BỘ MÔN VĂN HỌC VIỆT NAM DÂN GIAN VÀ TRUNG ĐẠI

(Bộ môn Văn học Việt Nam I)

I. Quá trình hình thành và phát triển đội ngũ:

Bộ môn Văn học Việt Nam I được thành lập từ những năm 1956 – 1957, do GS Bùi Văn Nguyên làm Chủ nhiệm bộ môn.

Giai đoạn đầu (những năm 1956 - 1970):Tổ bộ môn được giao nhiệm vụ đào tạo Cử nhân Văn khoa Sư phạm cho hai chuyên ngành: Văn học Việt Nam trung đại và Văn học dân gian. Song do cơ cấu tổ chức, về Văn học Việt Nam trung đại, tổ bộ môn chỉ đào tạo phần Văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XVIII (bấy giờ gọi là “Văn học phong kiến thượng kì”). Cùng với ngành Sư phạm lúc đó, Cử nhân Văn khoa chỉ đào tạo hai năm.

Năm 1965, do yêu cầu mới, tổ bắt đầu đào tạo hệ Cử nhân ba năm và bồi dưỡng cho hệ Cử nhân hai năm (thêm một năm gọi là hệ 2 + 1). Tiếp đó, năm 1968, tổ bắt đầu đào tạo hệ Cử nhân bốn năm và hệ Cử nhân 3 + 1 (bồi dưỡng thêm một năm cho hệ Cử nhân ba năm).

Trong quá trình chuyển từ đào tạo hệ Cử nhân hai năm lên hệ Cử nhân bốn năm, đội ngũ cán bộ giảng dạy của tổ luôn gắn quá trình đào tạo với tự đào tạo, gắn giảng dạy với nghiên cứu khoa học. Bộ giáo trình Văn học phong kiến thượng kì và Văn học dân gian đầu tiên của trường ĐHSPHN do GS Bùi Văn Nguyên đã được ra mắt bạn đọc.

Giai đoạn thứ hai (những năm 1970 - 1978): Do khoa học ngày càng phát triển và đòi hỏi cơ cấu tổ chức cần được sắp xếp lại, tổ bắt đầu đào tạo thêm phần Văn học Việt Nam trung đại từ thế kỉ XVIII đến giữa thế kỉ XIX (thời đó gọi là “Văn học phong kiến hạ kì”). Để đáp ứng nhu cầu mới, tổ bổ sung thêm lực lượng và đặt yêu cầu: mọi thành viên của tổ phải làm luận văn bước I (tương đương với trình độ Thạc sĩ hiện nay). Thời kì này, GS Bùi Văn Nguyên vẫn giữ cương vị Trưởng bộ môn (nhiệm kì 1956 - 1979).

Giai đoạn thứ ba (từ năm 1979 đến nay): Sau khi đất nước thống nhất và hòa bình, nhiệm vụ mới được đặt ra. Đội ngũ cán bộ giảng dạy của tổ một mặt chi viện cho các trường khu vực từ Huế trở vào, bổ sung và chi viện cho trường ĐHSPHN II (Xuân Hòa – Vĩnh Phúc); mặt khác, được các trường đại học trong cả nước mời giảng. Cũng từ năm 1979, tổ bắt đầu đào tạo nghiên cứu sinh trong nước và hệ Cao học chính quy. Từ năm 1995, do yêu cầu sắp xếp lại chương trình, phần Văn học Việt Nam trung đại chính thức được giảng dạy bao gồm mười thế kỉ (từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX). Thời kì này, GS Đặng Thanh Lê làm Chủ nhiệm bộ môn từ 1979 đến 1989. Giảng viên chính Trần Gia Linh làm Chủ nhiệm bộ môn từ 1989 đến 1994. Sau khi thầy Trần Gia Linh nghỉ hưu, PGS.TS Nguyễn Đăng Na làm Chủ nhiệm bộ môn từ 1994 đến 2007. Tiếp đó, GS.TS Vũ Anh Tuấn làm Chủ nhiệm bộ môn từ 2007 đến 2013; TS Trần Thị Hoa Lê làm Chủ nhiệm bộ môn từ 2013 đến nay.

II. Công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học

Ngay từ những ngày đầu thành lập, tổ đã có truyền thống xuất bản giáo trình phục vụ kịp thời cho công tác đào tạo. Có thể kể tên các bộ giáo trình tiêu biểu qua các giai đoạn như sau:

-         Văn học phong kiến thượng kì và Văn học dân gian, Chủ biên: GS Bùi Văn Nguyên.

-         Văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XVIII, Chủ biên: GS Bùi Văn Nguyên.

-         Văn học Việt Nam từ nửa cuối thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX, Chủ biên: GS Đặng Thanh Lê.

-         Văn học dân gian, Chủ biên: PGS Đỗ Bình Trị.

-         Văn học trung đại Việt Nam, tập I, II, Chủ biên: PGS.TS Nguyễn Đăng Na (NXB ĐHSP, H, 2005, 2007).

-         Giáo trình Văn học trung đại Việt Nam, tập I, II, Chủ biên: PGS.TS Lã Nhâm Thìn (NXB Giáo dục Việt Nam, 2011, 2015).

-         Văn học dân gian Việt Nam, Chủ biên: PGS.TS Phạm Thu Yến (NXB ĐHSP, H, 2000).

-         Giáo trình Văn học dân gian, Chủ biên: PGS.TS Vũ Anh Tuấn (NXB Giáo dục Việt Nam, H, 2012).

Hiện nay, đáp ứng chương trình học chế tín chỉ (bắt đầu thực hiện từ K59, khóa học 2009 - 2013), tổ bộ môn tiếp tục đảm nhiệm đào tạo hai chuyên ngành Văn học dân gian và Văn học Việt Nam trung đại ở cả ba hệ Cử nhân, Thạc sĩ, Nghiên cứu sinh:

1. Cử nhân: gồm Cử nhân chính quy (4 năm), Cử nhân chất lượng cao (4 năm) Cử nhân tại chức (Vừa làm vừa học), Cử nhân văn bằng hai, Cử nhân từ xa, Cử nhân Lưỡng quốc (Việt - Hàn),...

2. Thạc sĩ: gồm Cao học hệ chính quy (2 năm), Cao học hệ tại chức (3 năm).

3. Nghiên cứu sinh: tập trung (4 năm cho Cử nhân, 3 năm cho Thạc sĩ); không tập trung (5 năm cho Cử nhân, 4 năm cho Thạc sĩ). Chuyên ngành VHDG từ 2001 đến nay đã đào tạo 13 NCS bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ, hiện có 12 NCS đang theo học. Chuyên ngành VHTĐ từ khi thành lập bộ môn đến nay đã đào tạo 29 NCS bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ, hiện có 14 NCS đang theo học.

          Một bộ phận cán bộ của bộ môn được mời tham gia đào tạo thạc sĩ và nghiên cứu sinh tại các trường đại học và các Viện nghiên cứu trên cả nước: Đại học Khoa học Xã hội và nhân văn thuộc ĐHQG Hà Nội, Đại học Cần Thơ, Đại học Trà Vinh, Đại học Thái Nguyên, Đại học Văn hóa Hà Nội, Học viện Báo chí, Học viện Hành chính Quốc gia, Viện Văn học, Viện Hán Nôm, Viện Nghiên cứu Văn hóa, Viện Văn hóa Nghệ thuật…

Từ năm học 2014 – 2015, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện công tác giáo dục đào tạo của đất nước, bộ môn bắt đầu giảng dạy các học phần mới ở cả hai chuyên ngành, thực hiện từ hệ Cử nhân khóa 64.

Kết quả nghiên cứu khoa học của các thành viên bộ môn đã được thể hiện trong nhiều chuyên luận, chuyên khảo, tinh tuyển, tổng tập, giáo trình, tài liệu tham khảo, các công trình bài báo, đề tài cấp Trường, cấp Bộ, đề tài Naforsted...

Bộ môn đã chủ trì hoặc đồng chủ trì các Hội thảo khoa học các cấp: Tháng 12 năm 2009, bộ môn phối hợp với khoa và trường tổ chức Hội thảo khoa học“Mối quan hệ Văn học dân gian và Văn học viết - những vấn đề lí luận và thực tiễn”. Tháng 12 năm 2010, bộ môn phối hợp với Chi hội Văn nghệ dân gian trường Đại học Sư phạm Hà Nội tổ chức Hội thảo “Một ngàn năm Văn hóa dân gian Thăng Long Hà Nội”. Tháng 4 năm 2013, bộ môn tổ chức Hội thảo “Giáo sư Bùi Văn Nguyên với sự nghiệp giáo dục – đào tạo và nghiên cứu khoa học”. Đây là những hội thảo vừa có giá trị khoa học và thực tiễn, tiếp tục đào sâu, phát triển những vấn đề nghiên cứu văn học dân gian và trung đại từng được gợi mở từ thế hệ đi trước; vừa mang đậm truyền thống uống nước nhớ nguồn của bộ môn…

Các hoạt động nghiên cứu, trao đổi khoa học, điền dã cũng được tổ chức thường xuyên nhằm nâng cao nhận thức, kinh nghiệm và mở rộng quan hệ hợp tác khoa học với các đơn vị trung ương và địa phương: Đầu năm 2011, nhân ngày chính Lễ hội “lồng tồng” của đồng bào Tày Nùng, bộ môn tổ chức chuyến đi du khảo khoa học “trở về nguồn” thăm lại ATK Việt Bắc, Khu Bảo tàng Kháng chiến Tân Trào, Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam, dự lễ hội dân gian và giao lưu với Khoa Ngữ văn trường ĐHSP Việt Bắc (cũ) nay là ĐHSP Thái Nguyên.

III. Thành tích, khen thưởng và phương hướng công tác:

Điểm nổi bật của bộ môn là tinh thần đoàn kết, ý chí phấn đấu vươn lên, không ngừng nỗ lực tự hoàn thiện về mọi mặt. Truyền thống đoàn kết và truyền thống tự lực là hai giá trị cơ bản đã được tạo dựng trao truyền gìn giữ từ thế hệ đầu tiên đến các thế hệ tiếp theo.

Trong suốt quá trình hình thành, xây dựng, phát triển đội ngũ 65 năm qua, các thành viên tổ bộ môn đã tham gia đào tạo có chất lượng nhiều thế hệ sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh trên khắp cả nước, cũng như các thế hệ học viên, sinh viên nước ngoài (Lào, Campuchia, Nga, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Canada...). Hàng năm bộ môn đều có những cán bộ đạt thành tích cao trong công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học, đặc biệt là công tác hướng dẫn sinh viên làm báo cáo khoa học đạt giải các cấp (Trường, Bộ). Các thành viên bộ môn đóng góp rất nhiều công sức cho những chuyến đưa sinh viên đi thực tế văn học trên khắp mọi miền đất nước. Các hoạt động ngoại khóa với các câu lạc bộ văn học dân gian và văn học Việt Nam trung đại (tuồng, chèo, quan họ, chầu văn, chuyển thể sân khấu hóa Truyện Kiều…) được xây dựng từ những năm sơ tán gian khổ vẫn tiếp tục được củng cố và phát huy, có sức lôi cuốn mạnh mẽ các thế hệ sinh viên mới.

