nghĩa Dân, Đào Nguyên Tụ, Hoàng Thung, Đinh Việt Anh… Sau ngày nước bạn được giải phóng hoàn toàn, tại đại học Viên Chăn, khoa vẫn thường xuyên cử cán bộ sang giúp bạn đào tạo ngay đại học và bồi dưỡng cán bộ. Với nước bạn Cămpuchia, ngay sau ngày được giải phóng khỏi hoạ diệt chủng của bọn Pôn pốt, khoa cũng đã liên tục cử cán bộ giảng dạy sang Pnôm Pênh giúp bạn mở lại trường đại học Pnôm Pênh, trực tiếp dạy tiếng Việt và một số chuyên ngành khác, kể cả việc giúp bạn biên soạn giáo trình lịch sử văn học Cămpuchia.
    Song song với nhiệm vụ đào tạo ở đủ loại hình, khắp trong nước, kể cả nước ngoài như vừa nói, khoa vẫn coi trọng việc nghiên cứu khoa học vốn đã có truyền thống từ trước, cả trên 2 hướng: khoa học cơ bản và khoa học sư phạm. Nhiều giáo trình được biên soạn mới. Nhiều giáo trình đựơc chỉnh lý để có chất lượng cao hơn. Nhiều cán bộ của khoa vẫn thường xuyên xuất hiện trên các tạp chí chuyên ngành, trên nhiều báo chí ở trung ương và địa phương.
    Trong đợt phong học hàm đầu tiên vào năm 1980 (sau mấy chục năm không phong) khoa có 1 giáo sư (Lê Trí Viễn), 4 phó giáo sư (Huỳnh Lý, Nguyễn Trác, Trương Chính, Bùi Văn Nguyên). Đợt II vào năm 1984 có 2 giáo sư (Nguyễn Đức Nam, Bùi Văn Nguyên) và 17 vị phó giáo sư (Đặng Thanh Lê, Nguyễn Đình Chú, Đỗ Bình Trị, Nguyễn Đăng Mạnh, Đỗ Hữu Châu, Phan Trọng Luận, Bùi Văn Ba, Nguyễn Hải Hà, Phùng Văn Tửu, Hoàng Dung, Lương Duy Thứ, Nguyễn Khắc Phi, Thành Thế Thái Bình, Nguyễn Xuân Nam, Đinh Trọng Lạc, Đặng Đức Siêu, Nguyễn Ngọc San); Đợt 3 (1991-1992) có 9 giáo sư (Đỗ Hữu Châu, Phan Trọng Luận, Nguyễn Đình Chú, Đặng Thanh Lê, Bùi Văn Ba, Nguỹên Hải Hà, Phùng Văn Tửu, Lương Duy Thứ, Nguyễn Đăng Mạnh), 10 phó giáo sư (Lưu Đức Trung, Nguyễn Hoành Khung, Trần Đình Sử, Đặng Anh Đào, Nguyễn Thái Hoà, Diệp Quang Ban, La Khắc Hoà, Lê A, Nguyễn Thanh Hùng, Nguyễn Văn Long). Đợt 4 (1996) có 4 giáo sư (Nguyễn Ngọc San, Diệp Quang Ban, Trần Đình Sử, Nguyễn Thanh Hùng), 7 phó giáo sư (Đoàn Trọng Huy, Nguyễn Nghĩa Trọng, Nguyễn Đăng Na, Trần Đăng Xuyền, Trần Đức Ngôn, Nguyễn Thị Thanh Hương, Nguyễn Quang Ninh C). Trong số các giáo sư, phó giáo sư kể trên, trong giai đoạn này công tác tại khoa có 12 giáo sư, 18 phó giáo sư (trong đó có một từ nơi khác mới chuyển về). Về học vị, đến 2005 có: tiến sĩ khoa học: 2 (Nguyễn Nghĩa Trọng, Bùi Văn Ba), tiến sĩ: 38(Đỗ Hữu Châu, Diệp Quang Ban, Đặng Anh Đào, Lê A, Nguyễn Thái Hoà, Nguyễn Ngọc San, La Khắc Hoà, Trần Đình Sử, Nguyễn Thanh Hùng, Đoàn Trọng Huy, Trần Đăng Xuyền, Lê Lưu Oanh, Phùng Ngọc Kiếm, Đinh Thị Khang, Phạm Thu Yến, Nguyễn Thị Bích Hà, Lê Trường Phát, Nguyễn Đăng Na, Lã Nhâm Thìn, Nguyễn Thị Bình, Đỗ Việt Hùng, Bùi Minh Toán, Nguyễn Viết Chữ, Lê Quang Hưng, Nguyễn Thanh Hương, Vũ Anh Tuấn, Trần Lê Bảo, Nguyễn Quang Ninh C, Lê Huy Bắc, Hà Thị Hoà, Đỗ Hải Phong, Nguyễn Thị Lương, Nguyễn Thị Thìn, Lê Nguyên Cần, Trần Mạnh Tiến, Trần Hạnh Mai, Chu Văn Sơn).
    Nhiều giáo sư trong khoa đã giữ các chức vụ trong các tổ chức, hiệp hội khoa học (Đỗ Hữu Châu: Chủ tịch hội Ngôn ngữ học Việt Nam; Bùi Văn Ba: Chủ tịch Hội đồng lý luận và phê bình thuộc hội nhà văn Việt Nam), tham gia các chương trình khoa học quốc gia (Nguyễn Hải Hà, Nguyễn Đình Chú : cộng tác viên thường trực chương trình quốc gia KX- 07.01), tham gia hội đồng môn Ngữ văn của Bộ giáo dục (cũ) và Bộ Giáo dục và Đào tạo: Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đình Chú, Nguyễn Đăng Mạnh, Diệp Quang Ban, Bùi Văn Ba, Phan Trọng Luận, Nguyễn Thanh Hùng, Nguyễn Hoành Khung, Trần Đình Sử, Phùng Văn Tửu…
    Nhiều cán bộ giảng dạy của khoa cũng đã đựơc phong tặng các danh hiệu nhà giáo nhân dân, nhà giáo ưu tú. Những thầy giáo đã và đang công tác trong khoa được phong danh hiệu nhà giáo nhân dân gồm : Nguyễn Lương Ngọc, Vũ Đình Liên, Lê Trí Viễn, Huỳnh Lý, Nguyễn Đình Chú, Nguyễn Đăng Mạnh, Bùi Văn Ba, Trần Đình Sử, Nguyễn Ngọc San, Nguyễn Văn Long, Nguyễn Hải Hà, Phan Trọng Luận.
    Khoa Ngữ văn được tặng thưởng Huân chương lao động hạng III, hạng II; nhiều thầy cô giáo trong khoa đã được tặng huân chương kháng chiến I,II, III, huân chương lao động III, II. Nhiều giáo sư đã từng công tác ở khoa đựơc tặng giải thưởng Hồ Chí Minh: Đặng Thai Mai, Trần Văn Giàu, Trần Đức Thảo, Đào Duy Anh, Cao Xuân Huy, Cao Huy Đỉnh. Riêng năm 2000 có 6 giáo sư được giải thưởng Nhà nước: Trương Chính, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đăng Mạnh, Bùi Văn Ba, Phan Trọng Luận, Trần Đình Sử.

2. Từ 2001 - nay

Sau nửa thế kỉ xây dựng và phát triển, Khoa Ngữ văn Trường Đại học sư phạm Hà Nội bước tiếp chặng đường mới với những đặc điểm mới, thành tựu mới, định hướng mới.
1. Những đặc điểm mới
    Từ năm 2002, Khoa Ngữ văn bước vào giai đoạn chuyển giao thế hệ lớn nhất trong lịch sử của khoa: nhiều giáo sư, nhiều chuyên gia đầu ngành, nhiều thầy cô có bề dày kinh nghiệm giảng dạy nghỉ hưu, nhiều cán bộ giảng dạy trẻ được giữ lại tạo nguồn hoặc những cán bộ trẻ từ các trường, các viện nghiên cứu... được chuyển về làm công tác giảng dạy tại khoa. Chỉ tính riêng năm 2002, số cán bộ giảng dạy của khoa nghỉ hưu là 9 GS, 7 PGS. Điều này đã tạo nên một khoảng trống lớn về đội ngũ giảng dạy của Khoa, nhất là những CBGD có trình độ cao.
    Suốt nửa thế kỉ, khoa Ngữ văn lại ở vào giai đoạn trẻ nhất với một phần ba số cán bộ giảng dạy ở độ tuổi dưới 30. Sự trẻ hóa đội ngũ này đã đem đến cho khoa những thuận lợi mới và cả những khó khăn mới. Đội ngũ trẻ với sự năng động và nhiệt huyết thật dồi dào nhưng tầm cao tri thức và bề dày kinh nghiệm cần phải có thời gian bồi đắp.
    Đảm nhận công tác quản lí, lãnh đạo khoa trong thời gian này là GS. TS Trần Đăng Xuyền tiếp tục làm Chủ nhiệm khoa nhiệm kì thứ hai cho đến tháng 12 năm 2003. Sau đó PGS.TS Lã Nhâm Thìn làm Chủ nhiệm khoa từ tháng 01 năm 2004 đến năm 2008, PGS.TS Đỗ Việt Hùng từ 2008 đến nay. Tham gia Ban chủ nhiệm khoa, có các Phó chủ nhiệm khoa: PGS.TS Phạm Thu Yến, PGS.TS Phùng Ngọc Kiếm, PGS.TS Đỗ Việt Hùng, PGS.TS Đỗ Hải Phong, TS. Trần Hạnh Mai. Bí thư Đảng uỷ khoa, sau GS.TS Trần Đăng Xuyền là PGS.TS Phùng Ngọc Kiếm giữ chức vụ này từ tháng 11 năm 2004 đến 2008, PGS.TS Lã Nhâm Thìn từ 2008 đến nay .
    Đảm nhận công tác quản lí lãnh đạo tổ chuyên môn: PGS. TS Nguyễn Đăng Na tiếp tục làm Trưởng bộ môn Văn học Việt Nam I, kế tiếp là PGS.TS Vũ Anh Tuấn; PGS. TS Nguyễn Văn Long tiếp tục làm Trưởng bộ môn Văn học Việt Nam II, kế tiếp là PGS. TS Nguyễn Thị Bình; PGS.TS Trần Lê Bảo tiếp tục làm Trưởng bộ môn Văn học nước ngoài, kế tiếp là PGS. TS Đỗ Hải Phong, PGS.TS Lê Huy Bắc; PGS.TS La Khắc Hoà kế nhiệm GS.TS Trần Đình Sử làm Trưởng bộ môn Lí luận Văn học, tiếp sau là PGS. TS Lê Lưu Oanh; GS.TS Bùi Minh Toán tiếp tục làm Trưởng bộ môn Ngôn ngữ, tiếp sau là PGS. TS Nguyễn Thị Lương; GVC Bùi Thanh Hùng kế nhiệm PGS Đặng Đức Siêu làm Trưởng bộ môn Hán Nôm, tiếp đó là TS. Hà Văn Minh; PGS.TS Nguyễn Quang Ninh kế nhiệm GS.TS Nguyễn Thanh Hùng làm Trưởng bộ môn Phương pháp giảng dạy ngữ văn; PGS. TS Nguyễn Bích Hà làm Trưởng bộ môn Việt Nam học; ThS Nguyễn Chí Trung kế nhiệm ThS Quách Thị Nhã làm Tổ trưởng tổ Văn phòng.
Do yêu cầu phát triển, từ tháng 10 năm 2005, trường đã quyết định tách bộ môn Việt Nam học để thành lập khoa Việt Nam học do PGS. TS Nguyễn Bích Hà làm Trưởng khoa, PGS. TS Lê Quang Hưng làm Phó trưởng khoa. Theo đó, một bộ phận cán bộ của khoa Ngữ văn đã chuyển biên chế sang khoa Việt Nam học. Hiện nay, khoa Việt Nam học tiếp tục phát triển, PGS. TS Lê Quang Hưng làm Trưởng khoa, TS Dương Tuấn Anh (cán bộ Bộ môn Hán Nôm khoa Ngữ văn) kiêm nhiệm làm Phó trưởng khoa.
Đáp ứng nhu cầu giảng dạy môn Cơ sở văn hoá Việt Nam cho các hệ đào tạo của trường, Ban giám hiệu đã quyết định thành lập Nhóm nghiên cứu và giảng dạy Cơ sở văn hoá Việt Nam trực thuộc Trường, đặt tại Khoa Ngữ văn, GS. TS Trần Đăng Xuyền kế nhiệm PGS. Đặng Đức Siêu làm Trưởng nhóm. Bên cạnh đó, một số Trung tâm nghiên cứu của Trường do cán bộ của Khoa làm nòng cốt vẫn tiếp tục duy trì và phát triển, như Trung tâm Việt Nam học do GS. Đặng Thanh Lê làm giám đốc; Trung tâm Trung Quốc học do GS. TSKH Bùi Văn Ba và kế tiếp là PGS. TS Trần Lê Bảo làm giám đốc; Trung tâm nghiên cứu và giảng dạy Hán Nôm do PGS. Đặng Đức Siêu và kế tiếp là TS. Hà Văn Minh làm giám đốc...
    Cũng từ sau năm 2000, khoa Ngữ văn cùng với Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và ngành giáo dục trong cả nước có những đổi mới to lớn về nội dung chương trình và phương pháp dạy - học. Nhu cầu cập nhật hóa, hiện đại hóa kiến thức về nội dung, nhu cầu vận dụng những tiến bộ khoa học, nhất là khoa học công nghệ thông tin vào giảng dạy trở thành nhu cầu bức thiết đối với từng người. Điều này đã đặt khoa Ngữ văn trước những thời cơ mới và cả những thách thức mới.
    Xu hướng hội nhập với khu vực và thế giới trở thành một xu hướng lớn có tác động mạnh mẽ tới khoa, làm nên một đặc điểm của khoa trong những năm đầu thế kỉ mới.