Trong hơn nửa thế kỷ qua, ở thời kỳ nào bộ môn cũng có những công trình chuyên luận có vị trí dấu mốc trong sự phát triển chung của khoa học văn học Việt Nam: Thơ ca Việt Nam-Hình thức và thể loại, Truyện Kiều và thể loại truyện Nôm, Nghiên cứu tiến trình lịch sử của văn học dân gian Việt Nam, Tinh tuyển Văn học trung đại Việt Nam, Con đường giải mã văn học trung đại Việt NamGiảng văn Văn học Việt Nam,…Có thể nói những công trình như thế đều là những thành tựu tinh hoa, trong đó những ý tưởng khoa học mới mẻ của thế hệ trước chẳng những có giá trị định hướng nghiên cứu cho thế hệ sau mà còn có ý nghĩa khích lệ và nuôi dưỡng không khí học thuật thường xuyên trong tất cả các hoạt động sinh hoạt chuyên môn và nghiệp vụ của bộ môn. Ba bộ giáo trình Đại học và Cao đẳng được bộ môn biên soạn trong các thời kỳ 1960-1961, 1989-1991 và 2005-2015 gắn với ba giai đoạn trong quá trình phát triển đã từng có ảnh hưởng sâu rộng trong ngành trên phạm vi cả nước đều là sự tích hợp những thành tựu nghiên cứu sau hàng chục Hội thảo đã được tổ chức, hàng trăm bài báo khoa học đã được công bố và rất nhiều đề tài khoa học các cấp do bộ môn thực hiện đã được nghiệm thu. Cũng trong lĩnh vực khoa học nghiệp vụ sư phạm, có thể thấy hầu hết các bộ sách giáo khoa, sách giáo viên, sách tham khảo, sách bồi dưỡng thường xuyên về văn học dân gian và văn học Việt Nam trung đại ở mọi cấp học phổ thông từ 1987 đến nay đều ghi danh các nhà biên soạn hoặc chủ biên là cán bộ của bộ môn: Đặng Thanh Lê, Hoàng Hữu Yên, Trần Gia Linh, Nguyễn Đăng Na, Lã Nhâm Thìn, Lê Trường Phát, Đinh Thị Khang, Nguyễn Thị Bích Hà, Phạm Thu Yến, Vũ Anh Tuấn, Nguyễn Thị Nương, Nguyễn Việt Hùng, Nguyễn Thanh Tùng, Vũ Thanh… Trên cơ sở những thành tựu đó, từng bước bộ môn đã chủ động mở rộng các mối quan hệ  hợp tác quốc tế. Đến nay, một số công trình của GS Đặng Thanh Lê, PGS.TS Nguyễn Đăng Na, PGS.TS Đinh Thị Khang, GS.TS Vũ Anh Tuấn… đã được công bố trên các tạp chí khoa học ở nước ngoài. Trong các hội thảo quốc tế được tổ chức ở Việt Nam gần đây, cùng với sự tham gia của các thầy cô đã có nhiều thành tựu như PGS.TS Nguyễn Đăng Na, GS.TS Lã Nhâm Thìn, PGS.TS Đinh Thị Khang, PGS.TS Phạm Thu Yến, GS.TS Vũ Anh Tuấn, PGS.TS Vũ Thanh… bộ môn còn có sự tham gia của các cán bộ trẻ: PGS.TS Nguyễn Việt Hùng, TS Phạm Đặng Xuân Hương, Ths Nguyễn Thị Hường, TS Nguyễn Thị Nương, TS Trần Thị Hoa Lê, TS Nguyễn Thanh Tùng, Ths Đỗ Thị Mỹ Phương...

Ngay từ  những năm đầu thành lập, bộ môn đã nhiều lần đạt danh hiệu Tổ đội Lao động Xã hội chủ nghĩa, nhiều cán bộ xuất sắc đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua các cấp, được nhận Bằng khen của Ngành của Chính phủ và Huân chương Lao động, Huân chương Kháng chiến của Nhà nước. Các thầy cô có công lao đào tạo cán bộ và phát triển bộ môn đã được vinh danh Nhà giáo Ưu tú, Nhà giáo Nhân dân. Trong danh sách đề cử chân dung nhà giáo tiêu biểu trường Đại học Sư phạm Hà Nội nhân kỷ niệm 60 năm thành lập khoa Ngữ văn, có bốn Giáo sư của bộ môn. Đó là GS.NGƯT Bùi Văn Nguyên, Huân chương Lao động hạng Ba, Giải thưởng Nhà nước; GS.NGƯT Đặng Thanh Lê, Huân chương Lao động hạng Ba (1996) hạng Nhất (2001); PGS.NGƯT Hoàng Hữu Yên và PGS.TS Đỗ Bình Trị, Huy chương Hữu nghị của Nhà nước Lào. Trong hoạt động quan hệ quốc tế, bộ môn còn có nhiều thầy cô được các nước bạn trao tặng Huy chương. NGND Nguyễn Nghĩa Dân được tặng Huy chương của Nhà nước Lào, các thầy Nguyễn Văn Tiến và Trần Quang Minh được tặng Huy chương của Nhà nước Campuchia. Trong những năm gần đây, bộ môn vinh dự có thêm bốn Nhà giáo Ưu tú vừa được Nhà nước phong tặng là: PGS.TS.NGƯT Nguyễn Đăng Na (Huân chương Kháng chiến hạng Ba), GS.TS.NGƯT Lã Nhâm Thìn (Huân chương Lao động hạng Ba), PGS.TS.NGƯT Phạm Thu Yến và GS.TS.NGƯT Vũ Anh Tuấn. Đặc biệt năm 2015 vừa qua, GS.TS Vũ Anh Tuấn được tuyên dương Điển hình tiên tiến 5 năm liên tục. Với những đóng góp xuất sắc vào sự nghiệp giáo dục đào tạo và cụm công trình khoa học “Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long Hà Nội”, GS.TS Lã Nhâm Thìn hai lần được nhận Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ. Trong nhiều năm, Tập thể bộ môn được công nhận là Tập thể lao động tiên tiến xuất sắc.

Số lượng Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ; số lượng cán bộ được khen thưởng Huân chương, Huy chương của Nhà nước, Bằng khen của Thủ tướng, của Bộ Giáo dục và Đào tạo...; số lượng Nhà giáo Nhân dân, Nhà giáo Ưu tú; số lượng cán bộ tham gia quân đội, tham gia các cấp lãnh đạo từ trung ương đến cơ sở rất hùng hậu của tổ bộ môn là một minh chứng cho sự trưởng thành, lớn mạnh và bền vững của đội ngũ cán bộ giảng dạy tổ Văn học Việt Nam dân gian và trung đại.

Phương hướng hoạt động trong những năm tới của bộ môn:

1. Về nhân sự: Tiếp tục hoàn chỉnh đội ngũ cán bộ giảng dạy của cả hai chuyên ngành (Văn học dân gian và Văn học Việt Nam trung đại) đầy đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng và tư tưởng chính trị để tiến tới năm 2020 có 100% cán bộ giảng dạy đạt trình độ Tiến sĩ, 70% có học hàm từ Phó giáo sư trở lên; cán bộ trẻ đảm nhiệm được việc giảng dạy toàn bộ giáo trình môn học.

2. Về giảng dạy: Dự kiến đến năm 2020, hoàn thành toàn bộ giáo trình mới cho các hệ chính quy, tại chức, từ xa... Tiếp tục cải tiến nội dung và phương pháp giảng dạy: tất cả các bài giảng của giảng viên đều có đề cương và hệ thống câu hỏi để sinh viên chuẩn bị bài ở nhà; 100% các học phần đều tăng số lượng và chất lượng giờ thực hành, xemina, làm bài tập nhóm,...

3. Về nghiên cứu khoa học: Dự kiến đến năm 2020, tất cả các giảng viên là tiến sĩ trở lên đều xuất bản chuyên luận và các công trình khoa học tập thể; mỗi năm các cán bộ của tổ đều có ít nhất một bài báo công bố trên tạp chí chuyên ngành.

4. Về hướng dẫn khoa học: Mỗi cán bộ mỗi năm hướng dẫn ít nhất một báo cáo khoa học sinh viên đạt chất lượng tốt. Đến năm 2020, tổ phấn đấu hướng dẫn thành công khoảng 30 nghiên cứu sinh thuộc cả hai chuyên ngành.

5. Về hoạt động ngoại khóa cho sinh viên: Hàng năm mỗi chuyên ngành có một chuyến tham quan ngoại khóa và một câu lạc bộ văn học, nâng cao kiến thức, nghiệp vụ cho sinh viên và cán bộ giảng viên.

Điểm lại lịch sử 65 năm trưởng thành và không ngừng phát triển của Bộ môn Văn học Việt Nam dân gian và trung đại, có thể nói truyền thống đoàn kết và truyền thống tự lực chính là hai giá trị cơ bản đã được xác lập, gìn giữ từ thế hệ trước đến thế hệ sau. Cho đến thời điểm hiện nay, mặc dù đất nước và cuộc sống riêng của từng cán bộ vẫn còn nhiều khó khăn thách thức, song tập thể Bộ môn vẫn là một đội ngũ vững mạnh, có phẩm chất chính trị tốt, có năng lực chuyên môn nghiệp vụ đủ khả năng đáp ứng những yêu cầu và nhiệm vụ mới trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo của Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội./.

 

 

 

 

 

Danh sách cán bộ của bộ môn đã và đang tham gia công tác quản lí tại khoa và các đơn vị khác

1.    

Phan Côn

Phó văn phòng Ban Tư tưởng văn hóa Trung ương

2.    

Nguyễn Nghĩa Dân

Phó Chủ nhiệm Khoa, Bí thư Đảng ủy Khoa, Phó Bí thư Đảng ủy Trường, Phó chánh Văn phòng Bộ GD&ĐT

3.    

Nguyễn Thị Bích Hà

Chủ nhiệm Khoa Việt Nam học, ĐHSPHN

4.    

Phạm Văn Hóa

Ủy viên thường trực tỉnh đảng bộ Thái Bình

5.    

Đặng Thanh Lê

Trưởng bộ môn, Giám đốc Trung tâm Việt Nam học, ĐHSPHN

6.    

Trần Thị Hoa Lê

Trưởng bộ môn

7.    

Trần Gia Linh

Trưởng bộ môn

8.    

Trần Quang Minh

Phó Bí thư Đảng ủy Khoa

9.    

Nguyễn Đăng Na

Trưởng bộ môn

10.                       

Trần Đức Ngôn

Hiệu trưởng Đại học Văn hóa

11.                       

Bùi Văn Nguyên

Trưởng bộ môn

12.                       

Nguyễn Tấn Phát

Hiệu trưởng, Bí thư Đảng ủy ĐHSP TPHCM, Thứ trưởng Bộ GD&ĐT, Giám đốc ĐHQG TPHCM

13.                       

Phan Sĩ Tấn

Chủ nhiệm Khoa

14.                       

Vũ Thanh

Phó Chủ nhiệm Khoa, Phó Viện trưởng Viện Văn học

15.                       

Trần Văn Thận

Bí thư Đảng ủy Khoa, Phó Chủ nhiệm Khoa

16.                       

Lã Nhâm Thìn

Chủ nhiệm Khoa, Bí thư Đảng ủy Khoa

17.                       

Đặng Thái Thuyên

Bí thư chi bộ

18.                       

Hoàng Ngọc Trì

Phó Giám đốc Sở Khoa học công nghệ và môi trường Nam Định

19.                       

Đỗ Bình Trị

Chủ nhiệm Khoa, Cục trưởng

20.                       

Vũ Anh Tuấn

Trưởng bộ môn

21.                       

Lê Trí Viễn

Chủ nhiệm Khoa

22.                       

Phạm Thu Yến

Phó Chủ nhiệm Khoa

 

 

 

Danh sách cán bộ của bộ môn đã hưu trí hoặc chuyển cơ quan

Stt

Họ và tên

Chỗ ở hiện nay

Học hàm, học vị, danh hiệu

1.    

Nguyễn Ngọc Côn

Hà Nội

Cử nhân

2.    

Nguyễn Nghĩa Dân

Hà Nội

Cử nhân, NGƯT

3.    

Trần Tiến Đức

Hà Nội

Cử nhân

4.    

Nguyễn Thị Bích Hà

Hà Nội

PGS.TS

5.    

Nguyễn Mỹ Hòa

Sài Gòn

Ths

6.    

Phạm Văn Hóa

Thái Bình

Cử nhân

7.    

Đinh Thị Khang

Hà Nội

PGS.TS

8.    

Đặng Thanh Lê

Hà Nội

GS, NGƯT

9.    

Trần Gia Linh

Hà Nội

Cử nhân

10.                       

Trần Quang Minh

Hà Nội

Cử nhân

11.                       

Nguyễn Đăng Na

Hà Nội

PGS.TS, NGƯT

12.                       

Trần Đức Ngôn

Hà Nội

PGS.TS

13.                       

Bùi Văn Nguyên

Hà Nội

GS, NGƯT

14.                       

Lê Trường Phát

Hà Nội

PGS.TS

15.                       

Nguyễn Tấn Phát

Hà Nội

PGS.TS

16.                       

Lý Hữu Tấn

Hà Nội

Cử nhân

17.                       

Phan Sĩ Tấn

Hà Nội

PGS

18.                       

Nguyễn Văn Tiến

Hà Nội

Cử nhân

19.                       

Doãn Nhữ Tiếp

Hà Nội

Cử nhân

20.                       

Đặng Quang Thanh

Hà Nội

Cử nhân

21.                       

Vũ Thanh

Hà Nội

PGS.TS

22.                       

Trần Văn Thận

Quảng Ngãi

Cử nhân

23.                       

Đặng Thái Thuyên

Hà Nội

Cử nhân

24.                       

Đào Nguyên Tụ

Hà Nội

Cử nhân

25.                       

Hoàng Ngọc Trì

Hà Nội

TS

26.                       

Đỗ Bình Trị

Hà Nội

PGS

27.                       

Lê Trí Viễn

Sài Gòn

GS

28.                       

Hoàng Hữu Yên

Hà Nội

PGS, NGƯT

29.                       

Phạm Thu Yến

Hà Nội

PGS.TS, NGƯT

30.                       

Nguyễn Thị Hồng Minh

Hà Nội

Ths

31.                       

Lê Thái Hoa

Hà Nội

Ths

32.                       

Bùi Kim Ánh

Hà Nội

Ths

 

Danh sách cán bộ của bộ môn hiện đang công tác

Stt

Họ và tên

Quê quán

Học hàm, học vị, danh hiệu, chức vụ

1.    

Nguyễn Việt Hùng

Hưng Yên

PGS.TS, Phó trưởng bộ môn

2.    

Phạm Đặng Xuân Hương

Nam Định

TS

3.    

Nguyễn Thị Hường

Nam Định

Ths

4.    

Trần Thị Hoa Lê

Hà Nam

TS, Trưởng bộ môn

5.    

Nguyễn Thị Nương

Hà Tây

TS

6.    

Đỗ Thị Mỹ Phương

Nam Định

Ths

7.    

Lã Nhâm Thìn

Ninh Bình

GS.TS.NGƯT

8.    

Vũ Anh Tuấn

Thái Bình

GS.TS.NGƯT

9.    

Nguyễn Thanh Tùng

Thanh Hóa

TS

 

Danh sách cán bộ tham gia quân đội

1. Phạm Văn Hóa

2. Trần Quang Minh

3. Lã Nhâm Thìn

4. Đặng Thái Thuyên

5. Hoàng Ngọc Trì

Hà Nội ngày 18 tháng 8 năm 2016

Trưởng Bộ môn   

TS Trần Thị Hoa Lê

BỘ MÔN VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI

(Văn học Việt Nam II)

Bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại (còn gọi là Văn học Việt Nam II) là 1 trong 7 bộ môn của khoa Ngữ văn, Trường ĐHSPHN. Bộ môn có nhiệm vụ giảng dạy, đào tạo về Văn học Việt Nam hiện đại (từ đầu thế kỉ XX đến nay cho các hệ đại học, cao học, nghiên cứu sinh tại Khoa Ngữ văn trường ĐHSPHN, đồng thời nghiên cứu khoa học về lĩnh vực chuyên môn nói trên.

Số lượng giảng viên hiện nay của bộ môn là 10 người, bao gồm:

-        PGS. TS. Trần Văn Toàn, (Phó chủ nhiệm khoa Ngữ văn, kiêm Trưởng môn)

-        PGS. TS. Đặng Thu Thuỷ (Phó Trưởng môn)

-         GS. TS. Trần Đăng Xuyền

-         TS. Chu Văn Sơn

-         TS. Trần Hạnh Mai (Phó chủ nhiệm khoa Ngữ văn)

-         TS. Nguyễn Văn Phượng (Đang là giảng viên thỉnh giảng tại Hàn Quốc)

-         TS. Nguyễn Thị Minh Thương 

-    TS. Đinh Minh Hằng (Bí thư Liên chi Đoàn khoa Ngữ văn, Phó Bí thư Đoàn trường) 

-         ThS. Nguyễn Văn Hiếu (Đang làm nghiên cứu sinh tại Úc)

I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ

Bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại là một trong những đơn vị chuyên môn trọng yếu của Khoa Ngữ văn, có lịch sử hình thành và phát triển cho đến nay đã gần 60 năm, có nhiều đóng góp to lớn trong công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học, góp phần vào thành tựu chung của Khoa và của Trường ĐHSPHN.

Bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại chính thức hình thành từ năm 1958 (trước đó, từ 1951, phụ trách giảng dạy Văn học Việt Nam hiện đại là GS. Trương Tửu). Sau những biến cố ở trường đại học vào những năm 1956 – 1957, đội ngũ giảng viên Khoa Văn ĐHSP có nhiều biến động. Bên cạnh một số giảng viên là những sinh viên mới tốt nghiệp năm 1957, Khoa Văn được bổ sung nhiều cán bộ từ các đơn vị khác, như Ban tu thư của Bộ Giáo dục, Trường Sư phạm trung cấp Trung ương, một số từ các trường THPT. Ban đầu, chuyên ngành Văn học Việt Nam được phân chia làm 3 bộ môn, trong đó bộ môn Văn học Việt Nam III phụ trách phần Văn học Việt Nam từ 1930 trở đi. Thời kì này bộ môn có các thầy: Hoàng Như Mai, Huỳnh Lý, Nguyễn Trác, Trần Văn Hối, Phan Cự Đệ, do thầy Nguyễn Trác làm Trưởng bộ môn. Những năm 1959 – 1960 khi các thầy Hoàng Như Mai, Phan Cự Đệ chuyển về Đại học Tổng Hợp (nay là ĐHKHXH&NV), thầy Trần Văn Hối vào ĐHSP Vinh, đội ngũ giảng viên của bộ môn được bổ sung các thầy Hoàng Dung, Nguyễn Hoành Khung, Đoàn Trọng Huy, Lê Tố và năm 1961 là thầy Nguyễn Xuân Tự. Những năm 1958 – 1965 là thời kì hình thành và bước đầu xây dựng, củng cố lực lượng của bộ môn. Cùng với việc ổn định chương trình, các cán bộ chủ chốt của bộ môn đã tham gia biên soạn bộ giáo trình Lịch sử Văn học Việt Nam đầu tiên của trường ĐHSP, cũng là đầu tiên của các trường đại học ở ta, cụ thể là các tập V (1930 – 1945) do các thầy Nguyễn Trác, Hoàng Dung, Nguyễn Hoành Khung, Nguyễn Đăng Mạnh biên soạn; tập VI (1945 – 1962) do các thầy Huỳnh Lý, Trần Văn Hối biên soạn. Bộ giáo trình này đã làm tài liệu học tập chính thức của sinh viên cho đến cuối những năm 80, khi được thay thế bằng những giáo trình mới được biên soạn hoặc chỉnh lý, bổ sung.

Từ 1965 – 1975 là thời kì bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại tiếp tục phát triển và trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ. Năm 1965, Mĩ mở rộng cuộc chiến tranh phá hoại ra miền Bắc, các trường đại học ở Hà Nội và các thành phố khác phải sơ tán về các vùng rừng núi hoặc nông thôn. Khoa Văn sơ tán lên Đại Từ (Thái Nguyên), rồi sau chuyển về Yên Mĩ, tỉnh Hưng Yên. Cùng với toàn khoa, các cán bộ của bộ môn đã tham gia tích cực vào mọi hoạt động để giữ vững và phát triển công tác đào tạo giáo viên và các hoạt động khác phục vụ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Từ 1965 – 1969, bộ môn đã được bổ sung một số cán bộ trẻ: Nguyễn Văn Long, Nguyễn Thị Nhung, Bùi Công Minh, Bùi Đình Thể. Năm 1967, thầy Huỳnh Lý sau 3 năm biệt phái công tác tại ĐHSP Vinh được trở lại tổ và năm 1968, thầy Nguyễn Đăng Mạnh được điều động từ ĐHSP Vinh ra, thầy Trần Hữu Tá từ Trung học Sư phạm Hà Tây chuyển về. Không chỉ đảm bảo công tác đào tạo với quy mô ngày càng mở rộng, trải ra ở nhiều địa điểm sơ tán trong những năm chiến tranh, các cán bộ của bộ môn còn đóng góp nhiều công sức vào các hoạt động chung của toàn khoa và trường như xây dựng lớp học, hầm hào, dân quân tự vệ, phục vụ chiến đấu, tuyên truyền cổ động… Bộ môn đã tham gia và tổ chức nhiều chuyến đi thực tế cho cán bộ và sinh viên đến những vùng tuyến lửa và nhiều địa phương, đơn vị tiên tiến tiêu biểu trong phong trào chiến đấu và sản xuất, như các chuyến đi Hàm Rồng – Thanh Hoá năm 1965, Quảng Bình  - Vĩnh Linh năm 1973, Tây Bắc năm 1974… Các hoạt động ngoại khóa, giao lưu tiếp xúc với các nhà văn, nhà nghiên cứu vẫn được tổ chức khá thường xuyên ngay tại các địa điểm sơ tán.  Phát huy thế mạnh và vị trí của mình, nhiều giảng viên của bộ môn đã tham gia tích cực vào hoạt động phê bình văn học trên báo chí và tại các cuộc hội nghị hội thảo về Văn học. Trong những năm kháng chiến chống Mỹ cùng với nhiều giảng viên và sinh viên của khoa, 2 giảng viên của bộ môn Văn học Việt Nam III đã lên đường nhập ngũ đó là các thầy Bùi Công Minh, Bùi Đình Thể, cô Nguyễn Thị Nhung (đi B). Trưởng bộ môn trong những năm này là PGS Nguyễn Trác (đến 1968)  và PGS Huỳnh Lý, từ 1969.

Năm 1970, theo sự sắp xếp lại tổ chức, chuyên ngành Văn học Việt Nam ở khoa được chia làm 2 bộ môn. Bộ môn Văn học Việt Nam II phụ trách phần Văn học Việt Nam từ giữa thế kỷ XIX trở đi. Do đó, các cán bộ giảng dạy phần Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX của bộ môn Văn học Việt Nam II (cũ) là các thầy Nguyễn Đình Chú, Đào Nguyên Tụ, Tôn Gia Các, Nguyễn Tiệp, Đỗ Đức Tín, cô Trịnh Thị Thu Tiết nhập vào với bộ môn Văn học Việt Nam III (cũ) để thành bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại (Văn học Việt Nam II mới).

Cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước kết thúc thắng lợi, đất nước thống nhất đã mở ra những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của toàn ngành Giáo dục cũng như từng đơn vị, đồng thời đặt ra những yêu cầu mới, đòi hỏi mỗi người, mỗi đơn vị phải vươn lên mạnh mẽ và nhanh chóng đáp ứng các nhiệm vụ trong giai đoạn mới. Từ sau 1975 đến những năm đầu thế kỉ XXI là thời kì bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại phát triển mạnh mẽ về mọi mặt thành một đơn vị đào tạo và nghiên cứu khoa học vững mạnh, phát huy vai trò và ảnh hưởng rộng lớn trong các hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học cơ bản và khoa học giáo dục không chỉ trong khoa, trường mà cả trong ngành giáo dục và ngoài xã hội. Cùng với việc đào tạo hệ đại học được mở rộng về quy mô và đa dạng về hình thức, bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại được nhận nhiệm vụ đào tạo hệ Sau đại học ngay từ khóa đầu (1977) và tiếp đó là đào tạo nghiên cứu sinh.

Đáp ứng sự phát triển của ngành giáo dục, nhiều cán bộ của bộ môn được cử đi xây dựng các trường đại học mới hoặc chi viện cho các trường đại học  và Sở Giáo dục các tỉnh vùng mới giải phóng ở miền Nam: Thầy Đào Nguyên Tụ lên ĐHSPHN II, thầy Nguyễn Xuân Tự về Huế, thầy Lê Tố vào Đại học Cần Thơ và thầy Trần Hữu Tá vào ĐHSP Thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra, trong nhiều năm có hàng chục lượt cán bộ mỗi năm được mời thỉnh giảng tại các trường đại học khác, đặc biệt là các trường đại học phía Nam, 2 cán bộ đi chuyên gia giáo dục tại Angôla, 3 cán bộ đi làm nghiên cứu sinh và thực tập sinh ở Liên Xô, 1 nghiên cứu sinh ở Cộng hoà dân chủ Đức.

Từ 1978 – 1980, Tổ đã được tăng cường một lực lượng khá đông đảo các cán bộ trẻ: các thầy Trần Đăng Xuyền, Trần Duy Thanh, Đào Thanh Hoá, Nguyễn Quốc Luân, cô Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Thu Minh (nhưng các thầy Trần Duy Thanh, Nguyễn Quốc Luân, Đào Thanh Hoá và cô Nguyễn Thu Minh chỉ ở tổ 1 thời gian, rồi chuyển công tác). Trong những năm từ 1985 – 2000, tổ đã tiếp nhận thêm nhiều cán bộ mới: các thầy Chu Văn Sơn, cô Trần Hạnh Mai, cô Nguyễn Thị Thanh Minh, thầy Lê Quang Hưng; thầy Trần Đăng Xuyền sau khi bảo vệ Tiến sĩ ở Liên Xô cũng trở về bộ môn. Ngoài các cán bộ đã chuyển công tác, một số thầy cô được nghỉ hưu (PGS. Huỳnh Lý, PGS. Hoàng Dung, PGS. Nguyễn Trác, thầy Tôn Gia Các, cô Trịnh Thị Thu Tiết), thầy Nguyễn Tiệp từ trần vì bệnh hiểm nghèo. Trưởng bộ môn từ 1976 – 1984 là PGS. Hoàng Dung, từ 1984 – 1994 là GS. Nguyễn Đăng Mạnh và từ 1995 - 2007 là PGS. Nguyễn Văn Long.