2. Những thành tựu mới

    - Thành tựu mới đầu tiên, tuy không lượng hóa được thành những con số, những biểu đồ nhưng lại hết sức quan trọng. Đó là những đổi mới về nhận thức: Khoa Ngữ văn chỉ có thể tiếp tục rực sáng bằng cả ánh sáng rạng rỡ của nửa thế kỉ đầy hào quang và ánh sáng của thế hệ mới tiếp nối truyền thống sau năm 2000.
    - Khoa Ngữ văn đã làm tốt cuộc chuyển giao thế hệ. Các GS, PGS tuy đã nghỉ hưu về chế độ, chính sách nhưng không ngơi nghỉ công việc giảng dạy, công tác đào tạo của khoa. Nhiều thầy cô vẫn tham gia tích cực công việc giảng dạy, đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ, vẫn tâm huyết và nhiệt tình trong việc bồi dưỡng cán bộ trẻ.
    Với tiềm lực sẵn có trong truyền thống cùng với sự nỗ lực trong hiện tại, khoa đã từng bước thu hẹp những khoảng cách về đội ngũ cán bộ giảng dạy do cuộc chuyển giao thế hệ tạo ra. Từ năm 2002 đến 2010 khoa đã có thêm 3 GS, 20 PGS, 15 TS. Nhiều cán bộ trẻ của khoa đang làm NCS trong nước và nước ngoài. Một trăm phần trăm số cán bộ trẻ có trình độ thạc sĩ hoặc đang học cao học. Khoa Ngữ văn vẫn giữ vững vị thế và phát huy sức mạnh của đơn vị đứng ở hàng đầu công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học chuyên ngành ngữ văn lớn nhất trong cả nước.
    Khoa Ngữ văn có thêm 2 giải thưởng Nhà nước về nghiên cứu khoa học với các công trình của GS Bùi Văn Nguyên, GS Phùng Văn Tửu.
    - Về công tác đào tạo, khoa đã hoàn thành nhiệm vụ các năm học với khối lượng lớn. Kết quả học tập của sinh viên hàng năm hệ chính quy đạt chất lượng tốt với tỉ lệ giỏi: 7%; khá: 40%.
    Khoa vừa mở rộng các hệ đào tạo ngoài trường, vừa đa dạng và đa ngành hoá đào tạo: đào tạo văn bằng 2, dạy tiếng Việt và văn học cho người nước ngoài: lớp lưỡng quốc cử nhân sinh viên Hàn Quốc đã tốt nghiệp khoá I (5 SV), đang đào tạo lớp lưỡng quốc cử nhân sinh viên Hàn Quốc khoá II (9 SV) và khoá III (11SV);  lớp sinh viên Trung Quốc học tếng Việt đã kết thúc khoá I (39 SV), đang tiếp tục khoá II (120 SV). Ngoài ra còn có những sinh viên Hàn Quốc, Canada... theo học chương trình cử nhân, thạc sĩ tại khoa. Mở rộng liên kết với các trường đại học ở nước ngoài trong đào tạo và nghiên cứu khoa học (hệ Lưỡng quốc cử nhân với Đại học quốc gia Busan – Hàn Quốc, tham gia các hội nghị khoa học ở Hàn Quốc, Trung Quốc,…).
     Hệ thống giáo trình mới ở tất cả các hệ về cơ bản đã hoàn thành trên cơ sở cập nhật những thông tin khoa học mới nhất về chuyên ngành trong, ngoài nước.
    Chú trọng việc ứng dụng công nghệ thông tin vào việc đổi mới phương pháp giảng dạy. Thường xuyên tổ chức hội nghị khoa học toàn thể sinh viên (số lượng tham gia khoảng 55 %) và hội nghị khoa học các lớp chất lượng cao (số lượng tham gia 100%) có kết hợp với trường Đại học KHXH & NV -  Đại học Quốc gia Hà Nội (các năm 2005, 2006…).
    Góp phần to lớn vào việc đổi mới chương trình và sách giáo khoa phổ thông, nhiều cán bộ giảng dạy của khoa là Tổng chủ biên, chủ biên, tác giả sách giáo khoa từ bậc tiểu học đến bậc trung học phổ thông.
    - Về nghiên cứu khoa học, trong những năm vừa qua, khoa đã tham gia thực hiện 5 đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước, trong đó có 1 đề tài do khoa chủ trì, 30 đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, 50 đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường.
    Tổ chức nhiều Hội nghị khoa học đạt kết quả tốt, có ý nghĩa cả về khoa học và thực tiễn: Cấp quốc tế: Hội nghị khoa học kỷ niệm 400 năm Đôn Kihôtê (2004)…; Cấp quốc gia: Những nhà nghiên cứu ngữ văn trẻ lần hai (2002); Đổi mới phương pháp giảng dạy ngữ văn (2002); Văn học so sánh (2004); Văn học Việt Nam sau 1975 – những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy (2005), một trong những kết quả lớn của hội nghị khoa học này là sự ra đời của cuốn sách Văn học Việt Nam sau 1975 – những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy; Nghiên cứu và giảng dạy Hán Nôm trong trường cao đẳng và đại học (2005)…; Cấp trường: Kinh Dịch (2001); Kỉ niệm 100 năm ngày mất Sê-khốp (2004)….
    Trong 10 năm qua, các cán bộ trong khoa đã viết khoảng 900 bài báo, khoảng 200 cuốn sách gồm chuyên luận, giáo trình, giáo khoa.
Nhận thức rõ việc giáo dục đại học không thể tách rời với nghiên cứu khoa học, những khoa học cụ thể không thể phát triển nếu không dựa trên khoa học cơ bản, khoa Ngữ văn đã  liên tục động viên, tạo điều kiện cho các nhà khoa học nghiên cứu, công bố kết quả nghiên cứu khoa học, phục vụ việc giảng dạy tại tất cả các hệ đào tạo. Hiện nay, số sách chuyên luận của các cán bộ trong khoa đã lên tới hàng trăm. Có thể nhắc đến một số chuyên luận nổi tiếng như: Học tập thơ văn chủ tịch Hồ Chí Minh (Nguyễn Đăng Mạnh), Truyện Kiều và thể loại truyện Nôm (Đặng Thanh Lê), Thi pháp thơ Tố Hữu (Trần Đình Sử), Các trường phái nghiên cứu phê bình văn học Phương Tây thế kỉ XX (Bùi Văn Ba),v.v…
    Khoa thường xuyên tổ chức các sinh hoạt học thuật hàng tháng. Nhiều nhà khoa học Việt Nam và quốc tế đã dược mời đến thuyết trình và trao đổi về khoa học. Khoa Ngữ văn vừa là nơi khởi xướng, vừa là đơn vị mũi nhọn về nghiên cứu thi pháp học, phong cách học, ngữ dụng học v.v...
    - Về xây dựng đội ngũ, hiện nay khoa đang ở vào thời kì trẻ hoá đội ngũ cán bộ giảng dạy. Bên cạnh các thế hệ bậc thầy, các thế hệ đàn anh vẫn tiếp tục công tác tại khoa như GS.TSKH Bùi Văn Ba, GS.TS Trần Đình Sử, GS.TS Nguyễn Thanh Hùng, GS.TS Bùi Minh Toán, PGS.TS Nguyễn Đăng Na, PGS.TS La Khắc Hoà, PGS.TS Nguyễn Quang Ninh, có cả một đội ngũ khá hùng hậu những người làm công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học như GS.TS Trần Đăng Xuyền, PGS.TS Trần Lê Bảo, PGS.TS Lê Nguyên Cẩn, PGS.TS Lê Trường Phát, PGS.TS Nguyễn Bích Hà, PGS.TS Lã Nhâm Thìn, PGS.TS Phạm Thu Yến, PGS.TS Vũ Anh Tuấn, PGS.TS Lê Lưu Oanh, PGS.TS Phùng Ngọc Kiếm, PGS.TS Nguyễn Thị Bình, PGS.TS Lê Quang Hưng, PGS.TS Đỗ Việt Hùng, PGS.TS Lê Huy Bắc, PGS.TS Đinh Thị Khang, PGS.TS  Hà Thị Hoà, PGS. TS Đỗ Hải Phong, PGS. TS Nguyễn Thị Lương; PGS. TS Trần Mạnh Tiến; PGS. TS Vũ Thanh; PGS. TS Nguyễn Viết Chữ, TS Chu Văn Sơn, TS Trần Hạnh Mai, TS Nguyễn Thị Thanh Minh,  TS Nguyễn Thị Mai Liên, TS Đặng  Hảo Tâm, TS Nguyễn Thị Ngân Hoa, TS. Hà Văn Minh, TS. Lê Hải Anh, TS. Trần Văn Toàn, TS. Phạm Thu Hương, TS. Nguyễn Ái Học, TS. Trịnh Thị Lan, TS. Nguyễn Thu Thuỷ, TS. Trần Kim Phượng; TS. Nguyễn Phượng; TS. Dương Tuấn Anh, TS. Nguyễn Thanh Chung, TS. Đặng Thu Thuỷ v.v...
- Về xây dựng cơ sở vật chất, thư viện khoa ngày càng được củng cố và mở rông với số lượng sách phục vụ chuyên ngành đáp ứng được nhu cầu học tập và NCKH của sinh viên, cao học, nghiên cứu sinh. Khoa đã có một phòng học chuẩn với trang thiết bị dạy và học khá hiện đại.
Bên cạnh Quỹ học bổng Nguyễn Tuân, Giải thưởng Huỳnh Lý, Giải thưởng khuyến khích tài năng trẻ, khoa đã có thêm Giải thưởng NCS xuất sắc trong năm. Các giải thưởng này được trao cho các SV, NCS xuất sắc từng khoá, từng năm, có tác dụng động viên lớn đối với SV, cao học, NCS trong học tập và nghiên cứu khoa học.
    - Về những hoạt động của các tổ chức Đảng, đoàn thể.
    Đảng bộ khoa là trung tâm đoàn kết, giáo dục và định hướng tư tưởng cho SVvà cán bộ toàn khoa, thực hiện tốt nhiệm vụ của Bộ và Trường giao cho. Đảng bộ luôn chú ý tới công việc phát triển Đảng trong cán bộ và sinh viên. Trong 5 năm, Đảng bộ  đã kết nạp được 15 Đảng viên mới.
    Từ năm 2001 đến 2005 , Công đoàn khoa Ngữ văn luôn được xếp loại Công đoàn xuất sắc. Các cuộc thi do Công đoàn cấp trên tổ chức, công đoàn khoa đều tham gia với thành tích cao.    Công đoàn khoa luôn tổ chức các kì nghỉ hè bổ ích và lý thú cho cán bộ: năm 2002: Đà Lạt; 2003: Malaisia và Singapore; 2004: Trung Quốc; 2005: Sapa; 2006: Campuchia. Trong tình hình hội nhập khu vực và quốc tế hiện nay, việc làm này của khoa rất có ý nghĩa. Công đoàn khoa chú ý tới công tác phụ nữ. Hàng năm vào dịp 8/3 đều tổ chức cho chị em đi du xuân : Lạng Sơn, Thác Đa, Bắc Ninh…Nhìn chung, Công đoàn hoạt động tích cực, nhiều sáng kiến, góp phần tạo bầu không khí dân chủ, đoàn kết, phục vụ công tác chuyên môn có hiệu quả.
    Chi đoàn cán bộ giảng dạy có vai trò, vị trí quan trọng trong khoa.  Trong 5 năm gần đây, nhiều cán bộ trẻ được tuyển dụng, số Đoàn viên lên tới 39 người, tạo nên một sinh khí mới cho các hoạt động của khoa. Đoàn viên chi đoàn tham gia các công tác phong trào: Thi sinh viên thanh lịch, thi Nghiệp vụ sư phạm, các cuộc thi nhân dịp 26-3, 8-3, 20-11… Đặc biệt, chi đoàn đã ra mắt Tạp san Ngữ văn học của cán bộ trẻ. Tạp san là nơi các cán bộ trẻ trình bày kết quả nghiên cứu khoa học và dịch thuật. Chi đoàn hoạt động tích cực, có hiệu quả, tạo nên không khí trẻ, hăng say nhiệt tình trong mọi công tác của khoa.
    Liên chi đoàn khởi xướng nhiều hoạt động, nhiều phong trào trở thành truyền thống của khoa: Khởi xướng Hội thi thanh lịch từ năm 2000 và trở thành truyền thống; Khởi xướng Câu lạc bộ thơ văn và trở thành nòng cốt Câu lạc bộ thơ văn của Trường; Khởi xướng phong trào dạy học tình nguyện cho trẻ em khuyết tật từ năm 2001, dạy Hán Nôm tình nguyện cho cán bộ và sinh viên, tiếp tục duy trì từ năm 2001 đến nay. Liên chi đoàn liên tục được Trường ĐHSP Hà Nội và tổ chức Đoàn các cấp công nhận là đơn vị có phong trào sinh viên tình nguyện sôi nổi và hiệu quả nhất. (Ví dụ: Phong trào Chung sức cùng cộng đồng, Giáo dục trẻ em khuyết tật, Hiến máu nhân đạo…); liên tục đoạt giải nhất và nhì Hội thi Nghiệp vụ sư phạm, sinh viên thanh lịch của Trường. Tham gia tích cực và thường xuyên dẫn đầu các Hội thi Nghiệp vụ của các trường đại học trong cả nước.
    - Những khen thưởng trong 10 năm gần đây:
- Tập thể lao động xuất sắc, các năm 2002, 2004, 2005, 2006, 2007, 2008, 2009, 2010.
- Bằng khen Bộ trưởng Bộ giáo dục & Đào tạo, năm 2003, 2004, 2005, 2006…
- Bằng khen của Uỷ ban nhân dân tỉnh Hải Dương về đào tạo nhân lực cho tỉnh, năm 2003.
- Bằng khen của thành Đoàn Hà Nội và Trung ương Đoàn : 2002, 2003, 2004, 2005, 2006, 2007, 2008, 2009, 2010.
- Bằng khen của Bộ Giáo dục và Đào tạo về thành tích NCKHSV: 2004.
- Bằng khen của Thủ tướng: 10 cán bộ.
- Bằng khen của Bộ giáo dục & đào tạo: 30 cán bộ.
- Bằng khen TƯ Đoàn và Thành Đoàn Hà Nội : 50 cán bộ, sinh viên.
- Bằng khen của Bộ Giáo dục và Đào tạo :15 SV và cán bộ Đoàn.