Sau hai đợt phong chức danh khoa học của Nhà nước (1980, 1984), bộ môn đã có 5 phó giáo sư là các thầy Huỳnh Lý, Nguyễn Trác, Nguyễn Đình Chú, Hoàng Dung, Nguyễn Đăng Mạnh. Đây cũng là sự công nhận của Nhà nước về năng lực, trình độ và sự cống hiến đáng kể của đội ngũ cán bộ cốt cán trong bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại. Đồng thời cũng tạo điều kiện mở ra bước phát triển mới của đơn vị, vươn lên đảm nhận những nhiệm vụ mới, đào tạo Sau đại học và nghiên cứu sinh.

Năm 1992, PGS. Nguyễn Đình Chú và PGS. Nguyễn Đăng Mạnh được nhận chức danh giáo sư, các thầy Nguyễn Hoành Khung và Nguyễn Văn Long nhận chức danh phó giáo sư, tiếp đó 2 PGS được phong năm 1996 là Đoàn Trọng Huy và Trần Đăng Xuyền. Năm 2003 PGS. Trần Đăng Xuyền được phong giáo sư, TS Nguyễn Thị Bình và TS Lê Quang Hưng được phong phó giáo sư.

Từ đầu thế kỉ XXI đến nay là thời kì chuyển giao thế hệ của tổ Văn học Việt Nam hiện đại. Vào những năm đầu thế kỉ XXI, 4 cán bộ lão thành của tổ là GS. Nguyễn Đình Chú, GS. Nguyễn Đăng Mạnh, PGS. Đoàn Trọng Huy, PGS. Nguyễn Hoành Khung được nghỉ hưu, và trước đó là thầy Tôn Gia Các. Tuy nhiên, nhờ có chiến lược đúng đắn về công tác cán bộ, đội ngũ giảng viên của bộ môn không bị rơi vào sự hẫng hụt về lực lượng. Các giảng viên thuộc đội ngũ kế cận của bộ môn đã vươn lên mạnh mẽ, trở thành nòng cốt trong mọi hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học. Từ năm 2001 đến nay, bộ môn đã được bổ sung một lực lượng đáng kể: TS. Trần Văn Toàn, TS. Nguyễn Văn Phượng, TS. Lê Hải Anh, TS. Đặng Thu Thủy, ThS. Nguyễn Văn Hiếu và tiếp đó là TS. Nguyễn Thị Minh Thương, TS. Đinh Minh Hằng. Liên tiếp hai năm 2015, 2016, TS. Trần Văn Toàn và TS. Đặng Thu Thủy lần lượt được phong chức danh phó giáo sư. Hiện nay, trừ 1 cán bộ đang đi học NCS tại nước ngoài là Nguyễn Văn Hiếu, các giảng viên trong bộ môn đều có học vị TS, trong đó có 1 GS là thầy Trần Đăng Xuyền, 2 PGS là thầy Trần Văn Toàn và cô Đặng Thu Thủy. Trưởng bộ môn từ năm 2008 đến 2013 là PGS.TS Nguyễn Thị Bình; từ tháng 8/ 2015 đến nay là PGS. TS. Trần Văn Toàn.

Trong suốt lịch sử hình thành và phát triển của mình bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại luôn khẳng định vị thế hàng đầu của mình trong đào tạo và nghiên cứu khoa học. Số lượng học viên cao học và nghiên cứu sinh của bộ môn thuộc loại nhiều nhất trong các bộ môn của Khoa và Trường. Nhiều thành viên của bộ môn chủ trì các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, cấp Trường; số lượng sách chuyên khảo cũng ngày một nhiều. Bộ môn đã biên soạn các giáo trình mới về Văn học Việt Nam hiện đại dành cho hệ chính quy, tại chức, từ xa, Cao đẳng. Nhiều thành viên của bộ môn là chủ biên, tác giả của các sách giáo khoa Ngữ văn THCS, THPT của chương trình đổi mới.

II. ĐÀO TẠO VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

1. Đào tạo

- Đào tạo cử nhân: liên tục trong hơn 50 năm qua, bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại đảm nhận nhiệm vụ  đào tạo các hệ đại học chính quy (cử nhân sư phạm và cử nhân khoa học), chuyên tu, vừa làm vừa học, từ xa với tổng số hàng chục nghìn sinh viên (có thời kỳ số lượng sinh viên rất lớn: chỉ tính riêng hệ chính quy đã lên tới 500 đến 600 sinh viên/ năm).

- Đào tạo Sau đại học: Bộ môn văn học Việt Nam hiện đại được giao nhiệm vụ đào tạo Sau đại học ngay từ khoá đầu tiên (1977) và liên tục 13 khoá đến 1990 đã đào tạo trên 150 học viên chuyên ngành Văn học Việt Nam hiện đại. Đào tạo Thạc sĩ từ khoá đầu (1991) đến 2015 là 24 khoá, trung bình từ 20 - 40 học viên mỗi khoá (có khoá trên 50 học viên). Số Thạc sĩ đã đào tạo khoảng 700 người.

Đào tạo nghiên cứu sinh: số lượng nghiên cứu sinh của bộ môn văn học Việt Nam hiện đại thuộc vào loại nhiều nhất trong các bộ môn của toàn trường. Hàng năm bộ môn tuyển từ 4 – 6 nghiên cứu sinh. Tính đến nay, bộ môn đã đào tạo hơn 50 TS chuyên ngành. Ngoài các học viên trong nước, bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại còn đào tạo nhiều Thạc sĩ và Tiến sĩ người nước ngoài (Trung Quốc, Hàn Quốc). Một số giảng viên của bộ môn còn tham gia đào tạo Thạc sĩ, Tiến sĩ cho Viện Văn học và nhiều trường Đại học khác. Các luận văn Thạc sĩ và Luận án Tiến sĩ do các thành viên trong bộ môn hướng dẫn đều đảm bảo chất lượng tốt, có nhiều luận án xuất sắc.

2. Nghiên cứu khoa học

Bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại là một đơn vị mạnh với nhiều cán bộ đầu ngành và những cán bộ trẻ có năng lực vững vàng. Các giảng viên của bộ môn đã cho in trên 300 đầu sách gồm các loại phê bình - tiểu luận, chuyên luận nghiên cứu, tư liệu, hợp tuyển và tuyển tập, sách giáo khoa, giáo trình tham khảo… Số lượng bài báo đã công bố: trên 500 bài.

Bộ môn đã biên soạn và xuất bản các tập giáo trình thuộc chương trình Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XIX đến hết thế kỉ XX, được sử dụng làm tài liệu dùng chung cho các trường đại học sư phạm của cả nước.

 Nhiều giảng viên của bộ môn đã tham gia biên soạn chương trình, chủ biên và viết sách giáo khoa trung học cơ sở, trung học phổ thông và trung học phân ban, viết tài liệu bồi dưỡng giáo viên cho Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Bộ môn đã chủ trì tổ chức và đồng chủ trì nhiều hội nghị khoa học lớn, quy mô toàn ngành, toàn quốc như: Đảng ta, chế độ ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nền Văn học Việt Nam hiện đại (1979); Giảng dạy thơ văn Hồ Chí Minh (1980); Đổi mới nghiên cứu và giảng dạy văn học (1990); 50 năm văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám (1995); Văn học Việt Nam sau 1975 - Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy (2005). Các thành viên của bộ môn đã chủ trì hơn 20 đề tài khoa học công nghệ cấp Bộ, cấp Bộ trọng điểm và hàng chục đề tài KHCN cấp trường, tham gia nhiều đề tài khoa học công nghệ cấp nhà nước.

III. THÀNH TÍCH, KHEN THƯỞNG

- 6 năm là tổ Lao động XHCN, từ 1995 – 2005 liên tục là tổ Lao động xuất sắc. Từ 2006 đến nay nhiều năm là tổ Lao động xuất sắc. Năm 1995, bộ môn nhận bằng khen của Chính phủ, năm 2001 được nhận Huân chương Lao động hạng III.

- Nhiều thành viên của bộ môn được nhận Huân chương Lao động hạng II (GS. Nguyễn Đình Chú, GS. Nguyễn Đăng Mạnh), hạng III (PGS. Nguyễn Hoành Khung, PGS. Nguyễn Văn Long, GS.TS. Trần Đăng Xuyền) và nhiều người được tặng bằng khen của Chính phủ, của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.

- Bộ môn đã có 5 nhà giáo nhân dân (PGS. Huỳnh Lý, GS. Nguyễn Đình Chú, GS. Nguyễn Đăng Mạnh, PGS. Nguyễn Văn Long, PGS. Nguyễn Hoành Khung), 3 nhà giáo ưu tú (PGS. Nguyễn Trác, GS.TS. Trần Đăng Xuyền, PGS.TS. Nguyễn Thị Bình). Năm 2000, GS Nguyễn Đăng Mạnh được nhận giải thưởng Nhà nước về khoa học.

Bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại là một đơn vị chuyên môn mạnh, có truyền thống và nhiều thành tựu cả về đào tạo và nghiên cứu khoa học, có nhiều đóng góp vào thành tựu chung của khoa Ngữ văn, trường ĐHSPHN và của ngành khoa học Ngữ văn Việt Nam. Trong quá trình xây dựng và phát triển của tổ, nhiều thành viên của bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại đã được tín nhiệm cử giữ những trọng trách ở Khoa và trường (Phó Hiệu trưởng, chủ nhiệm Khoa, phó chủ nhiệm Khoa, Bí thư Đảng uỷ Khoa, Chủ tịch Công đoàn Khoa…)

HÁN NÔM - CSVH VN

BỘ MÔN HÁN NÔM - CƠ SỞ VĂN HÓA VIỆT NAM

I. Quá trình hình thành và phát triển đội ngũ

Bộ môn Hán Nôm - Cơ sở văn hóa Việt Nam có tiền thân là Nhóm Cổ văn, Tổ Cổ văn, Tổ Hán Nôm, thuộc Khoa Ngữ văn, trải qua lịch sử 70 năm của Trường Đại học Văn học, Đại học Văn khoa, Đại học Sư phạm Hà Nội I, Đại học Sư phạm Hà Nội.

Giai đoạn đầu (những năm 1956 - 1975)

Cách đây gần 60 năm, được sự đồng ý của Bộ Giáo dục và Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, ban lãnh đạo khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã quyết tâm tổ chức một nhóm nghiên cứu và giảng dạy Ngữ văn Hán Nôm (lúc đó mang tên Nhóm nghiên cứu giảng dạy Cổ văn) gồm các cán bộ Phạm Thị Hảo, Nguyễn Ngọc San, Đặng Đức Siêu, Phan Hữu Nghệ. Từ năm 1965 đến năn 1967 được bổ sung các cán bộ: Nguyễn Văn Thiệu, Phạm Anh Tuấn, Trần Phương Thi, Huỳnh Văn Trứ, Lê Văn Sơn, Lê Tiến Sơn, Đoàn Thị Mai, Phạm Văn Liệu. Từ năm 1970 đến 1975 có thêm các cán bộ Phạm Thuý Nghi, Lê Thị Bình, Vương Mộng Bưu, Bùi Thanh Hùng… Khoảng năm 1969-1975, trong hoàn cảnh chiến tranh, một số giảng viên dạy ngoại ngữ cho Khoa (gồm tiếng Nga và tiếng Trung) gồm các thầy cô Nguyễn Thái Vân, Nguyễn Thái Nghi, Nguyễn Thị Nam, Kiều Lục… được “biên chế” sinh hoạt hành chính và chuyên môn tại Tổ. Phụ trách Nhóm/ Tổ trong khoảng giai đoạn đầu này lần lượt là các thầy cô: Phạm Thị Hảo, Nguyễn Ngọc San, Đặng Đức Siêu.

Bộ môn được giao nhiệm vụ đào tạo Cử nhân Văn khoa Sư phạm cho tất cả sinh viên học tập tại Khoa. Cử nhân Văn khoa lúc đó chỉ đào tạo hai năm. Năm 1965, do yêu cầu mới, Bộ môn bắt đầu tham gia đào tạo hệ Cử nhân ba năm và bồi dưỡng cho hệ Cử nhân hai năm (thêm một năm gọi là hệ 2 + 1). Tiếp đó, năm 1968, Bộ môn bắt đầu đào tạo hệ Cử nhân bốn năm và hệ Cử nhân 3 + 1 (bồi dưỡng thêm một năm cho hệ Cử nhân ba năm).

Trong quá trình chuyển từ đào tạo hệ Cử nhân hai năm lên hệ Cử nhân bốn năm, đội ngũ cán bộ giảng dạy của Tổ luôn gắn quá trình đào tạo với tự đào tạo, gắn giảng dạy với nghiên cứu khoa học. Bộ Giáo trình Cổ văn (2 tập) đầu tiên của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội cũng là bộ giáo trình cổ văn đầu tiên của nền giáo dục Việt Nam mới do PGS. Đặng Đức Siêu biên soạn đã được ra mắt bạn đọc.

Do khoa học ngày càng phát triển và đòi hỏi cơ cấu tổ chức cần được sắp xếp lại nhằm đáp ứng nhu cầu mới, Bộ môn được bổ sung lực lượng với yêu cầu mọi thành viên của Bộ môn phải làm luận văn bước I (tương đương với trình độ Thạc sĩ hiện nay). 

Giai đoạn thứ hai (từ năm 1975 - 1990)

 Sau khi đất nước thống nhất và hòa bình, nhiệm vụ mới được đặt ra. Đội ngũ cán bộ giảng dạy của Tổ một mặt chi viện cho các trường khu vực từ Huế trở vào, bổ sung và chi viện cho trường Đại học Sư phạm Hà Nội II (Xuân Hòa - Vĩnh Phúc); mặt khác, được các trường đại học trong cả nước mời giảng. Tổ Cổ văn được chuyển thành Bộ môn Ngữ văn Hán Nôm từ năm 1976 do GS. Lê Trí Viễn làm chủ nhiệm Bộ môn. Một thời gian ngắn sau đó, Bộ môn Ngữ văn Hán Nôm đã hoàn thành bộ giáo trình Cơ sở Ngữ văn Hán Nôm (4 tập, NXB Giáo Dục 1984 – 1987) đặc biệt công phu và có giá trị khoa học do GS. Lê Trí Viễn chủ biên, được những người nghiên cứu, giảng dạy và học tập Hán Nôm đánh giá cao. Sau này, khi GS. Lê Trí Viễn chuyển vào miền Nam công tác, PGS. Đặng Đức Siêu - Trưởng nhóm Cổ văn ngày trước được cử làm Chủ nhiệm bộ môn. Cũng từ năm 1976, Bộ môn bắt đầu được giao nhiệm vụ đào tạo Nghiên cứu sinh trong nước với luận án tiến sĩ Hán Nôm đầu tiên của Việt Nam được bảo vệ năm 1979 (Luận án của TS. Nguyễn Danh Đạt, là cán bộ của Cao đẳng Sư phạm Hà Nội sau này).

Giai đoạn thứ ba (từ sau 1990 - nay)

 Sau năm 1990, nhiều cán bộ lần lượt nghỉ hưu. Đội ngũ được bổ sung có Hà Văn Minh, Dương Tuấn Anh; từ sau năm 2000 lại được bổ sung thêm một số cán bộ trẻ có năng lực và nhiệt huyết với việc nghiên cứu và giảng dạy Hán Nôm và Cơ sở văn hóa Việt Nam là Nguyễn Thị Tú Mai, Nguyễn Thị Thanh Chung, Vũ Huy Vĩ, Đỗ Thị Thu Hà, Phùng Diệu Linh, Lê Tùng Lâm. 

Từ năm học 2000 - 2001, theo quyết định của trường ĐHSP Hà Nội, Bộ môn Hán Nôm được lấy làm nòng cốt để xây dựng Nhóm nghiên cứu và giảng dạy Cơ sở văn hoá Việt Nam trực thuộc trường. PGS. Đặng Đức Siêu được cử kiêm nhiệm Nhóm trưởng của nhóm này. Ngoài một số cán bộ của bộ môn, một số cán bộ của Bộ môn khác như PGS.TS. Lê Trường Phát, PGS.TS. Trần Lê Bảo, GS.TS. Vũ Anh Tuấn, PGS.TS. Nguyễn Việt Hùng.... đã được bổ sung vào nhóm để giảng dạy môn Cơ sở văn hoá Việt Nam cho các hệ đào tạo của trường. 

Như vậy, đến nay, Bộ môn Hán Nôm thực tế là một bộ môn kép, thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu và giảng dạy ở 2 lĩnh vực: Hán Nôm học và Văn hóa học - văn hóa Việt Nam. Nhóm nghiên cứu và giảng dạy Cổ văn, tiền thân của bộ môn Ngữ văn Hán Nôm sau này, và bây giờ là Bộ môn Hán Nôm – Cơ sở văn hoá Việt Nam gồm những giáo sư, những cán bộ đầu ngành có công rất lớn trong việc xây dựng đội ngũ những người giáo viên vừa có phẩm chất đạo đức vừa có năng lực chuyên môn.

Ngoài ra, Bộ môn Ngữ văn Hán Nôm cũng đã thành lập Trung tâm nghiên cứu và giảng dạy Hán Nôm trực thuộc trường ĐHSP Hà Nội (1990). Hàng năm Trung tâm đào tạo và cấp chứng nhận và chứng chỉ Hán Nôm cho hàng trăm học viên đồng thời tham gia các công tác nghiên cứu, công tác chuyên môn thuộc lĩnh vực Hán Nôm. Kế nhiệm PGS. Đặng Đức Siêu, PGS.TS. Hà Văn Minh kiêm nhiệm làm Giám đốc Trung tâm, TS. Nguyễn Thị Tú Mai làm Phó giám đốc.

Về nhân sự của Bộ môn, kế tục PGS. Đặng Đức Siêu, GVC. Bùi Thanh Hùng làm Chủ nhiệm bộ môn từ 2004; tiếp đó từ năm 2008 là PGS.TS. Hà Văn Minh; từ năm 2021 là PGS.TS. Nguyễn Thị Thanh Chung. Trong những năm vừa qua, một số cán bộ của Bộ môn đã nghỉ hưu hoặc chuyển công tác. Đội ngũ hiện tại gồm 3 PGS.TS. (Hà Văn MinhDương Tuấn Anh, Nguyễn Thị Thanh Chung), 2 TS. (Nguyễn Thị Tú Mai, Phùng Diệu Linh), 1 NCS. (Đỗ Thị Thu Hà).

II. Công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học

Qua gần nửa thế kỉ tồn tại và phát triển, Bộ môn Hán Nôm – Cơ sở văn hóa Việt Nam thuộc khoa Ngữ văn Trường ĐHSPHN đã đạt được một số thành tựu sau:

1. Đào tạo

- Giảng dạy môn Ngữ văn Hán Nôm, Cơ sở văn hóa Việt Nam cho khối đại học từ năm 1960 đến nay. Trung bình mỗi năm học, mỗi cán bộ trong tổ bộ môn giảng dạy khoảng trên 350 tiết; - Giảng dạy chuyên đề Lịch sử văn hoá tư tưởng phương Đông, Nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa cho khối sau đại học của Khoa; Từ năm 2004, bộ môn đảm nhiệm việc giảng dạy các chuyên đề thuộc chuyên ngành Hán Nôm cho khối sau đại học Hán Nôm.

- Xây dựng chương trình Ngữ văn Hán Nôm thuộc các hệ đào tạo cử nhân Sư phạm Ngữ văn và cử nhân Văn học; Xây dựng chương trình Cơ sở văn hoá Việt Nam thuộc các hệ đào tạo cử nhân Sư phạm Ngữ văn và cử nhân Văn học; Xây dựng chương trình Ngữ văn Hán Nôm sau đại học hệ đào tạo Thạc sĩ, Tiến sĩ. .

- Biên soạn nhiều bộ giáo trình phục vụ đào tạo đại học và sau đại học, như: Cổ văn (2 tập), Ngữ văn Hán Nôm (3 tập), Cơ sở văn hoá Việt Nam, Cơ sở Ngữ văn Hán Nôm (4 tập), Văn bản Hán văn Việt Nam, Văn bản Hán văn Trung Hoa... và nhiều tài liệu khác; Biên soạn ngân hàng đề thi các học phần thuộc ngành Ngữ văn Hán Nôm và Cơ sở văn hóa Việt Nam cho các hệ chính quy, tại chức và từ xa.

- Đào tạo trên 25 Tiến sĩ chuyên ngành, chuẩn hoá được 30 Thạc sĩ chuyên ngành, đào tạo trên 100 Thạc sĩ Hán Nôm. Đã cộng tác với Trường ĐHSP Hà Nội II, Trường Đại học KHXH & NV, Trường Quản lí Bộ Giáo dục và Đào tạo, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Viện Nghiên cứu văn hóa, Học viện Khoa học xã hội (thuộc Viện Hàm lâm Khoa học xã hội Việt Nam)... trong việc giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Bộ môn Hán Nôm đã góp phần đào tạo, bổ sung lực lượng cán bộ nghiên cứu và giảng dạy nòng cốt cho nhiều Viện nghiên cứu và trường Đại học, Cao đẳng trong cả nước.

2. Nghiên cứu khoa học

- Tổ chức hàng năm hội nghị khoa học cấp bộ môn, cấp liên bộ môn, cấp toàn quốc. Tiêu biểu như Hội thảo khoa học toàn quốc Nghiên cứu và giảng dạy Ngữ văn Hán Nôm trong nhà trường Đại học và Cao đẳng Sư phạm (2005), Nghiên cứu văn bản thi tuyển chữ Hán Việt Nam (2013)...

- Tham gia các hội nghị, hội thảo khoa học trong nước và quốc tế. (Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc...)

- Tham gia các chương trình nghiên cứu khoa học cấp Trường, cấp Bộ, cấp Quốc gia về Hán Nôm học, di sản văn hoá tư tưởng, về văn học nghệ thuật. Các cán bộ trong tổ đã viết trên 100 cuốn sách, trên 500 bài báo khoa học, đã hoàn thành trên 30 đề tài nghiên cứu khoa học các cấp về Ngữ văn Hán Nôm và văn hoá Việt Nam, văn hoá Phương Đông. 

- Xuất bản giáo trình, các chuyên luận nghiên cứu, sách tham khảo chuyên ngành, kỉ yếu hội thảo khoa học, sách dịch thuật, sách tham khảo cho nhà trường phổ thông… để phục vụ kịp thời cho công tác đào tạo và nghiên cứu. Có thể kể tên các công trình tiêu biểu qua các giai đoạn như sau:

+ Đặng Đức Siêu (1962), Giáo trình Cổ văn (2 tập), NXB Giáo dục, H.

+ Lê Trí Viễn (CB) (1984-1987), Cơ sở Ngữ văn Hán Nôm (4 tập), NXB Giáo dục, H.

+ Đặng Đức Siêu (1982), Chữ viết trong các nền văn hóa, NXB Văn hóa.

+ Đặng Đức Siêu – Nguyễn Ngọc San (1988), Ngữ văn Hán Nôm (Tập 1, Tập 2), NXB Giáo dục, H.

+ Đặng Đức Siêu – Nguyễn Ngọc San (1995), Ngữ văn Hán Nôm (Tập 1, Tập 2), NXB Giáo dục, H.

+ Đặng Đức Siêu (2002), Hành trình văn hóa Việt Nam – giản yếu, NXB Lao động , H.

+ Đặng Đức Siêu – Nguyễn Ngọc San (2003), Ngữ văn Hán Nôm, Tập 1, 2, 3, 4, (Dành cho học viên Ngữ văn hệ đào tạo tại chức và từ xa), NXB Đại học Sư phạm, H.

+ Đặng Đức Siêu (2003), Dạy và học từ Hán Việt ở trường phổ thông, NXB Giáo dục, H.

+ Đặng Đức Siêu (2003), Giáo trình cơ sở văn hoá Việt Nam : Dành cho ngành Ngữ văn hệ đào tạo Tại chức và Từ xa, NXB  Đại học Sư phạm, H.

+ Nguyễn Ngọc San (2002), Tìm hiểu tiếng Việt lịch sử, NXB Từ điển - Bách khoa, H.

+ Nguyễn Ngọc San (2003), Lý thuyết chữ Nôm - văn Nôm, NXB Đại học Sư phạm, H.

+ Phan Hữu Nghệ (2003), Phân tích văn bản một số tác phẩm Hán Nôm tiêu biểu, NXB Đại học Sư phạm, H.

+ Đặng Đức Siêu (2006), Sổ tay văn hóa Việt Nam, NXB Lao động, H.

+ Đặng Đức Siêu (Chủ biên) (2008), Nguyễn Ngọc San, Hà Minh, Dương Tuấn Anh, Hà Đăng Việt, Ngữ văn Hán Nôm – Trọn bộ 3 tập (giáo trình dành cho học viên ngành Ngữ văn, hệ đào tạo ngoài chính quy, NXB Đại học Sư phạm, H.

+ Dương Tuấn Anh (Biên khảo) (2009), Thần thoại Trung Hoa, NXB Giáo dục, 2009.

+ Hà Minh (Chủ biên) (2013), Hán Nôm học trong nhà trường – một số vấn đề nghiên cứu và trao đổi (Kỉ yếu hội thảo), Nxb. Đại học Sư phạm, H., 2013.

+ Hà Minh (Chủ biên) (2013), Nghiên cứu thi tuyển chữ Hán Việt Nam – một số vấn đề về lịch sử, tác giả, văn bản (Kỉ yếu hội thảo),, NXB Đại học Sư phạm, H.

+ Barnard, Alan (Dương Tuấn Anh, Đỗ Thị Thu Hà dịch) (2015), Lịch sử và lý thuyết nhân học, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội, H.2015.