3. Những định hướng mới

- Khoa kết hợp và phát huy hai thế mạnh bề dày truyền thống và trẻ hoá đội ngũ. Những cán bộ giàu kinh nghiệm của khoa nhanh chóng truyền thụ kiến thức và kinh nghịêm cho thế hệ sau. Thế hệ sau tranh thủ học hỏi những người đi trước, tự tin và gánh vác những nhiệm vụ cơ bản của khoa trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học và quản lý. Đặc biệt, khoa chú ý phát huy thế mạnh của đội ngũ cán bộ trẻ (tốt nghiệp chuyên môn giỏi, ngoại ngữ tốt, thành thạo tin học, năng động, ham học hỏi, nhiệt tình ) trong mọi công việc, từ công tác chuyên môn đến các hoạt động đoàn thể, phong trào.
    - Để hiện đại hóa nội dung và phương pháp dạy - học, để có thể hội nhập và phát triển, một trong những nhiệm vụ hàng đầu của khoa là phải kết hợp, cùng một lúc nâng cao trình độ về chuyên ngành với trình độ công nghệ thông tin và trình độ ngoại ngữ. Đây là nhiệm vụ chung của toàn khoa nhưng trước hết là nhiệm vụ lớn, trọng tâm của các cán bộ giảng dạy trẻ. Những cán bộ giảng dạy trẻ hiện nay và là tương lai sau này của Khoa Ngữ văn phải là những người có trình độ cao về khoa học chuyên ngành, giỏi về ngoại ngữ, thành thạo trong việc vận dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy và nghiên cứu khoa học.
    - Kết hợp giữa chuyên ngành và đa ngành, đa dạng hóa trong đào tạo. Hướng phát triển lâu dài và bền vững của Khoa vẫn là khẳng định vị thế hàng đầu về chuyên ngành ngữ văn nhưng điều đó không có nghĩa là bó buộc và khép kín trong chuyên ngành. Những trang sử tiếp theo của Khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội sẽ phong phú, đa dạng hơn nếu có những trang, dòng viết về cử nhân văn học, cử nhân ngôn ngữ ngoài sư phạm, cử nhân văn học - báo chí, giảng dạy tiếng Việt, văn học cho người nước ngoài v.v...
    - Tiếp tục xu hướng hội nhập mạnh hơn, hiệu quả hơn. Khoa Ngữ văn có thế mạnh trong đào tạo sinh viên nước ngoài. Đó là thế mạnh về dạy tiếng Việt, dạy văn hóa Việt Nam, dạy văn học Việt Nam trong mối liên quan với nhiều ngành khoa học xã hội khác. Với sự năng động và tự tin, Khoa Ngữ văn đã không đứng chờ xu hướng hội nhập đưa vào quỹ đạo chung của thế giới. Khoa Ngữ văn đã chủ động, sẽ tích cực chủ động tham gia vào tiến trình hội nhập của khu vực và quốc tế.