+ Nguyễn Ngọc San, Đặng Đức Siêu, Hà Minh, Nguyễn Thanh Chung, Nguyễn Tú Mai, Hà Đăng Việt (2015), Giáo trình văn bản Hán văn Việt Nam, NXB Giáo dục Việt Nam, H.

+ Nguyễn Thị Thanh Chung (2015), Phương Đình Vạn lý tập của Nguyễn Văn Siêu – văn bản và giá trị thi ca, NXB Giáo dục, H.

+ Dương Tuấn Anh (Đồng biên dịch) (2018), Thần tích tỉnh Hưng Yên (tập 4), NXB Thế Giới, H.

+ Hà Minh (Chủ biên), Dương Tuấn Anh, Nguyễn Thanh Chung, Nguyễn Tú Mai, Phùng Diệu Linh, Nguyễn Thanh Tùng, Hà Đăng Việt (2018), Văn bản tác phẩm Hán Nôm trong nhà trường, NXB Giáo dục Việt Nam, H., 2018.

+ Nguyễn Thị Thanh Chung (2018), Khảo luận hồ sơ tác giả văn học Hán Nôm Việt Nam, NXB Đại học Sư phạm, H.

+ Nguyễn Thị Thanh Chung (2019), Giải nghĩa chữ Hán trong thơ Đường và thơ trung đại Việt Nam, NXB Đại học Sư phạm. H.

+ Phùng Diệu Linh (Đồng tác giả) (2019), Phát triển năng lực trong môn Ngữ văn (Lớp 6, Lớp 7, Lớp 8, Lớp 9), Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, H.

+ Nguyễn Thị Tú Mai (Đồng tác giả) (2020), Người xưa dạy trẻ - Tam tự kinh và giáo dục Ngữ văn ở Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, H.

Hiện nay, đáp ứng chương trình học chế tín chỉ (bắt đầu thực hiện từ K59, khóa học 2009 - 2013), Bộ môn tiếp tục đảm nhiệm các chương trình đào tạo của Khoa, gồm: 

1. Cử nhân: gồm Cử nhân chính quy (4 năm), Cử nhân chất lượng cao (4 năm) Cử nhân tại chức (Vừa làm vừa học), Cử nhân văn bằng hai, Cử nhân từ xa, Cử nhân Lưỡng quốc (Việt - Hàn),..

2. Thạc sĩ: hệ Cao học hệ chính quy (2 năm), 

3. Nghiên cứu sinh: tập trung (4 năm cho Cử nhân, 3 năm cho Thạc sĩ); không tập trung (5 năm cho Cử nhân, 4 năm cho Thạc sĩ). 

Đến đầu thế kỉ 21 này, các môn học Ngữ văn Hán Nôm và Cơ sở văn hoá Việt Nam đã có được vị trí quan trọng trong chương trình đào tạo giáo viên Ngữ văn trong các trường Cao đẳng và Đại học Sư phạm của cả nước. Với những thành tựu như trên, Bộ môn đã góp phần khẳng định trò không thể thiếu của môn học đối với những người giảng dạy, học tập và nghiên cứu các ngành thuộc khoa học xã hội.

III. Định hướng nghiên cứu khoa học và hướng phát triển chuyên ngành:

Điểm nổi bật của Bộ môn là tinh thần đoàn kết, ý chí phấn đấu vươn lên, không ngừng nỗ lực tự hoàn thiện về mọi mặt. Truyền thống đoàn kết và truyền thống tự lực là hai giá trị cơ bản đã được tạo dựng trao truyền gìn giữ từ thế hệ đầu tiên đến các thế hệ tiếp theo. Tiếp nối những thành tựu đó, Bộ môn xác định hướng nghiên cứu khoa học và phát triển chuyên ngành như sau:

- Định hướng phát triển nghiên cứu chuyên sâu về Hán Nôm học, Văn hóa học ở các hướng tiếp nhận như văn bản học, văn tự học, nhân học... Đồng thời, phát triển hướng nghiên cứu liên ngành Hán Nôm, Văn học, Văn hóa, Lịch sử, Ngôn ngữ…

- Định hướng nghiên cứu chuyên sâu về khoa học cơ bản gắn với giáo dục phổ thông. Hướng nghiên cứu này nhằm giúp cho các sinh viên sau khi tốt nghiệp có thể vận dụng được những tri thức Hán Nôm, hướng tiếp cận và vận dụng tri thức chuyên ngành Văn hóa trong dạy học Ngữ văn tại nhà trường phổ thông. 

- Định hướng xây dựng và phát triển nhóm nghiên cứu mạnh về Hán Nôm, Văn hóa với những đặc thù trong nghiên cứu và giảng dạy. Những thành viên trong các nhóm nghiên cứu đồng thời kết hợp, hỗ trợ nhau trong nghiên cứu và giảng dạy. 

*

Hình ảnh một số công trình tiêu biểu do Bộ môn và các thành viên chủ trì:

 

Ngữ văn Hán Nôm trang 1 tải miễn phí từ tailieuXANH

 

Ngữ văn Hán Nôm - Tập 1

F:\Đăng kí Nafoted\5. Bài khoa học nộp sản phẩm\tải xuống.jpg


 
 
 

F:\Đăng kí Nafoted\Danh mục tạp chí tính điểm chức danh\tải xuống (1).jpg


 
 

F:\Đăng kí Nafoted\Danh mục tạp chí tính điểm chức danh\tải xuống (2).jpg

 

F:\Đăng kí Nafoted\Danh mục tạp chí tính điểm chức danh\tải xuống.jpg

 

C:\Users\Dell 5460\Downloads\image0 (10).jpeg

Sách - Văn bản tác phẩm Hán Nôm trong nhà trường giá cạnh tranh

 

C:\Users\Dell 5460\Downloads\image2 (4).jpeg

 

C:\Users\Dell 5460\Downloads\image3 (2).jpeg

 

Danh sách cán bộ của bộ môn hiện đang công tác:

STT

Họ và tên

Chức vụ

Ghi chú

1.    

PGS.TS. Dương Tuấn Anh

- Phó Trưởng Khoa, Chủ tịch Công đoàn  Khoa, Bí thư Chi bộ Ngữ văn 3.

- Nguyên Phó Trưởng Khoa Việt Nam học

 

2.    

PGS.TS. Nguyễn Thị Thanh Chung

- Trưởng Bộ môn

- Nguyên: Phó Trưởng Bộ môn (2010 - 2020); Bí thư Chi đoàn Cán bộ

 

3.    

NCS. Đỗ Thu Hà

- Nguyên Bí thư Chi đoàn Cán bộ

 

4.    

GVC.TS. Phùng Diệu Linh

- Nguyên Bí thư Chi đoàn Cán bộ

 

5.    

TS. Nguyễn Thị Tú Mai

- Nguyên: Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Giảng dạy Hán Nôm - ĐHSPHN (2017-2018); Bí thư Chi đoàn Cán bộ

 

6.    

PGS.TS. Hà Văn Minh

- Phó Bí thư Đảng ủy Khoa; Phó Trưởng Khoa; Ủy viên Hội đồng biên tập Tạp chí Hán Nôm.

- Nguyên: Trưởng Bộ môn (2008 - 2017); Phó Trưởng Bộ môn (2004 - 2008); Giám độc Trung tâm Nghiên cứu và Giảng dạy Hán Nôm - ĐHSPHN (2008 – 2018); Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Giảng dạy Hán Nôm - ĐHSPHN (2004 - 2008); Bí thư Chi bộ Ngôn ngữ - Hán Nôm (2012 - 2017); Bí thư Đoàn Thanh niên (1998 - 2001); Bí thư Chi đoàn Cán bộ (1998 - 2001)

 

Danh sách cán bộ của Bộ môn qua các thời kì:

STT

Họ và tên

Chức vụ, Giải thưởng, Cơ quan chuyển công tác trước khi nghỉ hưu…

Ghi chú

1    

GS.NGND. Lê Trí Viễn

Nguyên: Trưởng Khoa; Bí thư Đảng ủy  Khoa; Trưởng Bộ môn; Giảng viên Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh

Mất năm 2012

2    

Nhà giáo Phạm Thị Hảo

Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh

Mất năm 2012

3    

GS.TS.NGND. Nguyễn Ngọc San

Nguyên Trưởng Bộ môn, Phó Trưởng Bộ môn; Giải thưởng Nhà nước

Hưu trí

4    

PGS.NGUT. Đặng Đức Siêu

Nguyên: Trưởng Bộ môn; Phó Trưởng Bộ môn Văn hóa học (ĐHQG Hà Nội); Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Giảng dạy Hán Nôm - ĐHSPHN 

Mất năm 2008

5    

Nhà giáo Phan Hữu Nghệ

 

Hưu trí

6   

Nhà giáo Nguyễn Văn Thiệu

 

Hưu trí

7   

Nhà giáo Phạm Anh Tuấn

 

Hưu trí

8    

Nhà giáo Trần Phương Thi

 

Hưu trí

9    

Nhà giáo Kiều Lục

 

Hưu trí

10  

Nhà giáo Huỳnh Văn Trứ

 

Hưu trí

11 

Nhà giáo Lê Văn Sơn

 

Hưu trí

12  

Nhà giáo Lê Tiến Sơn

 

Hưu trí

13

Nhà giáo Đoàn Thị Mai

Nguyên: Phó Chủ tịch Công đoàn; Bí thư Chi bộ

Hưu trí

14   

Nhà giáo Phạm Văn Liệu

Giáo viên Ngữ văn, Ninh Bình

Hưu trí

15

Nhà giáo Bùi Thanh Hùng

Nguyên Trưởng Bộ môn

Hưu trí

16

Nhà giáo Phạm Thuý Nghi

 

Hưu trí

17

Nhà giáo Lê Thanh Bình

 

Hưu trí

18

Nhà giáo Vương Mộng Bưu

 

Hưu trí

19

NCS. Vũ Huy Vĩ

Giảng viên Đại học Thủy Lợi

Giảng viên Khoa Ngữ văn - ĐHSPHN (2010 – 2015)

20

ThS. Lê Tùng Lâm

Cán bộ nghiên cứu ĐHQG Hà Nội

Giảng viên Khoa Ngữ văn - ĐHSPHN (2013 - 2016)







 

PGS.NGƯT. Đặng Đức Siêu

PGS Đặng Đức Siêu 

(1934-2008, nguyên quán Hành Thiện, Xuân Trường, Nam Định)

  • Thầy thuộc thế hệ đầu tiên của nhóm Cổ văn (tiền thân bộ môn Hán Nôm, sau là bộ môn Hán Nôm – Cơ sở văn hóa Việt Nam), giữ cương vị Trưởng bộ môn từ năm 1978 đến 2004. Thầy là người có công mở mã ngành đào tạo Tiến sĩ chuyên ngành Hán Nôm đầu tiên trên cả nước tại Khoa Ngữ văn từ năm 1976.

  • Thầy là người tiên phong của Khoa Ngữ văn trường ĐHSPHN trong việc nghiên cứu và giảng dạy môn Cơ sở văn hóa Việt Nam. Năm 1992, thầy được Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo giao kiêm nhiệm Giám đốc Trung tâm Ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam mới thành lập. Năm 1996, thầy cùng các nhà nghiên cứu danh tiếng Trần Quốc Vượng, Trần Ngọc Thêm… triển khai đưa môn Cơ sở văn hóa Việt Nam vào dạy học trong các trường Đại học và Cao đẳng.

  • Thầy được phong danh hiệu Nhà giáo ưu tú năm 1997, tặng Huân chương Lao động hạng Ba năm 2001.

  • Một số công trình nghiên cứu: Giáo trình cổ văn (1970), Sổ tay văn hoá Việt Nam (1978), Chữ viết trong các nền văn hoá (1982), Thực hành ngữ văn Hán Nôm (1990), Việt Nam di tích và thắng cảnh (1991), Ngữ văn Hán Nôm (1995), Tổng tập văn học Việt Nam (tập 14, 1997), Ngữ liệu văn học (1998), Dạy và học từ Hán Việt ở trường phổ thông (2001), Hành trình văn hoá Việt Nam: Giản yếu (2002), Giáo trình cơ sở văn hoá Việt Nam (2003), Văn hoá cổ truyền phương Đông: Trung Quốc (2004), Văn hoá Trung Hoa: Giản yếu (2005), Giáo trình ngữ văn Hán Nôm (2007),  Tinh hoa văn hoá Phương Đông: Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản (2007)….

 

GS.TS.NGND. NGUYỄN NGỌC SAN

 

Sinh năm 1935, nguyên quán: Áng Sơn - Quán Vinh - Gia Khánh - Ninh Bình, nay là thôn Áng Sơn, xã Ninh Hoà, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.

Sau khi được đào tạo từ Trung Quốc về, GS. Nguyễn Ngọc San được bổ sung vào đội ngũ các thầy cô thuộc thế hệ đầu tiên của Trường Đại học Sư phạm Văn học. Thầy cũng là một trong những thành viên đầu tiên của nhóm Cổ văn, tiền thân của bộ môn Hán Nôm - Khoa Ngữ Văn, Đại học Sư phạm Hà Nội hiện nay.

GS. Nguyễn Ngọc San có toàn thời gian làm việc tại khoa Ngữ Văn - Đại học Sư phạm Hà Nội từ thời kì đầu. Cùng với PGS. Đặng Đức Siêu và một số  thầy cô khác, Giáo sư đã xây dựng và phát triển ngành Hán Nôm trở thành một chuyên ngành độc lập, có vị trí đặc biệt quan trọng trong khoa học ngữ văn. Giáo sư đã tham gia đào tạo nhiều thế hệ từ Đại học đến Tiến sĩ, và tham gia giảng dạy tại nước ngoài.

Trong nghiên cứu khoa học, GS. Nguyễn Ngọc San là người mở ra một (trong hai) hướng đi chính của lĩnh vực nghiên cứu chữ Nôm và tiếng Việt lịch sử. Ông kiện toàn được phương pháp nghiên cứu chữ Nôm trên cở sở dựa vào ngữ âm; xây dựng được hệ thống cứ liệu nền tảng của tiếng Việt cổ, góp phần hoàn thiện phương pháp nghiên cứu tiếng Việt lịch sử, và là nhà khoa học có công trình nghiên cứu đầu tiên về tiếng Việt lịch sử ở Việt Nam.

GS. Nguyễn Ngọc San là tác giả, dịch giả, soạn giả của nhiều công trình khoa học. Các công trình chính: Cơ sở ngữ văn Hán Nôm (1984 - 1987), Ngữ văn Hán Nôm (1987 - 1989), Tìm hiểu tiếng Việt lịch sử (1993), Lý thuyết chữ Nôm văn Nôm (2003), Từ điển từ Việt cổ (2001), Giáo trình Ngữ văn Hán Nôm (2007 - 2009), Từ điển giải thích điển cố văn học (2010)…

GS. Nguyễn Ngọc San được phong danh hiệu Nhà giáo nhân dân (2010), Giải thưởng Nhà nước (2012) với cụm công trình Nghiên cứu chữ Nôm và tiếng Việt cổ. Trong quá trình cống hiến, ông đã được Nhà nước và nước bạn Campuchia trao tặng nhiều Huân chương, Huy chương, Bằng khen.

ẢNH TẬP THỂ

(Ảnh 1: Ảnh chụp các thầy cô: Cô Trần Phương Thi, Cô Đoàn Thị Mai, Cô Phạm Thị Hảo, Cô Lê Thanh Bình, Thầy Lê Tiến Sơn, Thầy Phan Hữu Nghệ, Thầy Phạm Anh Tuấn, Thầy Đặng Đức Siêu, Thầy Phạm Văn Liệu)

(Ảnh 2: Các cán bộ đương nhiệm và thầy cô du xuân - Xuân Bính Thân 2016)

(Ảnh 3: Thầy cô dẫn sinh viên đi thực tế Miền Trung - ảnh chụp tại thành cổ Quảng Trị)

(Ảnh 4: Thầy cô chào mừng ngày nhà giáo Việt Nam)


 

C:\Users\Dell 5460\Downloads\image0 (11).jpeg

(Ảnh 5: Buổi bảo vệ luận án của TS. Phùng Diệu Linh)



 

ẢNH CHÂN DUNG CÁN BỘ ĐƯƠNG NHIỆM

PGS.TS. Dương Tuấn Anh

C:\Users\Dell 5460\Downloads\Ảnh Đỗ Hà_2.jpg

NCS. Đỗ Thị Thu Hà

TS. Nguyễn Thị Tú Mai

C:\Users\Dell 5460\Downloads\IMG_2010.jpg

 

TS. Phùng Diệu Linh

http://etep.vinhuni.edu.vn/data/128/upload/1/images/2018/06/ha_van_minh.jpg

PGS.TS. Hà Văn Minh

PGS.TS. Nguyễn Thị Thanh Chung




 

BỘ MÔN LÝ LUẬN VĂN HỌC

 

I. HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ

1. Giai đoạn mới hình thành và củng cố đội ngũ (1958-1980): Từ Bộ môn Lý luận văn học - Văn học nước ngoài cùng chung với Đại học Bộ mônng hợp tách riêng thành Bộ môn Lý luận văn học ĐHSP Hà Nội vào năm 1958. Trong thời gian này, các thầy làm Trưởng môn gồm có thầy Nguyễn Lương Ngọc,  thầy Trần Văn Bính,  thầy Nguyễn Văn Hạnh. Các thầy từng làm việc ở Bộ môn trong thời gian này gồm có thầy: Nguyễn Lương Ngọc, Nguyễn Văn Hoàn, Thành Thế Thái Bình, Hồ Văn Nho, Bùi Văn Ba, Nguyễn Nghĩa Trọng, Phùng Quí Nhâm, Lâm Quang Vinh,  Lê Ngọc Trà,  Nguyễn Xuân Nam,  Phạm Đăng Dư,  Nguyễn Thị Mĩ Hòa, Nguyễn Xuân Hậu, Phùng Ngọc Kiếm. Các cô từng làm việc tại Bộ môn gồm có cô Nguyễn Kim Phong,  Lê Lưu Oanh, Hoàng Thị Văn. Thời gian từ 1975 đến 1980 là giai đoạn nhiều khó khăn về kinh tế, chiến tranh biên giới, mở hệ đào tạo Sau Đại học, cán bộ đi công tác ở miền Nam và đi học ở nước ngoài…

 2. Giai đoạn phát triển (1981-nay): Từ năm 1980 – 1990, nhân sự của Bộ môn cũng có nhiều biến động. Thầy Trần Văn Bính chuyển đến Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, thầy Thành Thế Thái Bình chuyển công tác về Khoa văn ĐHSP Hà Nội II, thầy Nguyễn Văn Hậu về hưu. Thầy Trần Đình Sử về Bộ môn năm 1981, thầy La Khắc Hòa về Bộ môn năm 1983, thầy Trần Mạnh Tiến về Bộ môn năm 1997. Thầy Bùi Văn Ba là Trưởng môn từ năm 1981đến năm 2001. GS.TS Trần Đình Sử làm Trưởng môn từ năm 2000 đến năm 2003. PGS Nguyễn Xuân Nam về hưu năm 2003, thầy Phạm Đăng Dư về hưu năm 2004; PGS.TSKH. Nguyễn Nghĩa Trọng về hưu năm 2006. PGS.TS La Khắc Hòa làm Trưởng môn từ năm 2004 đến năm 2007; PGS.TS Lê Lưu Oanh làm Trưởng môn từ năm 2007 đến năm 2012; PGS.TS Trần Mạnh Tiến làm Trưởng môn từ năm 2013 – 2017. TS. Đỗ Văn Hiểu làm Trưởng môn từ tháng 7 năm 2017.

            Ngay từ khi thành lập, Bộ môn Lý luận văn học luôi coi trọng phát triển đội ngũ, liên tục động viên các giảng viên đi học ở nước ngoài và trong nước. Từng tu nghiệp tại nước ngoài có GS.TSKH Bùi Văn Ba, PGS.TSKH Nguyễn Nghĩa Trọng, GS.TS Trần Đình Sử, PGS.TS La Khắc Hòa, TS. Đỗ Văn Hiểu.  Bộ môn có 02 tiến sĩ khoa học PGS.TSKH Nguyễn Nghĩa Trọng bảo vệ TSKH ở Liên xô, GS.TSKH. Bùi Văn Ba bảo vệ TSKH ở trong nước. Tỷ lệ cán bộ có học hàm học vị cao ở trong khoa. Về học hàm PGS: Nguyễn Xuân Nam (1984), Bùi Văn Ba (bút danh Phương Lựu) (1984), La Khắc Hòa (bút danh Lã Nguyên) (1991), Nguyễn Nghĩa Trọng (1996), Lê Lưu Oanh (2002), Phùng Ngọc Kiếm (2003), Trần Mạnh Tiến (2005), Lê Trà My (2017). Về học hàm giáo sư có thầy Bùi Văn Ba (1991), thầy Trần Đình Sử (1996). Bộ môn coi trọng trau dồi chuyên môn, ngoại ngữ, nhiều giảng viên biết sử dụng tốt từ 1-2 ngoại ngữ.

         Từ 2001 cho đến nay Bộ môn tiếp tục bổ sung thêm 6 cán bộ gồm Nguyễn Thị Hải Phương, Trần Ngọc Hiếu, Đỗ Văn Hiểu, Lê Trà My, Nguyễn Ngọc Minh, Lộ Đức Anh. Cô Lê Trà My chuyển từ ĐHSP Hà Nội II về (2004), còn 5 cán bộ đều là sinh viên của khoa được giữ lại làm cán bộ giảng, trong đó Nguyễn Thị Hải Phương, Trần Ngọc Hiếu, Đỗ Văn Hiểu, Nguyễn Ngọc Minh đều là sinh viên lớp Chất lượng cao của khoa. PGS.TS Phùng Ngọc Kiếm về hưu từ 3- 2018; PGS.TS Lê Lưu Oanh về hưu từ 10-2018, ThS. Lộ Đức Anh xin chuyển công tác từ tháng 3-2019.

       Tính đến 2021, cán bộ đương nhiệm của bộ môn có: 02 PGS (Trần Mạnh Tiến, Lê Trà My, 02 tiến sĩ, giảng viên chính (Nguyễn Thị Hải Phương, Đỗ Văn Hiểu), 02 Tiến sĩ, giảng viên (Trần Ngọc Hiếu, Nguyễn Thị Ngọc Minh)

     II. HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO

       Bộ môn Lí luận văn học tham gia đào tạo ở cả hệ đại học, và sau đại học.

1. Đào tạo hệ đại học: Kể từ khi có hệ đào tạo chính qui 4 năm, Bộ môn Lý luận văn học đã đưa vào các chương trình mới: Mác Ăng ghen, Lê nin về văn học nghệ thuật, Đường lối văn nghệ của Đảng, Nguyên lý tính dân tộc trong văn học, Văn học và các loại hình nghệ thuật khác, Phương pháp luận nghiên cứu văn học…  Ngay sau ngày giải phóng miền Nam các giảng viên trong Bộ môn đã tham gia giảng dạy ở các trường Đại học, các trung tâm đào tạo lớn ở miền Nam như Sài Gòn, Hà Nội, Cần Thơ và nước bạn như Lào, Campuchia. Hiện nay, cán bộ trong bộ môn đảm nhiệm giảng dạy các học phần và chuyên đề dành cho hệ đại học như: Văn học, nhà văn, bạn đọc; Tác phẩm và thể loại; Tiến trình văn học; Văn học và các loại hình nghệ thuật; Lý thuyết phê bình văn học; Nghiệp vụ nghiên cứu và viết bài báo khoa học

2. Đào tạo hệ sau đại học: Gần 20 năm trở lại đây Bộ môn lại tiếp tục bổ sung các chuyên đề mới: Các trường phái lí luận phê bình phương Tây hiện đại, Ký hiệu học, Chủ nghĩa hậu hiện đại, Chủ nghĩa nữ quyền sinh thái, Chuyển thể văn học, Thi pháp thơ Tố Hữu, Lý luận phê bình văn học đầu thế kỷ XX… Các chuyên đề thạc sĩ, tiến sĩ thường xuyên bổ sung, đổi mới. Hiện nay, Bộ môn phụ trách những chuyên đề cao học sau: Thi pháp học, Phương pháp luận nghiên cứu văn học, Tiếp nhận văn học, Những vấn đề cơ bản của thể loại văn học, Những vấn đề lí luận văn học đương đại, Lí luận phê bình văn học hiện đại ở Việt Nam, Tự sự học, Phê bình sinh thái, Thi học cổ điển phương Đông (Trung Quốc và Việt Nam). Chuyên đề tiến sĩ đang được bộ môn triển khai gồm: Từ văn học hiện đại đến hậu hiện đại - lý thuyết và lịch sử; Một số vấn đề lí thuyết nghiên cứu văn bản văn học; Một số vấn đề lí thuyết văn học và mỹ học đương đại (qua công trình của một số tác gia quan trọng); Thi học văn hóa – Một số vấn đề lí luận và thực tiễn. Các giảng viên đã tham gia giảng dạy các chuyên đề mới và tham gia đánh giá luận văn luận án ở các trường Đại học, viện nghiên cứu trong nước… và tham gia giảng dạy ở nước ngoài. Tính từ năm 1976 đến nay Bộ môn Lý luận văn học đã đào tạo tới gần 500 Thạc sĩ, gần 70 Tiến sĩ trong và ngoài trường và nước bạn Lào, Campuchia…