    Khoa Ngữ văn là một trong những đơn vị lớn nhất, có một bề dày lịch sử và những thành tích lớn lao trong lịch sử xây dựng Trường Đại học sư phạm Hà Nội. Đội ngũ cán bộ đầu ngành tập trung ở khoa đã làm cho khoa Ngữ văn trong nhiều năm trở thành một trong những trung tâm có uy tín nhất về khoa học ngữ văn và sư phạm của cả nước.
    Khoa Ngữ văn luôn luôn cố gắng phát huy tối đa tác dụng đối với  ngành giáo dục, đối với xã hội trong nghiên cứu và giảng dạy chuyên ngành ngữ văn. Những thành tích, những đóng góp của khoa đã góp phần làm nên vị thế vững mạnh của trường Đại học sư phạm Hà Nội với tư cách là một trường trọng điểm quốc gia, trường đầu đàn của hệ thống các trường sư phạm trong cả nước.   
    Bốn đặc điểm và cũng là những truyền thống lớn hết sức quý báu của Khoa Ngữ văn đã được tổng kết nhân dịp kỉ niệm 50 năm thành lập khoa, cho đến hôm nay vẫn được giữ vững và phát huy.
    Trong quá khứ cũng như trong hiện tại và tương lai, đại gia đình Khoa Ngữ văn luôn là ngôi nhà lớn của trí tuệ và tình thương.
    Trải qua 60 năm xây dựng và phát triển, khoa Ngữ văn ĐHSP Hà Nội có những đặc điểm nổi trội mang tính chất truyền thống như sau:
    Đoàn kết nội bộ
    Trong thực tế, không phải không có sự va chạm ít nhiều giữa người này người khác ở lúc này lúc khác, nhưng nhìn trên tổng thể, suốt 60 năm qua, khoa Ngữ văn ĐHSP Hà Nội vẫn có một truyền thống đoàn kết thật đáng quí: Đoàn kết giữa những người trong Đảng và những người ngoài Đảng, giữa lớp già và lớp trẻ, giữa lớp già với nhau và lớp trẻ với nhau, giữa các thầy cô giáo với các cán bộ nhân viên. Chỉ cần tham dự một số buổi họp chung của toàn khoa, chỉ ít một số buổi gặp nhau đầu tuần ở văn phòng khoa, ai cũng dễ cảm nhận được cái không khí đoàn kết đã thành một đặc điểm mang tính truyền thống đó của khoa. Có được truyền thống đoàn kết đó, trước hết phải nói đến sự nâng đỡ của chính nghề nghiệp nhà giáo vốn  đòi hỏi mọi người luôn luôn phải cố gắng làm gương cho học trò; nhất là nghề giảng dạy văn chương giàu chất nhân bản, hướng con người tới chân - thiện - mĩ. Dĩ nhiên, còn phải nói đến công ơn của những bậc thầy đã sống và làm việc mẫu mực, góp phần lập đức, làm hạt nhân đoàn kết cho khoa mà hôm nay nhiều vị đã thành người thiên cổ. Các vị chủ nhiệm khoa đầu tiên như GS. Đặng Thai Mai, GS. Nguyễn Lương Ngọc, và các giáo sư như Nguyễn Trác, Huỳnh Lý… thực sự đã tiêu biểu cho những tấm gương sáng đẹp đó.
           Tôn sư trọng đạo
    Dân tộc ta từ bao đời đã có truyền thống tôn sư trọng đạo. Khoa Ngữ văn ĐHSP Hà Nội trong 50 năm qua cũng đã vun đắp, bảo vệ được truyền thống tốt đẹp đó của dân tộc để làm nên một đặc điểm của khoa. ở đây tinh thần trọng đạo được biểu hiện trước hết ở thái độ quý trọng nghề dạy học, ở ý thức tự rèn luyện để xứng đáng với tư cách là thầy cô giáo. Điều đó không chỉ là chuyện của các thầy cô. Nó cũng là chuyện của các thầy trò ngay trong khi còn ngồi trên ghế nhà trường mà sau đó họ cũng thành thày cô giáo. Trọng đạo phải đi đôi với tôn sư. Tôn sư là đạo lý của trò đối với thầy, dù là thầy già hay thầy trẻ, và cũng là đạo lý của lớp thầy trẻ đối với lớp thầy già. Có được truyền thống tôn sư đó,  một phần là nhờ trong suốt mấy chục năm qua, ở Khoa Ngữ văn ĐHSP Hà Nội từ cấp uỷ đảng, đến ban chủ nhiệm, các đoàn thể đã có nhiều chủ trương, nhiều biện pháp hữu hiệu nhằm tạo nên truyền thống gắn bó giữa thầy và trò, ở đây, ít nhiều tạo nên một áp lực tâm lý sẵn sàng lên án những ai vi phạm truyền thống tôn sư dù lúc còn ngồi trên ghế nhà trường hay lúc đã vào đời với bất cứ cương vị nào. Truyền thống trọng đạo tôn sư cũng dẫn đến truyền thống gắn bó giữa những người cựu sinh viên Văn ĐHSP Hà Nội đồng môn, đồng song. Các cuộc hội lớp, hội khoá chan chứa thân tình của cựu sinh viên Văn  ĐHSP Hà Nội, nhất là trong những năm gần đây đã phản ánh rõ nét truyền thống đó.
    Quyết tâm giữ vững thế mạnh trong đào tạo và nghiên cứu khoa học
    Đây là một thế mạnh đã có ngay từ buổi đầu thành lập, khoa nhờ sự có mặt của đội ngũ giáo sư tuy còn ít nhưng đều là những nhà văn hoá lớn, những  tri thức lớn của đất nước. Chính từ cái đà đó mà liên tục về sau, trong vòng nửa thế kỷ qua, khoa Ngữ văn ĐHSP Hà Nội vẫn luôn luôn cố gắng có được một đội ngũ thầy cô giáo trong đó số người giỏi khá nhiều, đủ khả năng duy trì được vị trí là một khoa mạnh vào loại nhất trong nhà trường ĐHSP Hà Nội. Chẳng những thế, đối với xã hội, nó cũng được tiếng là một đơn vị đào tạo và nghiên cứu Ngữ văn giàu uy tín. Không ít thầy cô giáo của khoa đã được dư luận coi là những nhà khoa học thuộc loại đầu ngành trong giới nghiên cứu văn học Việt Nam, văn học thế giới, lý luận văn học, ngôn ngữ học, phương pháp giảng dạy văn học, Hán Nôm. Có được điều đó, phải kể đến lòng quyết tâm tự học để vươn lên, tinh thần chủ động của những thầy cô giáo giỏi trong việc xác định quan niệm: trường ĐHSP Hà Nội làm nhiệm vụ sư phạm, đào tạo giáo viên nhưng trước hết phải cố gắng là nhà khoa học giỏi để trở thành nhà sư phạm giỏi - chỉ có thể giỏi sư phạm một khi đã có khoa học giỏi. Nhờ đó mà có thế mạnh được coi như là một đặc điểm nổi trội của khoa mà mọi thầy cô giáo trong khoa hôm nay sẽ tự hào và có trách nhiệm bảo vệ và phát triển.
    Gắn bó với sự nghiệp của ngành giáo dục và sự nghiệp chung của đất nước
    Là một đơn vị lớn trong nhà Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã và đang đóng vai trò “máy cái” của nền giáo dục Việt Nam, “đầu tàu” của hệ thống các trường sư phạm trong cả nước, suốt mấy chục năm qua, khoa Ngữ văn luôn luôn gắn bó, cố gắng phát huy tới mức tối đa tác dụng đối với toàn ngành giáo dục, đối với các trường sư phạm thuộc phạm vi cả nước chuyên ngành Ngữ văn, trên những hoạt động: đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, xây dựng chương trình, viết giáo trình, sách giáo khoa, tài liệu bồi dưỡng, tài liệu tham khảo ở đủ các cấp học từ tiểu học đến trung học cơ sở, trung học phổ thông, cao đẳng, đại học. Điều đó đã được dư luận toàn ngành khẳng định.
    Sự gắn bó của khoa không chỉ với ngành giáo dục mà còn với sự nghiệp chung của đất nước, trước hết là trên phương diện ý thức hệ, tư tưởng chính trị cơ bản của thời đại, và những nhiệm vụ lớn của đất nước: đấu tranh  chống thực dân Pháp xâm lược, chống đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà, xây dựng Tổ quốc theo định hướng XHCN bằng những hình thức cụ thể: thầy và trò cùng tham gia quân đội đi chiến đấu ở chiến trường B, đắp đê chống lũ, đào sông khơi nước giúp dân thu hoạch mùa màng. Hơn nữa, bằng khả năng trí tuệ, bằng trình độ văn hoá học thuật của những tri thức trong một khoa Ngữ văn có vị trí hàng đầu cả nước, đã góp phần không nhỏ vào việc xây dựng đời sống văn hoá, khoa học, đời sống ngôn ngữ và thẩm mỹ của đất nước.
*   *    *
    Những đặc điểm trên thực chất đã trở thành những truyền thống quý báu của khoa, có sức sống mãnh liệt và lâu bền. Giữ vững và phát huy những truyền thống đó, khoa Ngữ văn, sẽ cùng với các đơn vị khác, xây dựng Trường Đại học Sư phạm Hà Nội thực sự là một trường trọng điểm quốc gia, trường đầu đàn của hệ thống các trường sư phạm trong cả nước.

THÀNH TỰU CHỦ YẾU:

1. Đào tạo

    60 năm qua, khoa đào tạo đã đào tạo khoảng 10.000 sinh viên chính quy, 4.000 sinh viên tại chức và hơn 1.000 sinh viên theo  những lớp đào tạo chính quy tại các địa phương.
    Các loại hình đào tạo ngày càng được đa dạng hoá: hệ đại học chính quy 2 năm, 4 năm, 5 năm. Hệ 5 năm đặc biệt tương đương trình độ sau đại học đài tạo được ba khoá bắt đầu từ 1980. Từ 1997, bắt đầu có hệ Chất lượng cao đào tạo giáo viên tài năng. Bên cạnh đó còn có các hệ đào tạo chính quy theo địa chỉ, đào tạo tại chức, đào tạo từ xa. Từ năm 2008, bên cạnh các hệ đào tạo cử nhân sư phạm ngữ văn, Khoa mở rộng thêm 2 mã ngành mới là cử nhân khoa học ngành văn và ngành ngôn ngữ…
    Từ 1976, khoa bắt đầu đào tạo hệ sau đại học đầu tiên trong toàn quốc, đến 1991 chuyển thành hệ đào tạo thạc sĩ. Đến năm 2010 khoa đào tạo được khoảng 3.000 thạc sĩ. Số lượng học viên cao học thuộc 8 chuyên ngành mà khoa đào tạo thường xuyên mỗi năm hiện nay khoảng từ 250 đến 300 học viên.
    Cũng từ 1976, khoa bắt đầu đào tạo hệ nghiên cứu sinh. Đến cuối 2010, khoa đã có hơn 200 nghiên cứu sinh bảo vệ thành công luận án tiến sĩ (trên tổng số hơn 800 luận án tiến sĩ được đào tạo tại trường Trường Đại học Sư phạm Hà Nội), một con số khẳng định sự vững mạnh về đội ngũ các khoa học và phương hướng nghiên cứu khoa học của khoa Ngữ văn. Đã có nhiều luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ được in thành sách công bố rộng rãi trong cả nước. Số lượng nghiên cứu sinh thuộc 8 chuyên ngành mà khoa đào tạo thường xuyên mỗi năm hiện nay khoảng từ 250 đến 300 học viên.
    Về kết quả đào tạo, hàng năm tính từ 1990 số sinh viên tốt nghiệp hệ chính quy có kết quả khá trở lên là 46%. Số luận án thạc sĩ và tiến sĩ đạt kết quả giỏi chiếm đa số.
    Với phương châm giáo dục và đào tạo toàn diện, các sinh viên của khoa ngoài việc chuẩn bị các kiến thức cơ bản của một sinh viên sư phạm, còn tích cực tham gia vào công việc tập dượt nghiên cứu khoa học. Hàng năm khoa đều tổ chức Hội nghị khoa học sinh viên. Số lượng sinh viên tham gia làm nghiên cứu khoa học ngày càng đông (1998: 30; 1999: 42: 2000: 65; 2001: 107…). Nhiều báo cáo được xếp loại giỏi và gửi đi dự thi sinh viên NCKH cấp Bộ và được giải thưởng (cấp Bộ 1999: 1; 2000: 1;  cấp trường 1999: 2; 2003: 3 …).
    Nhằm đào tạo toàn diện giáo viên ngữ văn, hàng năm khoa đều đặn tổ chức các hoạt động ngoại khoá, chuyên môn cho sinh viên như thi năng khiếu (sáng tác thơ văn, ngâm thơ, đọc diễn cảm, hát…) thi nghiệp vụ sư phạm, tổ chức các câu lạc bộ thơ văn. Từ những sinh hoạt ngoại khoá này, ở khoa đã xuất hiện những tài năng văn thơ, âm nhạc văn nghệ như Trần Hoà Bình, Nguyễn Trọng Hoàn, Trịnh Lan Hương, Thanh Trầm… Đội văn nghệ “Bông súng” những năm 80 đã có tiếng vang được đài báo nhắc đến nhiều lần.
    Hàng năm khoa đều tổ chức cho sinh viên đi tham quan các di tích văn hoá trên đất nước như Lạng Sơn, Côn Sơn, Bích Động, Yên Tử, Cao Bằng, Nghệ An, Huế… Trung bình 4 lượt cho 4 khối trong một năm. Trong những năm 70 - 80, dù kinh phí học tập còn rất khó khăn song khoa vẫn tổ chức được các chuyến đi Pắc Bó, quê Bác, quê Phan Bội Châu, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Du. hoạt động này liên tục duy trình trong nhiều năm với sự đóng góp công sức của rất nhiều cán bộ trong khoa đặc biệt là các thầy ở tổ Văn học Việt Nam, từ PGS. Hoàng Dung, thầy Tôn Gia Các, Nguyễn Văn Tiến… đến TS. Phạm Thu Yến.
    Để hiểu sâu sắc các tác phẩm văn học, nhiều năm qua các thế hệ sinh viên đã tập dượt biểu diễn các đoạn trích tác phẩm văn học nổi tiếng thế giới như Lôi Vũ, Rômeô - Jiliet, Những linh hồn chết, Cầu hôn, Ơgiêni Grăng đê, Kiều, Quan Âm Thị Kính, Tắt đèn…  tạo nên sự phấn chấn và niềm say mê trong học tập của sinh viên. Bên cạnh đó, khoa còn tổ chức cho sinh viên đi xem phim, tuồng, chèo, quan họ, các vở kịch nổi tiếng trên sân khấu nước nhà qua các thời kỳ: Cô Sao, Đôi mắt, Đồng hồ chuông điện Kremli, Tất cả đều là con tôi, Vụ án người đốt đèn, Mẹ Can đảm và bầy con, Giấc mộng đêm hè…
    Sinh viên khoa còn tích cực tham gia các cuộc thi ở các cấp Trường, Đại học quốc gia, Bộ, Quốc gia… phục vụ cho công tác đào tạo như: Tuyên truyền viên giỏi, Kiến thức về Chủ nghĩa mác - Lênin, Nghiệp vụ sư phạm, Nghiên cứu khoa học… ở hầu hết các cuộc thi này, sinh viên khoa Ngữ văn đều đạt giải cao.
    Về xây dựng cơ sở vật chất phục vụ đào tạo, khoa đã và đang hoàn thiện một phòng tư liệu cho sinh viên tự học, tự nghiên cứu, Mới có một năm triển khai (từ năm 2000) phòng tư liệu đã có gần một nghìn đầu sách. Ngoài việc mua các sách đang lưu hành, khoa đã rất chú trọng đến việc sao chụp các tài liệu có giá trị tại các thư viện chuyên ngành (Viện Văn học, Viện thông tin); tổ chức dịch các sách chuyên môn bằng tiếng nước ngoài (Nga, Anh, Pháp, Trung Quốc); trong 10 năm qua, đã dịch được hơn 13.000 trang. Nhiều cán bộ trong khoa đã tặng sách cho phòng tư liệu.
    Để hỗ trợ việc học tập của sinh viên, trong những năm gần đây, khoa đã tổ chức được 3 quỹ khuyến học với các giải thưởng hàng năm. Đó là giải thưởng Huỳnh Lý (tên một giáo sư lâu năm của khoa, có nhiều cống hiến cho sự nghiệp giáo dục nước nhà) với giá trị 1.000.000đ/năm tặng cho sinh viên tốt nghiệp thủ khoa hệ 4 năm chính quy: Học bổng Nguyễn Tuân với giá trị 3.000.000đ/năm tặng cho các học sinh có kết quả cao nhất trong từng khối. Và đặc biệt, năm 2001, tất cả hội dồng các giáo sư và thầy cô giáo trong khoa đã đóng góp một Quỹ khuyến khích tài năng  với tổng giá trị trên 30.000.00đ/. Trong tương lai, các quỹ này còn được tiếp tục phát triển.

2. Nghiên cứu khoa học

    Trải qua 50 năm phát triển, khoa Ngữ văn luôn có một ưu thế lớn về nghiên cứu khoa học, bởi nơi đây đã và đang tập trung các nhà khoa học đầu ngành về ngữ văn trong cả nước.
    Từ ngày đầu thành lập, tại khoa đã tập trung phần lớn các thành viên trong nhóm Lê Quý Đôn nổi tiếng (Vũ Đình Liên, Trương Chính, Huỳnh Lý, Lê Trí Viễn, Đỗ Đức Hiểu). Tiếp đó các nhà khoa học tề tựu khá đông với đầy đủ các bộ môn. Bộ môn Văn học nước ngoài đã có thời kỳ mạnh nhất trong cả nước với các tên tuổi: Bùi Trương Chính, Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Cửu Cúc, Hoàng Nhân, Nguyễn Đức Nam, Lương Duy Trung, Nguyễn Ngọc ảnh, Lưu Đức Trung, Nguyễn Hải Hà, Đỗ Xuân Hà, Nguyễn Thị Hoàng, Trần Xuân Đề, Nguyễn Hoàng Tuyên, Lương Duy Thứ, Đặng Anh Đào, Phùng Văn Tửu, Nguyễn Khắc Phi, Thái Thu Lan… Bộ môn Ngôn ngữ có các chuyên gia: Hoàng Tuệ, Đái Xuân Ninh, Lê Cận, Đỗ Hữu Châu, Đinh Trọng Lạc, Võ Bình, Lê Hiền, Diệp Quang Ban, Nguyễn Thái Hoà…,Văn học Việt Nam có Bùi Văn Nguyên, Đỗ Bình Trị, Đặng Thanh Lê, Hoàng Hữu yên, Nguyễn Đình chú, Hoàng Dung, Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Hoành Khung, Trần Hữu Tá, Nguyễn Văn Long, Nguyễn Đăng Na..., Lý luận văn học có Nguyễn Lương Ngọc, Nguyễn Văn Hạnh, Trần Văn Bính, Thành Thế Thái Bình, Bùi Văn Ba, Trần Đình Sử, La Khắc Hoà..., Phương pháp giảng dạy có: Trần Thanh Đạm, Bùi Hoàng Phổ, Phan Trọng Luận, Nguyễn Thanh Hùng, Nguyễn Thanh Hương..., Bộ môn Ngữ văn Hán Nôm có Đặng Đức Siêu, Nguyễn Ngọc San…
    Nhận thức rõ việc giảng dạy đại học không thể tách rời với nghiên cứu khoa học, khoa học giáo dục không thể phát triển nếu không dựa trên cơ sở khoa học cơ bản, khoa Ngữ văn đã liên tục động viên, tạo điều kiện cho các nhà khoa học nghiên cứu, công bố kết quả bảo vệ công trình khoa học, phục vụ công việc nghiên cứu và giảng dạy ở tất cả các hệ đào tạo . Từ năm 1980, khoa đã có phong trào tự bồi dưỡng làm tiểu luận cấp I (Đỗ Bình Trị, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Nghĩa Trọng…), cấp II, sau được công nhận học vị PTS (Đỗ Hữu Châu), bảo vệ PTS trong nước (Thái Thu Lan, Đặng Anh Đào, Bùi Văn Ba) và bảo vệ TSKH (Bùi Văn Ba).
    Hiện nay khoa là trung tâm nghiên cứu khoa học về văn học dân gian, văn học Việt Nam, văn học nước ngoài, lý luận văn học, ngôn ngữ, Hán Nôm và phương pháp... với một số mũi nhọn khoa học như văn học Việt Nam trung đại, cận hiện đại, văn học Trung Quốc, văn học Nga, văn học phương Tây; lý luận văn học phương Tây và phương Đông, thi pháp học, từ vựng, phong cách học, ngữ pháp, ngữ dụng học, phương pháp giảng dạy, Hán Nôm… Tương ứng với những mũi nhọn khoa học chuyên sâu ấy là một đội ngũ các giáo sư, phó giáo sư và tiến sĩ hùng hậu.
    Khoa đã tổ chức được nhiều Hội nghị khoa học với tầm cỡ quốc gia, để lại những mốc phát triển trên con đường nghiên cứu khoa học của nước nhà: Hội thảo giảng văn  (1972), Văn học và phụ nữ (1978), Đảng ta, chế độ ta và nền văn học Việt Nam hiện đại (1979), Giảng dạy thơ văn Chủ tịch Hồ Chí Minh (1980, 1981), Anh bội đội cụ Hồ trong văn học (1985), Những vấn đề thời sự văn học (1989), Cải tiến giảng dạy Văn học Việt Nam hiện đại (1990), Văn học Việt Nam trung đại trong các mối liên hệ khu vực (1991), Về truyện ngắn (1992), 50 năm văn học Việt Nam sau  Cách mạng tháng Tám (1995); Phương pháp giảng dạy tiếng Việt (1997), Hội nghị khoa học những nhà nghiên cứu  ngữ văn trẻ (1998), Nghiên cứu và giảng dạy ngữ văn ở đại học từ sau cách mạng tháng Tám (2000)… Đặc biệt, có nhiều hội nghị khoa học mang tính liên kết, kế thừa như những hội nghị về Đổi mới phương pháp giảng dạy văn trong các năm 1979, 1986, 1990, 1994, 1996 đã thu hút được cán bộ giáo viên từ nhiều trường đại học, cao đẳng và Sở giáo dục trong cả nước, hội nghị về Xây dựng bộ môn Lý luận văn học dân tộc hiện đại được tổ chức 5 lần từ cấp Tổ lên cấp Khoa, Trường, Bộ (1978 - 1982). Có thể kể đến công lao đóng góp của các chủ nhiệm đề tài và trưởng ban tổ chức như: Hoàng Dung, Đặng Thanh Lê, Nguyễn Đình Chú, Nguyễn Đăng Mạnh, Bùi Văn Ba, Phan Trọng Luận, Đỗ Hữu Châu, Trần Đình Sử, Nguyễn Quang Ninh C, Nguyễn Thanh Hùng, Nguyễn Thanh Hương, Trần Đăng Xuyền…
    Cống hiến khoa học của các cán bộ khoa Ngữ văn được tính bằng số lượng công trình nghiên cứu khoa học. Nếu chỉ tính chuyên luận đứng tên một tác giả, con số này là hàng trăm. Trong đó có giáo sư viết khoảng 15 đầu sách, số giáo sư viết từ 5 đến 10 đầu sách là rất đông. Ngoài ra không thể kể hết số lượng các công trình khoa học viết chung và các bài báo đăng trên tạp chí khoa học chuyên ngành (hơn một nghìn). Đây là những con số thể hiện khả năng làm việc, công sức lao động, ý chí phấn đấu của các cán bộ khoa Ngữ văn trong suốt 50 năm qua.
    Số đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước trong vòng 10 năm gần đây: 6, cấp Bộ: 21. Hầu hết sau khi nghiệm thu, đều đã được in thành sách, xác nhận ý nghĩa khoa học và tắc dụng phục vụ quá trình đào tạo của đề tài.
    Để góp phần giao lưu văn hoá, giới thiệu các nền văn học, các thành tựu nghiên cứu văn học trên thế giới, phục vụ việc học tập và nghiên cứu của các hệ đào tạo, các cán bộ khoa đã có những đóng góp không nhỏ trong việc dịch thuật các tác phẩm văn học lớn và các tác phẩm nghiên cứu văn hcọ xuất sắc từ tiếng Nga, Anh, Pháp, Trung với khoảng 50 đầu sách như: Những người khốn khổ, Thần khúc, Gào thét, Bàng hoàng, Tạp văn Lỗ Tấn, Một nghìn một đêm lẻ,  Tu viện thành Pácmơ, Tuyết bỏng, Không gia đình, Truyện ngắn Hêmingway… Thi học Aritxtốt, Lênin bàn về văn học, Dẫn luận nghiên cứu văn học, Tư tưởng văn học cổ Trung Hoa, Những vấn đề thi pháp Đôtxtôiepxki…
   

3. Viết giáo trình đại học, sách giáo khoa phổ thông

    Với tư cách là một trung tâm lớn nhất, có uy tín khoa học lớn nhất nước về Ngữ văn, suốt gần 60 năm qua, khoa Ngữ văn luôn phải đảm đương công việc khá nặng nề: soạn các bộ giáo trình đại học sư phạm về ngữ văn. Các hoạt động viết giáo trình đại học được tiến hành thường xuyên. Hiện nay bộ giáo trình các bộ môn đã kế tiếp thay đổi bốn lần với 80 đầu sách có chất lượng ngày càng được đánh giá cao trong giới khoa học và giáo viên cả nước, trên phương châm luôn cập nhật những thông tin khoa học mới nhất về chuyên ngành trong và ngoài nước, luôn bổ sung những kết quả nghiên cứu khoa học của chính những nhà khoa học trong khoa.
    Bên cạnh đó, các bộ tư liệu tham khảo cho các môn học được quan tâm chú trọng từ những năm cơ sở vật chất của trường còn đầy thiếu thốn. Các bộ tư liệu tham khảo Văn học dân gian, Văn học Việt Nam, Văn học phương Tây, Lý luận văn học, Phương pháp giảng dạy, Ngữ văn Hán Nôm… từ chỗ in nội bội với những bản rônêô đến nay đã được xuất bản thành sách.
    Đội ngũ cán bộ khoa còn đóng vai trò chủ chốt trong việc soạn sách giáo khoa phổ thông, sách hướng dẫn giáo viên, sách tham khảo cho học sinh để thực hiện phương châm gắn liền việc giảng dạy ở đại học với quá trình dạy học ở phổ thông. Hệ thống sách này thay đổi liên tục suốt 60 năm, với gần 700 đầu sách, từ bộ sách giáo khoa phổ thông trung học đầu tiên do các giáo sư Nguyễn Trác, Huỳnh Lý, Lê Trí Viễn, Trương Chính, Bùi Văn Nguyên… biên soạn cho đến các bộ sách cải cách chuyên ban hợp nhất sau này do các giáo sư Đỗ Bình Trị, Nguyễn Đình Chú, Đặng Thanh Lê, Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Hoành Khung, Nguyễn Văn Long, Nguyễn Hải Hà, Đỗ Hữu Châu, Phan Trọng Luận, Lưu Đức Trung, Phùng Văn Tửu, Đặng Anh Đào, Nguyễn Hoàng Tuyên, Hoàng Thung, Nguyễn Quang Ninh, Trần Đình Sử, La Khắc Hoà, Lê A… phụ trách, đến các bộ sách tham khảo phổ thông với sự tham gia của Trần Đăng Xuyền, Lã Nhâm Thìn, Lê Trường Phát, Phạm Thu Yến, Nguyễn Bích Hà, Nguyễn Thị Bình, Chu Văn Sơn,  Lê Quang Hưng, Lê Lưu Oanh, Nguyễn Thị Lương, Nguyễn Thị Thìn, Trần Lê Bảo, Lê Nguyên Cẩn, Hà Thị Hoà…
   
4. Hợp tác quốc tế

    Theo yêu cầu của nhà nước và các nước bạn, các cán bộ trong khoa lần lượt tham gia giảng dạy tại một số trường đại học và cao đẳng ở nhiều nước như Trung Quốc (Lê Trí Viễn), Balan (Hoàng Tuệ, Lê Cận) Cuba (Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Ngọc San, Võ Bình, Pháp (Đỗ Hữu Châu), Lào (Nguyễn Quang Ninh C, Bùi Văn Ba, Đặng Thị Lanh, Đinh Việt Anh, Phan Hồng Xuân, Nguyễn Ngọc Diệu, Nguyễn Đình Cao), Campuchia (Hoàng Dư, Phan Trọng Luận, Bùi Văn Ba, Nguyễn Ngọc San, Nguyễn Xuân Hậu, Trần Quang Minh, Phùng Ngọc Kiếm, Nguyễn Tiến Mâu…), Nhật (Nguyễn Bích Hà), Hàn Quốc (Đinh Thị Khang, Nguyễn Thị Bình, Phùng Ngọc Kiếm, La Khắc Hoà, Trần Hạnh Mai), Ăngôla (Hoàng Dung, Đinh Trọng Lạc, Đoàn Trọng Thuỷ, Bùi Hoàng Phổ), Liên Xô (Lê Hiền, Nguyễn Đăng Na).
    Các cán bộ của khoa còn tham gia hội nghị khoa học, trao đổi kinh nghiệm, nghiên cứu khoa học và thực tập sinh khoa học ở nhiều nước:  Trung Quốc (Bùi Văn Ba, Trần Đình Sử, Hà Văn Minh), Nhật (Trần Đình Sử), Mỹ (Đặng Thanh Lê, Phan Trọng Luận, Lê Huy Bắc), Pháp (Đặng Anh Đào, Phùng Văn Tửu), Bỉ (Trần Thu Dung), ý (Nguyễn Hoàng Tuyên), Mađagatxca (Đặng Thanh Lê), Thái Lan (Nguyễn Đình Chú), Inđônêxia (Bùi Văn Nguyên), Đức (Lê Trí Viễn), Liên Xô (Nguyễn Hải Hà, Bùi Văn Ba, Lâm Ngọc Hoàn, Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Đăng Na, Trần Đình Sử, Phan Trọng Luận…), Rumani (Lê Nguyên Cẩn)…
    Một số bài báo của các cán bộ khoa ngư Nguyễn Đình Chú, Nguyễn Đăng Mạnh, Đặng Thanh Lê, Phan Trọng Luận, Đỗ Hữu Châu, Bùi Văn Ba, Diệp Quang Ba, Đoàn Trọng Huy… đã được đăng ở các báo, tạp chí, kỷ yếu khoa học ở Liên Xô, Pháp, Đức, Canađa, Mỹ, Trung Quốc, Ôtxtrâylia… trong Đại từ điển văn học nước ngoài thế kỷ XX (Trung Quốc biên soạn) có tên ba tác giả Huỳnh Lý, Nguyễn Đăng Mạnh, Phương Lựu.
    Năm 1975, nhiều cán bộ tham gia đào tạo và viết giáo trình cho ĐHSP Lào: Nguyễn Nghĩa Dân, Đoàn Trọng Huy, Đỗ Bình Trị…
    Bên cạnh những cán bộ vốn từ trước khi về khoa đã được đào tạo tại nước ngoài như Nguyễn Xuân Nam, Bùi Văn Ba, Trần Đình Sử (Trung Quốc), Nguyễn Đức Nam, Đỗ Xuân Hà, Nguyễn Vân Hạnh, Trần Đình Sử, La Khắc Hoà, Dương Quỳnh Như, Phan Minh Châu, Lê A (Liên Xô), Lê Nguyên Cẩn (Rumani), Trường và Khoa đã gửi khá nhiều cán bộ đi đào tạo ở nước ngoài. Một số cán bộ sau khi về nước chuyển đơn vị công tác như: Lê Ngọc Trà, Phùng Quý Nhâm, Nguyễn Thị Hai, Nguyễn Tất Phát, Nguyễn Kim Phong (Liên Xô), Đỗ Đức Tín (Đức). Một số cán bộ vẫn trở lại phục vụ khoa như: Nguyễn Nghĩa Trọng, Trần Đức Ngôn,  Trần Đăng Xuyền, Nguyễn Đăng Na, Phùng Ngọc Kiếm, Đinh Văn Thiện, Phạm Thu Yến (Liên Xô), Nguyễn Thanh Hùng, Nguyễn Thanh Hương (Đức), Đinh Việt Anh (Lào). Tất cả các cán bộ này đều đã phát huy tốt năng lực của mình dù ở bất kỳ cương vị công tác nào.
    Bên cạnh đó, khoa đã đào tạo tại chỗ khong ít các học sinh Lào, Campuchia, Hàn Quốc ở tất cả các hệ: đại học (20), tương đương thạc sĩ (18), tiến sĩ (5). Sau khi trở về nước họ đều là những cốt cán cho nền giáo dục nước mình.
    Hiệu trưởng các Trường Đại học Sư phạm Hà Nội II Xuân Hoà, Trường Đại học Sư phạm Huế, Trường Đại học Sư phạm Quy Nhơn, Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, Cao đẳng Sư phạm Nhạc hoạ Trung ương, chủ nhiệm khoa Ngữ văn của các Trường Đại học Sư phạm Việt Bắc, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội II Xuân Hoà, Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh nhiều nhiệm kỳ vốn đều là cán bộ của khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội: Thành Thế Thái Bình, Nguyễn Văn Hạnh, Trần Văn Thận, Trần Thanh Đạm, Nguyễn Tấn Phát, Quách Hy Dong, Đinh Trọng Lạc, Trần Hữu Tá, Trần Hoán.

5. Xây dựng mạng lưới Đại học Sư phạm


    Khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội là cơ sở đầu tiên cung cấp cán bộ xây dựng các Trường Đại học Sư phạm và các khoa ngữ văn khác trong cả nước.
    1959 - 1963: ĐHSP Vinh: Lê Hoài Nam, Trần Văn Hối, Lê Bá Hán, Hoàng Tiến Tựu, Huỳnh Lý.
    1965 - 1967: ĐHSP Việt Bắc: Hoàng Nhân, Phạm Luận, Trần Văn Bính.
    1975 - 1982: ĐHSP Huế: Nguyễn Văn Hạnh, Nguyễn Tiến Hùng, Nguyễn Xuận Tự.
    Sau 1975: ĐHSP Quy Nhơn: Trần Văn Thận, Huỳnh Văn Trứ.
    ĐHSP TP Hồ Chí Minh: Hồ Văn Nho, Phùng Quý Nhâm, Trần Xuân Đề, Hồ Sỹ Hiệp, Lương Duy Trung, Hoàng Nhân, Trần Thanh Đạm, Lê Ngọc Trà, Lâm Quang Vinh, Nguyễn Thị Nhung, Lê Văn Sơn, Trần Hoán, Nguyễn Khoa Diệu Biên, Lê Trí Viễn, Đinh Xuân Hiền, Phan Minh Châu, Lâm Quang Vinh, Nguyễn Tấn Phát, Nguyễn Thị Hai, Trần Hữu Tá.
    ĐHSP Cần Thơ: Lê Tố, Trần Văn Mười.
    CĐSP TP Hồ Chí Minh: Nguyễn Mỹ Hòa, Hoàng Lân.
    1974 - 1980: ĐHSP II: Đào Nguyên Tụ, Nguyễn Bích Hà, Bùi Minh Toán, Trần Tiến Đức, Đinh Trọng Lạc, Lê Hữu Tỉnh, Hoàng Thị Văn, Thành Thế Thái Bình...
    Năm 1982: Cao đẳng sư phạm Nhạc họa Trung ương: Quách Hy Dong, Nguyễn Viết Hưng.
    Có nhiều cán bộ sau lại trở về khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội tiếp tục làm việc như Nguyễn Bích Hà, Bùi Minh Toán, Đinh Trọng Lạc.
    Hiệu trưởng các Trường Đại học Sư phạm Hà Nội II Xuân Hòa, Trường Đại học Sư phạm Huế, Trường Đại học Sư phạm Quy Nhơn, Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, Cao đẳng Sư phạm Nhạc họa Trung ương, Chủ nhiệm khoa Ngữ văn của các trường Đại học Sư phạm Việt Bắc, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội II Xuân Hòa, Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh nhiều nhiệm kỳ vốn đều là cán bộ của khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội: Thành Thế Thái Bình, Nguyễn Văn Hạnh, Trần Văn Thận, Trần Thanh Đạm, Nguyễn Tấn Phát, Quách Hy Dong, Đinh Trọng Lạc, Trần Hữu Tá, Trần Hoán.

6. Tham gia các hoạt động chính trị, văn hoá, xã hội, đời sống


    Vào những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, hàng trăm cán bộ và sinh viên của khoa đã cầm súng ra mặt trận. Trong số đó có có một số cán bộ giảng dạy như Lê Đăng Bảng, Nguyễn Đức Dũng (Từ Sơn), Lý Hữu Tấn, Bùi Công Minh, Phạm Văn Hoá, Lê Tiến Sơn, Trần Quang Minh… và các sinh viên sau này trở về học tiếp, trở thành cán bộ giảng dạy như Nguyễn Bình Sơn, Phùng Ngọc Kiếm, Trần Đăng Xuyền, Lã Nhâm Thìn… Có những sinh viên vừa tốt nghiệp đã lên đường vào tuyến lửa trở thành nhà thơ nhà văn có tên tuổi như Nguyễn Khoa Điềm, Phạm Tiến Duật, Tô Nhuận Vĩ. Có những người vừa tốt nghiệp Đại học  đã lên đường đi B phục vụ tại các vùng giải phóng miền Nam như Đinh Hồng Tơ (hiện là phó bí thư tỉnh uỷ Kon Tum), Hoàng Xuân Huy, Nguyễn Phương Thảo, Lê Yến Thu… Khoá Nguyễn Văn Trỗi (1962 - 1965) là khoá có phong trào học vì Nguyễn Văn Trỗi, vì miền Nam ruột thịt, có rất đông sinh viên đi B ngay sau khi tốt nghiệp (khoảng 25 người).
    Tính đến 1975, trên 300 cán bộ đang giảng dạy và sinh viên hoặc là đã tốt nghiệp, hoặc là đang học dở dang đã lên đường cầm súng đánh giặc. Có những người đã hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc như đồng chí Lê Đăng Bảng, nguyên Tổ trưởng tổ môn  Lý luận văn học, và các sinh viên như Võ Tề (con rể nhà văn Vũ Ngọc Phan), Hoàng Minh Thương, Vũ Đình Văn, Lê Như ý, Trương Dương Thiện, Trần Trọng Quý, Thái Văn Thượng, Nguyễn Văn Kháng, Nguyễn Văn Dư, Nguyễn Văn Long…
    Từ 1966 đến 1975, thầy và trò khoa liên tục tham gia phục vụ chiến đấu gần như khắp các nẻo đường miền Bắc: Thanh Hoá, Quảng Bình, Lạng Sơn, Hà Bắc… Hè 1966, Liên chi Đoàn tổ chức các đoàn viên ưu tú của các chi đoàn sinh viên và cán bộ giảng dạy tham gia sản xuất và chiến đấu cùng nhân dân và bộ đội đánh trả máy bay Mỹ tại Hàm Rồng, Nam Ngạn, Yên Vực (túi bom của Thanh Hoá).
    Thời kỳ Mỹ mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, năm 1972 ác liệt, hai đại đội tự vệ gồm các thầy trò trong khoa đã lập Tổ trực chiến của các thầy, đặt sau nhà A7, khu tập thể sinh viên khoa văn, do Hoàng Thung và Thành Thế Thái Bình chỉ huy, có Bùi Văn Ba, Đỗ Đức Tín, Lê Tiến Sơn, Nguyễn Thanh hùng, Nguyễn Tiến Hùng, Lê Văn Sơn… và Đài quan sát đặt trên tầng thượng nhà A7, do sinh viên phụ trách với các sinh viên Đào Văn Nay, Nguyễn Thị Thanh, Nguyễn Thị Bích Hà, Nguyễn Thị Sớm, Lương Kim Nga… tạo nên thế trận liên hoàn của quân khu thủ đô và góp phần bắn rơi một máy bay Mỹ (ngày 7/8/1972) được nhà nươc tặng Huân chương kháng chiến hạng Ba.
    Cùng đợt này, hai lớp sinh viên ở lại bảo vệ trường, vừa bảo vệ trị an, vừa sản xuất. Trong đó có Ngô Thế Tiến, Đào Văn Vui, Phạm Tiến Hoa, Nguyễn Thị Thìn…
    Tháng 12 - 1972, cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ diễn ra rất ác liệt, hàng chục cán bộ và sinh viên của Khoa tham gia đội thanh niên xung kích do đồng chí Phạm Đăng Dư làm đội trưởng tham gia đội TNXP Nguyễn Cừ trên tuyến đường giao thông huyết mạch từ Đồng Đăng về Hà Nội suốt một tháng, được TW Đoàn tặng bằng khen.
    Tháng 2 - 1978, chiến tranh diễn ra ở 6 tỉnh biên giới phía Bắc, Khoa đã thành lập Đội thanh niên tình nguyện đi tham gia chiến đấu với sư đoàn 337 ở Lạng Sơn 28 ngày do đồng chí Phạm Đăng Dư dẫn đầu cùng với các cán bộ như Phùng Ngọc Kiếm, Nguyễn Viết Hưng và Đinh Văn Thiện (lúc đó còn là sinh viên). Đội đã được Sư đoàn 337 và Bộ tổng tham mưu khen thưởng.
    Trong những năm sơ tán, việc xây dựng cơ sở vật chất là công việc cực kỳ khó khăn, vất vả: từ việc dỡ hội trường lớn tại ĐHSP Hà Nội mang xuống các địa điểm sơ tán để dựng lại lớp học, hội trường, đến việc đi Thái Nguyên mua gỗ, tranh tre nứa lá về dựng các lớp học, nhà ăn, nhà ở cho cán bộ… và bốn năm sau khi quay về trường ĐHSP, lại mang theo số vật liệu đó về dựng nhà ở tập thể cho cán bộ. Tham gia trực tiếp công việc này là thầy Đỗ Hữu Châu, Bùi Văn Ba và nhiều thầy khác.
    Để đảm bảo đời sống những năm đó, khoa còn mời thợ về xây lò bánh mì, đảm nhiệm số lượng bánh cho hơn 1500 thầy và trò nơi sơ tán.
    Từ những năm sơ tán đến những năm 80, 90 việc đảm bảo tiêu chuẩn cán bộ, phân phối công nghệ phẩm, làm tăng thu nhập… các quyền lợi về nhà cửa, đất đai của cán bộ luôn được chú ý. Cán bộ khoa đã không nề hà làm rất nhiều việc: từ mua sắm, mua chè, gạo, thịt, hoa quả, đến chiếu phim, tổ chức lớp luyện thi…
    Bên cạnh đó, những phong trào thi đua luôn được đẩy mạnh: Tổ lao động xã hội chủ nghĩa, Đại hội tự vệ quyết thắng, bảo vệ tiểu luận khoa học cấp I, cấp II…
    Để phục vụ sản xuất, suốt hơn 20 năm (60 - 85), hàng năm khoa vẫn tổ chức cho sinh viên đi đắp đê ở Cống Thôn, Sông Đáy, làm đường ở Lạng Sơn, xuống các hợp tác xã, vào các công trường, nông trường nhà máy ở Hoà Bình, Hà Bắc, Hà Tây, Hải Hưng…
    Những năm gần đây, hàng trăm sinh viên tình nguyện đi hoạt động ở các tỉnh: Quảng Bình, Quảng Trị (2000); Lai Châu, Sơn La, Hà Giang (2000 - 2001).
    Khoa thường xuyên cho cán bộ tham quan thực tế. Trước 1972 có chuyến đi Quảng Trị thăm cầu Hiền Lương. Đặc biệt năm 1974 tuyến đi dài ngày qua rất nhiều địa điểm: Lào Cai, Sa Pa, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La để lại nhiều ấn tượng sâu sắc. Năm 1975, 1978 có chuyến đi Huế, Đà Nẵng. Năm 1999 đi Trung Quốc. Năm 2001 đi Thái Lan.
    7. Hoạt động của các tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể
    Ban lãnh đạo khoa trong suốt 50 năm qua đã thay đổi nhiều thế hệ. Nhưng bất cứ thế hệ lãnh đạo nào, dù trải qua những năm tháng chiến tranh gian khổ, khi kinh tế đất nước còn đầy khó khăn hay giai đoạn tương đối ổn định đều là trung tâm điều hành có hiệu quả, có chất lượng, là trung tâm động viên, khích lệ, đoàn kết tất cả các thế hệ trong khoa vì sự nghiệp chung: Sự nghiệp đào tạo và nghiên cứu khoa học của đất nước. Thành tích của mọi cá nhân và tập thể trong khoa trong mấy chục năm qua không tách rời công lao to lớn của các tổ chức Đảng, chính quyền và các đoàn thể.
    Dưới sự lãnh đạo của các tổ chức Đảng, chính quyền và đoàn thể, khoa Ngữ văn thực sự là một đơn vị dân chủ, vững mạnh về khoa học, có những thành tích cao về công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học, là một đơn vị có truyền thống đoàn kết tôn sư trọng đạo phù hợp với vị trí của một trường sư phạm, một trường “mô phạm” của cả nước.
    Về đội ngũ quản lý: suốt 50 năm xây dựng và phát triển, các cán bộ của khoa, cấp khoa đã phải thay nhau giữ các chức vụ trọng trách trong khoa, từ Ban chủ nhiệm đến Đảng uỷ, Công đoàn,  Đoàn thanh niên để đảm bảo công việc đào tạo, NCKH, hoạt động xã hội được duy trì đều đặn có kết quả.
    8. Tham gia công tác quản lý ở các cấp trung ương và địa phương
    a. Cán bộ
    - GS. Nguyễn Lương Ngọc, chủ nhiệm khoa, năm 1963 chuyển lên làm Viện trưởng Viện khoa học giáo dục, năm 1967 trở về làm hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
    - GS. Hoàng Tuệ: Viện trưởng Viện ngôn ngữ.
    - Thầy Nguyễn Nghĩa Dân: Phó bí thư Đảng uỷ Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Phó chánh văn phòng Bộ giáo dục.
    - GS. Nguyễn Văn Hạnh: Viện trưởng Viện đại học Huế, Thứ trưởng Bộ Giáo dục, Phó ban tư tưởng Văn hoá Trung ương.
    - GS. Nguyễn Đức Nam: Giám đốc Nxb Giáo dục.
    - PGS. Đỗ Bình Trị: Cục trưởng Cục đào tạo bồi dưỡng.
    - PGS. Nguyễn Văn Hoàn: Viện phó Viện Văn học.
    - Quách Hy Dong: Hiệu trưởng trường Cao đẳng Nhạc hoạ TW.
    - PGS. Trần Thanh Đạm: Hiệu trưởng trường ĐHSP TP. Hồ Chí Minh.
    - Trần Văn Thận: Hiệu phó kiêm Bí thư Đảng uỷ Trường Đại học Sư phạm Quy Nhơn.
    - PGS. Nguyễn Khắc Phi: Phó Giám đốc kiêm Tổng biên tập Nxb Giáo dục.
    - GS.TS. Trần Văn Bính: Chủ nhiệm khoa Văn hoá XHCN Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.
    - PGS. Thành Thế Thái Bình: Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Hà Nội II.
    - Nguyễn Đức Dũng: Vụ trưởng Vụ văn hoá văn nghệ, Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương.
    - PGS.TS. Nguyễn Tấn Phát: Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giám đốc ĐHQG TP. Hồ Chí Minh.
    - Bùi Công Minh: Giám đốc sở Giáo dục đào tạo Quảng Nam - Đà Nẵng, Trưởng ban tuyên huấn thành uỷ Đà Nẵng.
    - Phạm Văn Hoá: Chánh Văn phòng ban kiểm tra Đảng TW.
    - PGS.TS. Đặng Thị Lanh: Hiệu phó Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Vụ phó Vụ tiểu học - Bộ Giáo dục và Đào tạo.
    - PGS.TS. Trần Đức Ngôn: Phó hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Hà Nội - Hiệu trưởng trường Đại học Văn hoá Hà Nội.
    b. Sinh viên
    Nhiều thế hệ sinh viên khoa Ngữ văn đã trưởng thành trên khắp mọi miền đất nước. Nhiều người trở thành các nhà văn quản lý hoạt động xã hội, văn hoá như: GS.TSKH. Phạm Minh Hạc - Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo; Trần Thị Thanh Thanh - Bộ trưởng, Uỷ ban chăm sóc thiếu nhi; nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm - Bộ trưởng Bộ văn hoá Thông tin, Uỷ viên Bộ Chính trị; Đoàn Đình Ca - Vụ trưởng vụ Châu Mỹ Latinh ban đối ngoại TW Đảng; Nguyễn Văn Trọng (Thành Duy) - Vụ trưởng vụ tổ chức Trung tâm KHXH&NV; Hà Học Hợi - Phó trưởng ban Tư tưởng văn hoá TW; Nguyễn Đức Hạt - Bí thư tỉnh ủy Đà Nẵng, Uỷ viên TW Đảng; Bùi Mạnh Nhị - Hiệu trưởng ĐHSP TP. Hồ Chí Minh; Trọng Bằng - nhạc sỹ, giáo sư, Nghệ sĩ nhân dân, Giám đốc nhạc viện Hà Nội, Chủ tịch Hội nhạc sĩ Việt Nam; Bạch Điệp - đạo diễn phim, Nghệ sỹ nhân dân; Chi Phan - Đạo diễn phim; Nghiêm Đa Văn, Tô Nhuận Vỹ, Ma Văn Kháng - nhà văn; Dương Thụ - nhạc sỹ; Phạm Tiến Duật, Vũ Đình Minh, Vi Hồng, Nguyễn Đình Ảnh, Hoàng Hưng - nhà thơ....
    9. Các hoạt động ngoài trường
    - Tham gia Hội nhà văn Việt Nam; Nguyễn Lương Ngọc, Huỳnh Lý, Lê Trí Viễn, Nguyễn Văn Hạnh, Bùi Văn Ba, Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Xuân Nam, Trần Đình Sử, Nguyễn Thanh Hùng, Đặng Anh Đào, Phùng Văn Tửu.
    Chủ tịch Hội Ngôn ngữ học Việt Nam: Đỗ Hữu Châu.
    Trưởng ban lý luận phê bình của Hội nhà văn Việt Nam: Bùi Văn Ba.
    - Tham gia các chương trình khoa học cấp nhà nước: Nguyễn Đình Chú, Nguyễn Hải Hà.
    - Tham gia viết sách cùng các cơ quan khác: Trung tâm UBKHXH-NV, Trung tâm biên soạn Từ điển bách khoa quốc gia, Hội nhà văn, Nxb KHXH, viết sách chung với ĐHTH: các Tổng tập văn học, Từ điển văn học…
    - Tham gia giảng dạy trường viết văn Nguyễn Du: Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Đình Chú, Nguyễn Khắc Phi, Trần Đình Sử, Bùi Văn Ba…
    - Tham gia các trung tâm khoa học trong và ngoài trường: Trung tâm Việt Nam học (Đặng Thanh Lê), Trung tâm phụ nữ (Đặng Thanh Lê, Nguyễn Bích Hà), trung tâm Trung Quốc học (Bùi Văn Ba), Trung tâm Hán Nôm (Đặng Đức Siêu). 

NHỮNG THÀNH TÍCH KHEN THƯỞNG CỦA ĐƠN VỊ ĐÃ ĐƯỢC GHI NHẬN:

    a. Khoa
    - Nhiều năm liên tục là khoa tiên tiến; nhận bằng khen của Bộ và của Chính phủ.
    - Bằng khen của Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo cho đơn vị xuất sắc nhất về nghiên cứu khoa học (1976, 1980).
    - Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ tặng tổ Văn học Việt Nam 2 và Lý luận văn học.
    - Bằng khen của Bộ Giáo dục và Đào tạo tặng các Tổ Văn học Việt Nam 1 (1995), Văn học Việt Nam 2 (1996), Lý luận văn học (1996).
    - Bằng khen của Giám đốc ĐHQG Hà Nội cho đơn vị xuất sắc về nghiên cứu khoa học (1996).
    - Huân chương kháng chiến hạng 3 (1981).
    - Huân chương lao động hạng 3 (1994).   
- Huân chương lao động hạng 2 (2000).
    - 20 cán bộ đoàn thuộc chi đoàn cán bộ được bằng khen của TW Đoàn.
    - Hơn 50 lượt tập thể Đoàn được bằng khen của Thành Đoàn Hà Nội, TW Đoàn.
    - 15 sinh viên được bằng khen của Bộ Giáo dục và đào tạo về thành tích hoạt động, nghiên cứu khoa học.
    b. Cá nhân
    - Nhà giáo nhân dân (những vị đã từng giảng dạy ở Khoa): Nguyễn Lương Ngọc, Lê Trí Viễn, Huỳnh Lý, Vũ Đình Liên, Nguyễn Đình Chú, Bùi Văn Ba, Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Văn Long, Nguyễn Ngọc San, Nguyễn Hoành Khung, Nguyễn Hải Hà, Phan Trọng Luận…
    - Nhà giáo ưu tú (những vị đang công tác hoặc đã nghỉ hưu tại Khoa); Nguyễn Trác, Bùi Văn Nguyên, Trương Chính, Đặng Thanh Lê, Nguyễn Xuân Nam, Phùng Văn Tửu, Lưu Đức Trung, Đặng Anh Đào, Đặng Đức Siêu,  Đỗ Hữu Châu, Trần Đăng Xuyền, Lê A…
     Huân chương lao động:
    - Huân chương lao động lao động hạng nhì: Nguyễn Đình Chú, Nguyễn Đăng Mạnh, Đỗ Hữu Châu…
    - Huân chương lao động hạng ba: Đặng Thanh Lê, Nguyễn Xuân Nam, Đinh Trọng Lạc, Trương Chính…
    Nhiều cán bộ trong khoa được tặng Huy chương vì sự nghiệp giáo dục, bằng khen của thủ tướng chính phủ, của Bộ trưởng.
    Các thầy, cô giáo: Nguyễn Nghĩa Dân, Nguyễn Thị Ngọc Diệu, Đoàn Trọng huy được tăng Huy chương hữu nghị của nước CHDCND Lào.
    Giải thưởng khoa học nhà nước năm 2000:
    - Bùi Văn Ba, Đỗ Hữu Châu, Bùi Trương Chính, Trần Đình Sử, Phan Trọng Luận, Nguyễn Đăng Mạnh.
    Giải thưởng văn học Hội nhà văn:
    - Nguyễn Đăng Mạnh, Bùi Văn Ba, Trần Đình Sử.