Về công tác bn soạn giáo trình, chương trình, sách chuyên khảo, tham khảo: Từ 1970 trở về trước các giáo trình ở bậc đại học chủ yếu dựa vào giáo trình Lý luận văn học của Liên xô và một phần của Trung Quốc. Đầu 1980 Bộ giáo dục thành lập Hội đồng Ngữ văn để chủ động xây dựng chương trình mới trong đó có Lí luận văn học theo hướng dân tộc và hiện đại. Cuối những năm 50 Bộ môn bộ môn Lí luận văn học mới thành lập, thầy Nguyễn Lương Ngọc chủ biên cùng thầy Nguyễn Văn Hoàn, Trần văn Bính biên soạn bộ giáo trình đầu tiên lấy tên là Nguyên lí lí luận văn học, gồm 3 tập (1960-1963). Thầy Nguyễn Lương Ngọc chủ biên cùng các tác giả Nguyễn Văn Hạnh, Trần Văn Bính, Nguyễn Xuân Nam phối hợp với Đại học Bộ mônng hợp biên soạn bộ Cơ sở lí luận văn học (4 tập - nhà xuất bản Giáo dục 1965) . Đầu năm 1970, Hội đồng của Bộ Đại học được thành lập và có chủ trương ĐHSP Hà Nội kết hợp với ĐHSP Vinh viết bộ giáo trình Cơ sở lí luận văn học 3 tập (NXB. ĐH và Trung học chuyên nghiệp 1975-1983), về phía ĐHSP Hà Nội có thầy Nguyễn Lương Ngọc chủ biên cùng các tác giả Nguyễn Văn Hạnh, Phương Lựu (Bùi Văn Ba). Đầu năm 1980 trên cơ sở chương trình lí luận văn học theo hướng dân tộc hiện đại nói trên, Bộ giáo dục chủ trương một số trường đại học trong nước viết chung Bộ giáo trình Lí luận văn học tập 3 (Nhà xuất bản Giáo dục, 1986-1988) do ĐHSPHN làm nòng cốt. Thầy Phương Lựu làm chủ biên cùng các thầy Trần Đình Sử, Nguyễn Xuân Nam, La Khắc Hòa. Bộ giáo trình này đã được Hội đồng thẩm định sách của Bộ Giáo dục và Đào tạo giới thiệu làm sách chung cho các trường Đại học và 10 năm sau được tái bản lại. Năm 1997 và 2001, Bộ môn đã tham gia biên soạn 2 bộ Giáo trình Lí luận văn học cho hệ Từ xa và Tại chức cử nhân Tiểu học và cử nhân văn học với các tác giả Trần Đình Sử Nguyễn Nghĩa Trọng, Phạm Đăng Dư, Trần Mạn Tiến, Lê Lưu Oanh, Phùng Ngọc Kiếm. Năm 2003 và 2005 Bộ môn đã cho ra mắt tập 1, tập 3 bộ giáo trình Lí luận văn học (GS. Phương Lựu chủ biên) cho hệ cử nhân sư phạm Ngữ Văn chính quy. Năm 2005 Bộ giáo trình Lí luận văn học dành cho hệ cao đẳng do GS. Trần Đình Sử chủ biên được xuất bản. Từ 2002 GS.TS. Trần Đình Sử được cử làm Bộ mônng chủ biên sách Ngữ văn Phổ thông.

III. NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Bên cạnh các Hội thảo khoa học trong và ngoài nước, các sinh hoạt tọa đàm văn học; các chuyên luận trong Bộ môn đã liên tục được xuất bản. Từ cuối những năm 1980, Bộ môn luôn quan tâm đến các vấn đề lí luận hiện đại của thế giới qua chuyển dịch, giới thiệu. Các công trình Văn học so sánh, Thi pháp học, Tự sự học đã được xuất bản. Tính đến nay các thành viên trong Bộ môn bộ môn đã viết hơn 50 sách chuyên luận, 120 đầu sách hợp tác (1/2 là sách phổ thông), công bố khoảng hơn 600 bài báo khoa học, dịch thuật hơn 20 công trình, công bố hơn 20 bài báo quốc tế. Bộ môn là nòng cốt Bộ môn chức các Hội nghị Khoa học cấp Quốc gia như Tự sự học (2001), Văn học so sánh (2004); Lý luận văn học thế giới với Việt Nam (đề tài cấp nhà nước 2006- 2009); Thi học cổ điển Trung Hoa (2015)…. Năm 2015 Nhà xuất bản Giáo dục cho ra mắt bạn đọc Tuyển tập Trần Đình SửTuyển tập Phương Lựu… Các luận án của 5 giảng viên trên được bổ sung xuất bản thành các cuốn chuyên khảo, giáo trình, như: Lê Lưu Oanh với luận án: Thơ trữ tình 1975-1990 (Bảo vệ 1995); Phùng Ngọc Kiếm: Con người trong truyện ngắn 1945-1975 (Bảo vệ 1996); Trần Mạnh tiến: Lý luận phê bình văn học Việt Nam 30 năm đầu thế kỷ XX (Bảo vệ 1997); Nguyễn Thị Hải Phương: Tiểu thuyết Việt Nam đương đại - nhìn từ góc độ diễn ngôn (bảo vệ 2012); Nguyễn Thị Ngọc Minh – Kí như một loại hình diễn ngôn (Bảo vệ 2013).

 IV. CÔNG TÁC XÃ HỘI

     1. Hoạt động của các cán bộ trong bộ môn: Trong chiến tranh chống Mĩ đại bộ phận cán bộ đều đi sơ tán, các giảng viên phải vừa giảng dạy vừa nghiên cứu vừa tham gia chiến đấu. Các cán bộ đều tham gia tự vệ như thầy Nguyễn Văn Hạnh, cô Nguyễn Kim Phong. Thầy Thành Thế Thái Bình làm chính trị viên. Thầy Bùi Văn Ba làm trung đội trưởng. Trong chiến tranh phá hoại, các thầy Bùi Văn Ba, Thành Thế Thái Bình phải tham gia trực chiến trong khẩu đội 12 ly 7 đặt trên gò đất sau nhà A7 góp phận bắn rơi chếc F4 ngày 7/8/1972. Trong chiến tranh biên giới thầy Phạm Đăng Dư, thầy Phùng Ngọc Kiếm cùng đội xung kích lên Lạng Sơn, Bộ môn cùng trung đoàn ĐHSP xây dựng phòng tuyến Sông Cầu.

       2. Công tác cấp khoa: Chủ nhiệm khoa (thầy Nguyễn Lương Ngọc, 1958-1963), thầy Trần Đình Sử, 1990 – 1995); Bí thư Đảng ủy khoa (thầy Thành Thế Thái Bình, 1978-1982); thầy Nguyễn Nghĩa Trọng,1981-1983); thầy Nguyễn Xuân Hậu,1983-1990); thầy Phạm Đăng Dư, 1986-1985); thầy Phùng Ngọc Kiếm, 2004-2006); Phó chủ nhiệm khoa (thầy Nguyễn Văn Hạnh, 1966-1975); thầy Nguyễn Nghĩa Trọng, 1980-1983); thầy Phùng Ngọc Kiếm (2004-2006); chủ tịch công đoàn (thầy Thành Thế Thái Bình, 1973-1975); chủ tịch công đoàn khoa (thầy Trần Mạnh Tiến, 2002-2005); Bí thư đoàn khoa (thầy Thành Thế Thái Bình (1962-1964); thầy Nguyễn Nghĩa Trọng (1967-1968); thầy Phạm Đăng Dư (1968-1977); thầy Phùng Ngọc Kiếm (1979-1984)…

        3. Công tác cấp trường: Hiệu trưởng (thầy Nguyễn Lương Ngọc, 1970-1975); Bí thư đoàn Trường (thầy Phạm Đăng Dư,1978-1982); Giám đốc Trung tâm Trung Quốc học (thầy Bùi Văn Ba); Phó giám đốc trung tâm Trung Quốc học (thầy Trần Đình Sử, 1999 – 2010); Thường vụ công đoàn Trường (thầy Trần Mạnh Tiến, 2004-2006); trưởng phòng Sau đại học (thầy Phùng Ngọc kiếm, 2007-2013).

        4. Công tác cấp Đại học Quốc gia Hà Nội: Hội đồng khoa học (thầy Trần Đình Sử, Bùi Văn Ba); Phó giám đốc Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội (thầy La Khắc Hòa); Phụ trách tờ tin ĐHSP Hà Nội (thầy Phùng Ngọc Kiếm)

          5. Công tác cấp Bộ Giáo dục và đào tạo:  Ủy viên Thường trực Bộ môn Ngữ văn bậc đại học, Ủy viên Hội đồng Ngữ văn Trung học, Ủy viên Hội đồng chức danh giáo sư ngành Văn học (1990-2010): thầy Trần Đình Sử.

         6. Hoạt động tại các Bộ môn chức khác:  Ủy viên Hội đồng Lí luận phê bình văn học nghệ thuật Trung ương (thầy Bùi Văn Ba (Khóa IV); Trần Đình Sử (Khóa V,VI), thầy Trần Mạnh Tiến (2016-2021); Ủy viên Hội đồng Nho học Quốc tế (thầy Bùi Văn Ba); Hội viên hội nhà văn Việt Nam (thầy Nguyễn Xuân Nam, Bùi Văn Bam, Trần Đình Sử, Trần Mạnh Tiến), Hội viên Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam (thầy Trần Mạnh Tiến).

V. Khen thưởng

           1. Cấp Bộ: Năm 1995, GSTSKH Bùi Văn Ba (Phương Lựu) được Bộ khen thưởng về đề tài cấp Bộ: Lý luận hiện đại phương Tây. Năm 1998, GS.TS Trần Đình Sử được Bộ khen về công tác chủ biên sách văn Phổ thông.

           2. Giải thưởng Hội Nhà văn: Năm 1995, GS.TSKH Phương Lựu được giải thưởng cuốn Trên đà đổi mới văn nghệ. Năm 1998, GSTS Trần Đình Sử được giải Lí luận phê bình văn học về cuốn Lý luận phê bình văn học. Giải thưởng của Hội nhà văn Hà Nội (thầy Trần Đình Sử, 2015)

        3. Giải thưởng nhà nước năm 2000

       GSTSKH Bùi Văn Ba (Phương Lựu) được giải về cụm công trình Lý luận văn học dân tộc- hiện đại. GS.TS Trần Đình Sử được giải thưởng về cụm công trình Thi pháp học.

          4. Giải thưởng Nhà nước 2001: GS.TSKH Bùi Văn Ba

          5. Giải thưởng Hồ Chí Minh:  GS.TSKH Bùi Văn Ba

           6. Nhà giáo nhân dân: GS.TSKH. Bùi Văn Ba; GS.TS. Trần Đình Sử

           7. Giải thưởng cấp tỉnh, cấp Trường: Giải nhì Nghiên cứu chùm di sản văn hóa cấp tỉnh (thầy Trần Mạnh Tiến, 2008). Giải nhì cấp trường giải thưởng Giảng viên có thành tích xuất sắc trong Nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ (thầy Trần Mạnh Tiến, 2010). Giải ba công trình Nguồn xưa xứ lâm tuyền (thầy Trần Mạnh Tiến, 2016)

             8. Các khen thưởng khác: Bộ môn LĐXHCN 12 năm: Bằng Khen thủ tướng chính phủ cho Bộ môn Tiên tiến xuất sắc; Huân chương lao động hạng 3 (Nguyễn Xuân Nam, Bùi Văn Ba, Trần Đình Sử). Nhà giáo Nhân dân: Bùi Văn Ba, Trần Đình Sử; Nhà giáo Ưu tú (Nguyễn Xuân Nam, Nguyễn Nghĩa Trọng, Lê Lưu Oanh…). Huân chương hạng Nhất (Nguyễn Nghĩa Trọng, Phạm Đăng Dư); Huân chương Kháng chiến hạng Nhất (Nguyễn Xuân Nam), Huân chương kháng chiến chống Mĩ hạng Nhì, hạng Ba (Nguyễn Nghĩa Trọng, Bùi Văn Ba, Trần Đình Sử). Bằng khen của Bộ giáo dục và đào tạo; Huy chương vì thế hệ trẻ của TW Đoàn (1982); Huy chương vì sự nghiệp phát triển Thể dục thể thao Nhà nước (Phạm Đăng Dư, 2000); Huy chương chiến sĩ vẻ vang (Phùng Ngọc Kiếm); Bằng khen Bộ Giáo dục (Trần Mạnh Tiến, Lê Lưu Oanh…)

 

              Gần 60 năm thành lập, Bộ môn Lý luận văn học khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã có một quá trình phát triển ngày một qui mô và hoàn thiện. Ở giai đoạn nào cũng có các cán bộ giỏi về chuyên môn có ảnh hưởng quan trọng đến hệ thống lí luận phê bình trong đào tạo và văn hóa xã hội. 

Một số hình ảnh tập thể của bộ môn: